– Cô Kim Hương! Cô Kim Hương! 

Ánh sáng đột ngột phủ trên mí mắt cộng thêm tiếng gọi giật giọng làm tôi không kiềm được nhăn nhó mặt mày. Cơn ngái ngủ vẫn ám đến dại cả người, tôi ghìm cảm giác khó chịu, đờ đờ đẫn đẫn tỉnh dậy. 

Trăm ngày như cả trăm, đập vào mắt là hàng xà gỗ dài sáu người khiêng mới xuể, chạy dọc mái nhà được xếp đều chằn chặn. Nhìn quanh vẫn đây cái sập gụ phủ nệm lông ngỗng, kia cái tủ gỗ bốn buồng khắc hình tùng cúc trúc mai. Nhà còn chưa sập, cớ gì con mắm Mai cứ ông ổng lên thế hả giời? 

Sau lớp màn trướng, chỉ thấy bóng dáng gầy gầy của đứa hầu gái búi tóc hai chỏm đang cặm cụi dọn dẹp từ Đông sang Tây. 

– Cô ơi, cô còn không dậy thì ông bà quở con chết mất thôi! 

Cái Mai làu bàu trong khi vớ lấy chiếc chổi xể để trong góc nhà. 

– Con đã bưng nước sẵn, chỉ chờ cô dậy để hầu rửa mặt rửa mũi. Nay là tiệc đãi nguyệt, con đã thưa với cô từ hôm qua mà cô cứ đủng đỉnh mãi, sắp sang giờ Mão (1) rồi chứ có sớm sủa gì đâu.

À, ra là cái “tiệc đãi nguyệt” nhân rằm hàng tháng đây mà. 

Tôi ngao ngán ngáp dài một hơi. Xem ra lần này không thể lại viện cớ ốm đau như hai bữa trước. Thân là ái nữ của gia chủ, thầy u làm sao để tôi vắng mặt liên tiếp thế được. Lại nói về bữa tiệc này, người ta cứ gọi cho sang mồm “đãi nguyệt” chứ ai cũng hiểu ngầm với nhau đây chỉ là cái cớ để thầy tôi vời các quan khách gần xa tới chén chú chén anh mà thôi.

– Này nhé, cô còn không dậy nữa con mách ông bà đấy! – Cái Mai chống nạnh đành hanh sẵng giọng đứng trước sập gụ.

Cái vía tôi vốn sợ thầy u một phép nên vừa nhắc tới thôi mà người ngợm đã giật mình thon thót, đang nằm dài trên sập cũng vội vã bật dậy bước xuống giường ngay. Nhưng gượm đã, sao tôi lại phải sợ thế nhỉ? Tôi híp mắt nhìn cái Mai đứng ngoài trướng, đang bụm miệng cười.

Á à, con bé này, dám cả gan lấy thầy u ra dọa tôi! 

Tôi lựa lựa đưa tay vuốt lại tấm áo, nặn ra một nụ cười đủ nết na thùy mị, bảo với cái Mai: 

– Mai vừa nói gì ấy nhỉ? 

Ý hớn hở trên mặt con bé tắt ngúm, nó khúm núm cúi người thảo mai thảo mốt:

– Lạy cô, con có nói gì đâu ạ. Ai lại dám hỗn hào với cô Kim Hương đây, tiểu thư khuê các đẹp người đẹp nết, ái nữ chủ tiệm buôn vải Đàm Thịnh nức tiếng chốn kinh kỳ này? – Nói xong, nó vươn tay ra đỡ tôi bước xuống giường. – Thôi, cô nhanh cho con nhờ, kẻo lại lỡ hết giờ lành.

Ở với nó từ lúc mới đẻ tôi lại chả đi guốc trong bụng con mắm này, chắc chắn nó đang bấm dạ nhịn cười cho mà xem.

– Chỉ giỏi vụng chèo khéo chống. – Tôi lườm cái Mai trong khi bám vào tay con bé bước ra bàn trang điểm.

Thôi thì trừ việc thêm mắm dặm muối “đẹp người đẹp nết”, lời thưa thốt kể cũng bùi tai. Ngẫm kỹ ra, cũng chẳng bắt bẻ nó được câu nào. Quả thực Kim Hương tôi vốn được biết tới bởi cái danh “con gái rượu” của ông Đàm bà Thêu – chủ tiệm vải nổi tiếng ba đời xứ đô thành.

Đúng ra mấy ai lại nhớ nổi tên của hạng buôn thúng bán mẹt ngoài chợ, nhưng thầy u tôi đâu phải dạng thương lái nhỏ lẻ như thế: Bà Thêu, tức u tôi, vốn là con gái của thợ lành nghề bậc nhất làng Dâu. Từ khi vua ban tên Nghĩa Đô cho làng, năm đời nhà u đã làm nghề nuôi tằm dệt lụa, nhuộm vải, các cô các cậu trong họ hàng đàng ngoại không ít người là nghệ nhân vào cung theo hầu vua chúa. Mỗi năm, làng nghề của u lại được yêu cầu cống thành phẩm vào trong triều đình, đến cũng phải cả trăm thước vải lụa tơ tằm. Lại nữa, các vương tôn công tử hay tiểu thư cành vàng lá ngọc trong nội đô vẫn thường năng tới đặt riêng y phục tại tiệm vải vào mỗi dịp lễ tết quan trọng. Vốn đã có tên tuổi như thế, lại thêm gia thế nhà thầy tôi khi xưa có công với triều đình, được tiên vương ban thưởng cho mấy mẫu đất mẫu ruộng nên thầy u lại càng ăn nên làm ra. Một loạt các tiệm vải Đàm Thịnh cứ thế ra đời nằm rải rác quanh các khu chợ sầm uất bậc nhất kinh thành. Đến Thăng Long Kinh Kỳ, chỉ cần nhắc tới cái tên Lý Văn Đàm và Nguyễn Kim Thêu thì kiểu gì người ta cũng biết tới hai ông bà có tài buôn bán, giàu nứt đố đổ vách trứ danh đất này.

Kể về thầy u có kể đến sáng mai cũng chẳng hết chuyện nhưng giờ không phải lúc để huyên thuyên như thế. Còn có thứ quan trọng khác tôi cần phải xác nhận với cái Mai:

– Thầy lang mới cho vời hôm trước sắp tới chưa? 

– Con sắp xếp đâu vào đó rồi ạ. – Mai gật đầu đáp lại. – Bọn gia nô mỗi đứa đều nhận thêm ít đồng lẻ nên đến giờ ông bà vẫn chưa biết đâu cô. Nhưng tại sao… – Đang nói dở thì cái Mai ngừng lại. – Gương lệch mất rồi, cô đợi con chút. – Nó nhanh tay chỉnh lại tấm gương đồng. 

Bóng gương phản chiếu một khuôn mặt trái xoan, đường nét ngũ quan thanh tú nhưng trông da dẻ xanh xao xa lạ. Tôi dìm xuống cơn rùng mình, đánh trống lảng bảo Mai: 

– Thôi đừng hỏi han chi nữa, Mai chú tâm vấn tóc nhanh để còn kịp giờ lễ.

Cái Mai dạ ran rồi yên lặng làm việc của mình, riêng tôi miệng thì nói thế chứ trong đầu còn đang nhẩm lại kế hoạch lủi khỏi bữa tiệc đãi nguyệt trời đánh kia. Hiện giờ, tất cả chỉ còn thiếu đúng một thứ… 

Bất chợt, mùi bồ kết ám khói không biết từ đâu xộc vào phòng rồi cứ thế quanh quẩn chóp mũi. Đánh mắt nhìn ra ngoài cửa sổ mới thấy giữa một vùng mây trời nối những xanh xanh ruộng nương, vườn tược, một làn khói lam lặng lẽ tỏa lên tầng không. 

Chắc đứa hầu nào đang xông bếp đầu ngày, đúng là ông trời cũng muốn giúp tôi rồi!

– Cô hẵng còn ốm nên bà dặn con chỉ cần ra chào quan khách và làm lễ vái gia tiên buổi sáng là được rồi. – Cái Mai thỏ thẻ nói thêm.

Tôi vừa gật đầu xem như đã biết vừa ngứa tay nghịch ngợm kệ trang sức, bốc đại được một chiếc túi gấm nhỏ nhỏ có thể dắt tạm vào đai lưng. Xem ra vụ này có thêm mười con mắt thầy u tôi cũng không tìm được lỗ hổng nào cho mà xem.

Đợi thêm một lúc, Mai cũng vấn tóc xong xuôi, nó tính ra ngoài lấy y phục, nhưng hình như vẫn còn băn khoăn điều chi nên lại quay ra lén nhìn tôi gãi gãi đầu.

– Làm sao? Có chuyện gì Mai cứ nói. – Tôi khó hiểu gặng hỏi.

– Chuyện thầy lang khi nãy… – Con bé lắp bắp. – Sao… Sao cô lại giấu ông bà tìm người mới vậy ạ? Bệnh tình của cô… – Nó ngừng lại một chập. – …lại trở nặng ạ?

Một cảm giác chán nản đột nhiên dậy lên trong lòng, tôi không đáp lời cái Mai, quay người nhìn vào mặt gương đồng, lặng lẽ thở dài. Con bé cũng biết ý nên cúi người lui xuống ngay, thôi không hỏi han quấy rầy tôi nữa.

Thành thực lý do tôi chẳng muốn đi đâu cũng bởi căn bệnh quái ác hành hạ suốt từ hồi tháng Chạp tới nay. Nào có phải không chịu cố gắng ăn uống đi lại cho chóng khỏe, nhưng cái thứ ám tôi… chẳng phải là thứ muốn chữa là chữa ngay được…

Lúc này cái Mai đã trở lại phòng, khệ nệ mang theo khay y phục được chuẩn bị sẵn. Nào áo lụa, nào yếm đào, dưới thì quần thụng, trên thì quây thường, đây hai ba cái trâm bạc, kia cũng cỡ năm sáu mặt dây chuyền nạm đá nạm ngọc (3). Dù đã được cái Mai giúp đỡ nhưng tới khi mặc xong cái áo lụa ngoài cùng thì cũng phải hết thêm một tuần trà. Đầu tôi quay cuồng toàn váy toàn vóc, thật chẳng còn cái suy nghĩ nào để than thở cho cái số phận bệnh tật của mình. Cũng qua được hai tháng nay mà tôi nào đã quen vụ quần là áo lượt thế này.

– Cô ơi… 

Chỉnh y phục xong xuôi, đang tính mở cửa đi ra ngoài thì cái Mai lại nhiễu sự níu ống tay áo tôi.

– Hở?

Mặt cái Mai tỏ rõ vẻ khó xử, tôi giục mãi nó mới chịu lên tiếng. Hôm nay con này cứ phải gió làm sao.

– Thôi thì con cứ dặn cô trước, cô nghĩ con quá phận thì con cũng đành chịu… – Nó nuốt nước bọt rồi bảo tiếp. – Cô giấu ông bà tìm thầy lang mới cũng được, giả bệnh trốn tiệc cũng được. Nhưng… Chém cha không bằng pha tiếng, trước mặt quan khách, cô chớ có nhại giọng linh tinh…

Tưởng chuyện gì nữa!

– Rồi rồi rồi, mày yên tâm.

Tôi vỗ vỗ lên mu bàn tay nó đang níu áo. Xong lại ho khan mấy tiếng dợm họng cho thanh, lẩm nhẩm lại đúng khẩu âm của người ở đây rồi nở một nụ cười dịu dàng thanh tao nhún mình mẫu mực:

– Thưa thầy thưa u, con mới sửa soạn xiêm y xong, con xin phép được hầu trà thầy u ạ. 

Thực hành đâu ra đấy, tôi vội vàng hếch mặt tự mãn trước cái nhìn săm soi của đứa hầu gái:

– Sao? Mày thấy chuẩn giọng chưa, có lộ tí nào đâu? Xời, vào vai gái ngoan thì cô mày không cần phải diễn.

– Đấy, rồi cô cứ nói nhăng nói cuội thế, đến có ngày con phải nhờ người khiêng cáng đón cô về. 

– Cái mồm cái mồm! Mày cứ yên tâm. Mở cửa đi, chốc lại không kịp thầy lang tới bây giờ. 

Cái Mai vùng vằng đi ra tháo then cài, miệng vẫn làu bàu cấm ca cấm cảu:

– Rõ khổ chửa? – Nó lườm tôi rồi buột miệng nói ra cái thứ tôi đã cấm nó nhắc lại. – Mắc cái gì không mắc lại mắc phải cái bệnh “xuyên không”! Giời ơi là giời!

***

Chú thích:

(1) Giờ Mão: Khoảng thời gian từ 5 đến 7 giờ sáng.

(2) Làng Dâu: Tục truyền rằng, vào xuân 1011, vua Lý Thái Tổ ngự thuyền chơi trên sông Tô Lịch, khi thuyền đến bến Giang Tân (nay là làng Tân gần chợ Bưởi, Tây Hồ) thấy bến có căng một tấm lĩnh dệt hình con rồng uốn khúc. Nhà vua dừng thuyền lại hỏi, dân làng thưa là có biết hai nghề dệt lụa và làm giấy, nay tự dệt tấm lụa này để đón vua. Vua khen là làng có nghĩa và từ đó làng Dâu có tên là Nghĩa Đô; và xóm Bãi đổi tên là Bái Ân. (Theo “Các vị tổ ngành, phường bách nghệ – Lê Minh Quốc)

(3) Trang phục thời nhà Lý được tác giả tham khảo một số tư liệu dưới đây trong lúc phóng tác: https://daivietphonghoa.wordpress.com/2021/02/06/cac-kieu-toc-cua-phu-nu-thoi-ly-tran/ và https://daivietcophong.com/trang-phuc-va-trang-suc-thoi-ly-tran-qua-tu-lieu-khao-co-hoc/ và “Ngàn năm áo mũ” của Trần Quang Đức.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px