Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Chương 9



Vườn đêm chiêm nghiệm lòng kẻ sĩ

Bến sông nghe rộn khúc xuân thì




Sau cái đêm vớt cha lạnh lẽo hôm đó, đoàn người lại tiếp tục hành trình băng rừng trở về Lam Sơn. Suốt mấy ngày đường, cậu thiếu niên Trịnh Khả vẫn không nói một lời, mặt không cảm xúc, dắt chiếc túi vải bọc hũ tro cốt của cha treo bên yên ngựa, lững thững nước kiệu theo gần cuối đoàn. Vết thương của Đinh Liệt nay đã kéo da non, cánh tay trái vẫn được bó chặt vào ngực, tuy không còn đau buốt và chảy máu mỗi khi động mạnh như trước, nhưng cảm giác kéo da non ngứa ngáy mà không thể gãi làm cậu nhỏ cứ bồn chồn nhấp nhổm trên ngựa suốt ngày.


Rừng già xứ Thanh về đêm sâu hun hút và tăm tối đến ghê người. Những cây lim xanh cổ thụ sừng sững, như những trụ trời huyền bí cắm thẳng xuống nền rừng rậm rạp ẩm thấp. Tiếng rúc của một con cú đi ăn đêm vang lên đâu đó trên những tán cây chằng chịt như một mái nhà tự nhiên. Đoàn người ngựa đang đánh nước kiệu đều hàng, đột nhiên con ngựa bạch của Lý Tường có vẻ lúng túng chậm lại từ từ, chừng như không muốn đi tiếp nữa.


- Cố lên nào, mọi người, chúng ta sắp về đến Lam Sơn rồi, cố đi đêm độ một canh giờ nữa thôi, chúng ta sẽ lại được ngủ ngon ở nhà. 


Nhân Chú cất giọng khích lệ, nhưng con ngựa bạch lúc này chừng như đã dừng hẳn lại, hai vó trước cứ dụi dụi xuống đất rồi lại bồn chồn quay vòng, đầu thì cứ lắc lư rồi kêu lên phì phì. Chợt trong nền rừng tĩnh mịch, vang lên một thứ âm thanh gì chỉ thoáng qua và rất khẽ, nghe khác xa so với những thứ âm thanh đáng lẽ phải xuất hiện ở trong rừng. Nhân Chú đưa tay lên miệng suỵt khẽ ra hiệu cho cả bọn.


Âm thanh kia vang lên một lần nữa, lúc này nghe đã rõ hơn rất nhiều.


- L.. Lưu huynh… anh… anh có nghe thấy… Lý Tường run lên cầm cập hỏi Lưu Nhân Chú, nhưng chưa kịp dứt câu thì…


- Tiếng huýt sáo, của sói lửa! Lê Thạch thiếu kiên nhẫn cắt ngang chán chường.


- Mọi người đi sát nhau lại nhé, hai anh em Đinh Lễ và Thạch chia ra hai bên sườn đi, ghìm ngựa chầm chậm và đều thôi mọi người, anh em chiến hữu rút khí giới ra được rồi đó, ai có nỏ dùng nỏ.


Đưa tay rút chiếc nỏ được dấu dưới lớp chăn lông cuộn tròn sau yên ngựa, Nhân Chú kéo tay căng dây nỏ, dẫn đầu đoàn người bình tĩnh bước đi. Phía bên kia, Đinh Lễ đi cặp sát em trai, với tay rút nỏ, đưa xuống một bên chân đạp giá kéo căng dây, lắp tên.


Đi được một quãng, lúc này tiếng huýt sáo ở cả hai bên mặt rừng dường như vang lên thường xuyên hơn, ngắn, ngắt quãng, lúc trầm, lúc cao vút, nghe như một thứ tín hiệu gì đó gọi nhau.


- Kinh… bầy này chắc phải hai chục con hơn, mới dám vây săn đoàn người ngựa gần chục người bọn mình như này. 


Lê Thạch chậc lưỡi ra vẻ thích chí.


- Bọn này đói mùa đông thì hung lắm, vây săn cả bò tót chứ không đùa.


Nhân Chú đáp lại.


- B… Bầy sói những… hai chục con? Lý Tường lại run rẩy hỏi.


- Không! Tao nghĩ là năm chục. Lê Thạch đáp cộc lốc.


Cả bọn ôm miệng cười liền bị Nhân Chú lườm cho một cái. Đột nhiên, con ngựa bạch của Lý Tường lại một lần nữa chùng xuống. Nó đi chậm từ từ, rồi lại dụi dụi móng xuống thở phì phì. Có tiếng huýt sáo vang lên ở phía phải, lúc này đã rõ và gần lắm, rồi lại chợt nghe tiếng bụi rậm rung lên xột soạt ngay ở phía bên trái, độ chỉ cách chưa tới hai mươi bước. Những con chiến mã cướp của quân Minh đều đã dao động, chỉ riêng năm con tuấn mã nhà Lam Sơn đã quen với rừng núi nên vẫn rất bình tĩnh.


- Chúng nó đang khép vòng vây, mọi người cẩn thận nhé, cố gắng ghìm ngựa lại.


Con ngựa của Lý Tường đã luống cuống lắm, liên hồi gật gù thở lên phì phì và dụi móng xuống nền rừng, còn cậu nho sinh thì cứ liên tục vỗ nhẹ vào cổ, vào bờm, luôn miệng cất lời an ủi mặc dù trông ra thì, gương mặt cậu ta cũng bắt đầu xanh như tàu lá. Chợt ở phía sau, đi lừ lừ lên cậu thiếu niên Trịnh Khả, mặt vẫn vô hồn chừng như không biết cả đoàn đã dừng lại. Ngang qua chỗ ngựa Lý Tường đang dở chứng, tiếng con ngựa cứ phì phò bên tai làm cậu khẽ nhíu mày, liếc sang một cái, ánh nhìn lạnh và dữ như hổ đói đêm đông.


Con ngựa bạch điếng hồn hí vang lồng cả cặp vó trước lên, hất Lý Tường bật ngửa ra sau rồi phóng chạy. Một chân của Lý Tường xoắn vào mắc dây quai da cuốn mấy vòng, kẹt lại yên ngựa mà bị lôi đi xồng xộc theo đà chạy của con ngựa bạch.


- LAI VỚI TRƯƠNG CHIẾN Ở LẠI, CÒN LẠI THEO TAO! Lưu Nhân Chú gầm lên, tung vó tế ngựa rượt theo con ngựa bạch đang kéo lê Lý Tường. Trịnh Khả toan tế ngựa lao theo, may đâu Lê Lai nắm được vai áo kéo xốc lại.


Con ngựa bạch lôi xộc Lý Tường qua một đoạn rừng ngắn, đuốc trên tay vẫn cầm chặt cùng với thân người quét qua nào là cây cối bụi rậm, bén ra vài ánh lửa, cùng với vài bệt máu kéo dài. Ngựa lôi cậu thư sinh ra đến một lạch suối cạn thì khúc dây da xoắn chân cũng lỏng ra làm cậu rơi huỵch xuống nước, còn con ngựa bạch thì lồng lên chạy mất.


Lồm cồm bò dậy giữa đoạn suối, nước lạnh buốt lên đến đầu gối, từ phía những bụi rậm chung quanh bờ lại rung lên xoàn soạt những mảng lớn. Những tiếng huýt sáo rõ, gần và liên tục hơn, lại có những tiếng nghe như huu-uuu, rồi tiếng chút chít, choạch, choạch, lặp lại liên hồi đè chồng lên nhau, xen kẽ những âm thanh ghê người đó, còn có tiếng ăng ẳng, ăng ẳng nghe như tiếng lũ chó nhà tới giờ được cho ăn. Lý Tường lúc này chỉ chực như ngất đi, nhưng một thứ ý chí sinh tồn mãnh liệt đã giữ cậu tỉnh táo, rồi… cũng chỉ đứng đó giữa dòng suối mà co ro mếu máo chứ không biết làm gì hơn.


Bất ngờ phía trên bờ, từ những bụi rậm, những gốc cây, giữa nền rừng già sột soạt đổ ra không biết bao nhiêu là những con sói lửa, hắt bóng dưới ánh trăng mờ ảo xuyên qua mái rừng, con nào con nấy phải cỡ một con chó Lài lớn, lông hung đỏ rực, đuôi đen như chiếc chổi lông dựng ngược. Lũ sói vây kín cả trên bờ đến những khúc suối nông, đếm phải đến hơn hai chục con. Những tiếng rít, tiếng kêu chí chóe, cùng âm thanh huu-uu vang lên gọi bầy váng cả rừng đêm. 


Lý Tường đứng tần ngần giữa suối chỗ sâu nhất, đưa hai tay lên chắp trước ngực, mắt nhắm chặt, miệng lầm rầm đọc một đoạn kinh phật gì đó, vai run bần bật lên, vã mồ hôi như tắm giữa trời đông. Thình lình nghe một tiếng xé gió, Phập, tiếng một con sói oẳng lên đau đớn, rồi tiếng vó ngựa cùng giọng hô hoán quen thuộc tiến đến gần.


Dẫn đầu là Lưu Nhân Chú, sẵn luôn cánh nỏ trên tay tế ngựa mở đường, cúi người quật mạnh thêm một con sói nữa, theo sau là Lê Thạch, Đinh Lễ tay lăm lăm khí giới. Kéo Lý Tường lên ngựa, lẫy nỏ đánh tách thêm một tiếng, rồi bốn người ba ngựa lại xông vào bầy sói đang vây kín mà phá vây trở ra. Có con sói bạo gan xông lên định tợp vào phía sau ngựa Lê Thạch, anh giật nhẹ cương, con ngựa ô dũng mãnh tung vó sau đá mạnh, nghe một tiếng oẳng, kéo theo sau đó là tiếng răng rắc của xương quai hàm và răng vỡ vụ.


Bầy sói vẫn bám theo nhưng không con nào dám áp sát nữa, được một đoạn thì nghe gì đó như tiếng huu-uuu gọi bầy ở phía suối, lại nghe tiếng ngựa hí vang lên ở phía đó, bầy sói dần bỏ đoàn người mà rút đi.


Phi ngựa về lại chỗ của bọn Lê Lai, mới về gần đến nơi thôi thì đã thấy lửa bập bùng ở phía đó sáng cả một góc rừng. Đoàn Nhân Chú trờ đến, may sao chỉ có một mảng bụi rậm nhỏ đang cháy, do cây đuốc ban nãy của Lý Tường bị kéo lê mà bén lửa.


- Bầy này đúng phải hơn hai chục con đấy huynh ạ, may sao nãy lửa bén lá khô bùng cháy lên, bọi sói sợ lửa mà rút mất! Lê Lai lên tiếng


- Ở đây cũng hơn hai chục con cơ á? Nhân Chú tròn mắt hỏi lại.


- Đúng đó đại ca, con nào con nấy to như con chó Lài, nhe nanh nhọn hoắt hằm hè ở đây nãy giờ. Đinh Liệt một tay cầm thanh đoản đao, cất giọng đáp lời.


- Khiếp! Không ngờ núi rừng Thanh Hóa này có bầy sói lửa đến non năm chục con, nãy tính nói đùa cho vui thôi, ai ngờ… Lê Thạch bật cười.


Nhìn sang Lý Tường dưới ánh đuốc, cậu này thì ôi thôi xây xát đầy người, máu me cùng mình lại còn ngâm nước suối ướt sũng, đang như muốn ngất đi phía trước yên của thầy Ức Trai.


Cả đoàn người tiếp tục hành trình băng rừng về nhà, nhóm anh hùng đánh ngựa đi thận trọng bao quanh lấy thầy trò Ức Trai và Đinh Liệt ở giữa. Ra đến bìa rừng đã rất gần ngôi làng Lam Sơn, đi ngang qua một căn lán nhỏ của cánh tiều phu dựng gần đó, đột nhiên trong bóng đêm trăng huyền hoặc xông ra hai bóng người ngựa tay cầm đuốc sáng:


- Trời ơi! Chú mày dắt tụi nhỏ đi tận đâu đến giờ mới về, Anh Ba lo phát bệnh lên ở nhà kia kìa!


- Ôi hai huynh, ha ha ha ha, cuối cùng cũng đã trở về nhà rồi! Nhân Chú cười lớn, tế ngựa về phía hai người kia, đó chính là Nguyễn Văn An và Trần Văn Linh.


Đoàn người lúc này lại đánh nước kiệu thong thả trên con đường làng, dường như từ lúc rời khỏi nhà của Vũ Uy, thì đây chắc là lúc duy nhất những con ngựa có thể đi một cách hiên ngang mà không phải dè chừng gì cả. 


Trống canh ba điểm lên, trời đã gần nửa đêm. Đoàn người ngựa đi bộ chầm chậm tiến vào sân trước khu nhà Lam Sơn, ai nấy cũng đều suỵt khẽ nhau kẻo mọi người thức dậy. Bước vào sân, trông vào gian nhà chính vẫn còn leo lét ánh đèn dầu trên chiếc phản gỗ lim.


- Anh Ba! Tụi nhỏ về rồi! Văn Linh nhẹ nhàng lên tiếng từ ngoài sân.


Bất ngờ từ phía trong vang lên một tiếng đổ vỡ gì đó như án gỗ đổ xuống phản lim, lại còn kèm theo tiếng xoảng như tiếng… đĩa đèn dầu vỡ.


- Ôi ôi… Cháy.! Tiếng Chú Ba Lê Lợi vang lên phía gian giữa.


Cả bọn ngoài này nháo nhào, tiếng hốt hoảng cũng làm bọn gia nhân nhà sau thức dậy, ai nấy đều chạy khấp khởi đi múc nước. Dầu lạc từ chiếc đĩa đèn bằng sành vỡ toang đổ ra ướt đẫm, bắt lửa từ tim đèn kêu lên xèo xèo tỏa khói hăng mù mịt,  liếm đỏ rực một góc chiếu.


Cả nhà được cơn hốt hoảng giữa đêm, liền ngay sau đó là một tràng cười vang rền trời đất. Một khoảng yên lặng để nhận ra đoàn phiêu lưu đã trở về, Thụy Xuân lao tới ôm chầm lấy Lê Lai. Phía bên kia, Chú Ba cũng đang nắm lấy vai từng vị anh hùng Lam Sơn run lên mà mừng vui.


- Trời ơi, các cậu đi đến tận hơn nửa tháng, ta ở nhà cứ lo sốt vó lên.


Nhác thấy Lý Tường đang thương tích đầy mình, Chú Ba Lê Lợi liền gọi gia nhân đưa đi băng bó mà còn chưa kịp hỏi tên. Đoạn, ánh mắt ông hướng đến phía Ức Trai tiên sinh.


- Tại hạ Nguyễn Trãi, bái kiến Minh Công. Ức Trai chắp tay thi lễ.


- Ấy ấy Ức Trai tiên sinh, ông không cần đa lễ.


Lê Lợi nắm hay tay Ức Trai đỡ lên. Hỏi han về sức khỏe của nhau vài câu. Rồi lần lượt, Lê Lợi nhìn sang đến cậu bé Trịnh Khả, lúc này mặt vẫn vô hồn cúi nhẹ xuống nhìn vào chiếc hũ tro cốt đang ôm trước ngực.


- Thằng bé này…


Lê Lợi đưa tay đỡ cằm cậu thiếu niên lên, thoáng nhíu mày nhẹ khi trông rõ dung nhan.


- Cu con… Minh công hỏi kìa!


Nhân Chú phải huých nhẹ vào hông khi thằng bé vẫn cứ đứng ngơ người ra.


- Con… là Trịnh Khả.


- Dạ, thằng bé mới bị giặc Ngô bức mất cha, đi lạc lơ ngơ giữa rừng, nên em dắt theo về chứ không nỡ để nó lại. Nhân Chú giải thích.


Lê Lợi gật đầu liền mấy cái và cười hiền. Chợt ánh mắt ông đưa về phía người tù, thấp thoáng có dấu kình diện trên trán.


- Ô! Anh này… .


Thấy Chú Ba nhìn lom lom vào dấu kình diện, người tù đưa tay vén tóc, để lộ hẳn ra hai chữ Sát Quan thích dọc giữa trán, rồi mới chắp tay cúi đầu thưa.


- Tại hạ Trương Chiến, bái kiến Minh Công. 


Lê Lợi đưa tay xòa xòa ý không cần đa lễ.


- Người này võ công uy dũng, khí khái nghĩa hiệp, nếu không có anh ta, sợ rằng em và tụi nhỏ đã nguy khốn tại nha môn.


Nhân Chú tâu.


- Tại hạ do trước giết quan Ngô nên phải tội, nay xin theo về với Minh Công, xin hết lòng giúp việc.


- Được được! Cậu đã nghĩa hiệp cứu huynh đệ của ta, thì cũng coi như người trong nhà, cậu cứ ở lại đây, đừng lo gì nữa cả, nhưng mà, khi nào thư thả, cậu hãy kể cho ta nghe ngọn ngành của dấu kình diện này đấy nhé.


Chú Ba vỗ vai người tù, rồi đột nhiên như nhớ ra gì đó, ông lia cặp mắt sáng ngời quét vội qua từng khuôn mặt của nhóm nghĩa sĩ vừa trở về, cuối cùng dừng lại trên khuôn mặt của Đinh Lễ, giọng đột nhiên trở nên hốt hoảng.


- Ủa! Thằng Liệt em mày đâu rồi Lễ, nó có…


- Dạ! Em con đang ngáy phò phò trên phản gỗ kìa Chú Ba, lúc ở nha môn nó trúng đạn hỏa đồng, nhưng đã được Ức Trai mổ lấy đạn ra, vết thương cũng kéo da non rồi. Chắc vừa mổ sống trong rừng xong mà lại tiếp tục đi đường trường về nhà, nó lả quá chui vào phản ngủ khò mà chưa kịp chào Chú Ba.


- TRỜI ĐẤT! MỔ SỐNG HẢ?


Nghe đến đây, Lê Lợi sững người thốt lên.


- Minh công đừng lo quá, tôi có biết ít nghề y dược, đã bó thuốc cho thằng bé cẩn thận, nó cũng đã cưỡi ngựa về được tận đây rồi kia mà.


Ức Trai từ tốn thưa với Lê Lợi, lúc này cặp chân mày ông mới giãn dần ra.


- Thôi! Cũng quá nửa đêm rồi, cái Xoan cái Thục thu xếp chỗ nghỉ cho mọi người nhé, các chú và tiên sinh cứ nghỉ ngơi cho lại sức, rồi khi nào tinh thần đã sảng khoái trở lại, chúng ta sẽ cùng nhau trò chuyện và ăn mừng ngày trở về đông đủ hôm nay.


Đêm hôm đó, anh em Đinh Lễ cùng Lê Lai Lê Thạch cuộn chăn lông quân Minh ngủ luôn trên trên phản gỗ lim gian chính nhà Chú Ba Lê Lợi. Nhân Chú thong thả đánh ngựa nước kiệu về ngôi nhà cách đó không xa ngay trong làng. Còn Lý Tường, sau khi băng bó xong, cùng với Trịnh Khả, Trương Chiến và Ức Trai được gia nhân dắt đến một gian nhà sau chia vào các phòng đã sắp sẵn chiếu gối. Hai cậu nhỏ cùng Trương Chiến thì lăn ra ngủ ngay, nhưng Ức Trai thì lại quay ra, đi chân đất chầm chậm trên nền gạch mát rượi quanh hiên nhà trông ra cảnh đêm Lam Sơn.


Khoảnh sân bên hông nhà vắng lặng giữa đêm cô tịch, hắt hiu vài đĩa đèn dầu treo trên mái hiên. Có con mèo mướp mập ú, đang đủng đỉnh cất bước băng ngang khoảnh sân vắng đột nhiên dừng lại, dương cặp mắt to tròn xoe phản chiếu ánh trăng xanh ngắt như hai viên ngọc bích, lặng yên nhìn vào một góc nhà sau. Ức Trai cũng đưa mắt dõi theo con mèo ấy, tư lự thả vào hư không những mảnh suy nghĩ vô định, chợt…


- Ô kìa! Ức Trai, ông chưa ngủ sao? 


Một giọng trầm khẽ vang lên, Chú Ba chầm chậm bước đến từ phía nhà sau , tay đang bưng một đĩa đặt búp trầm nhỏ tỏa hương thật êm. 


- Ô! Minh công cũng vậy sao? Sao người cũng chưa ngủ? Ức Trai cười rồi hỏi lại.


- Bọn nhỏ vừa trở về đông đủ, trong lòng tôi còn vui quá, nên chưa thể yên mà ngủ cho được. 


Đặt đĩa trầm xuống, Chú Ba ngồi tựa lưng vào cột nhà, nhìn bâng quơ ra khoảnh sân hắt ánh trăng tắm đượm sương đêm mờ ảo.


- Vả lại… cảnh đêm nay lặng như tranh vẽ, trông ra lòng còn trăm mối lo toan, vẫn chưa thể yên mà ngủ được.


Phía bên kia, Nguyễn Trãi cũng khoan thai ngồi xuống, chậm rãi hỏi: 


- Minh Công… còn lo toan chuyện gì?


- Chỉ là chút chuyện quan lộ thôi.


- Chuyện quan lộ thôi sao? Xem ra, minh công cược cả sự nghiệp, sai huynh đệ thủ túc liều mình phá ngục cứu tôi về đây, chỉ để cùng ông lo việc quan lộ với bọn giặc Ngô?


Lê Lợi cười trừ, thở ra một hơi dài thườn thượt.


- Nghe đâu, tiên sinh đã biên soạn ra tập Bình Ngô sách. Tiếc thay, lại bị quan quân đốt mất rồi.


- Ha ha! Cái mẹo trẻ con ấy, không ngờ cũng qua mắt được minh công. Thứ bọn quan quân đốt đi, chỉ là mớ giấy lộn, tôi viết nhăng cuội để trêu bọn chúng thôi. Còn Bình Ngô Sách thật sự, nó nằm trong đầu tôi đây, nếu tôi không cho thiên hạ biết, Nguyễn Trãi này một lòng nuôi chí phục quốc, nếu thiên hạ này chỉ thấy, một ông quan hết thời bỏ trốn bị bắt lại, thì làm sao bậc hào kiệt như ông có thể biết mà tìm đến cứu tôi?


Nguyễn Trãi vừa nói, vừa giơ ngón trỏ chỉ chỉ vào thái dương. Nghe đến đây, Lê Lợi khẽ giật mình, chỉ một khắc lay động đó, dường như không một ai có thể nhìn ra cho dù ông đang ngồi giữa ban ngày ban mặt đi chăng nữa. Lập tức lấy lại phong thái, ông cười nhẹ, tiếp tục bằng một giọng rất điềm tĩnh.


- Mấy năm nay hạn hán liên miên, vụ mùa mới đây hơn nửa số thóc đã phải nộp sưu, số còn lại phải ăn tằn tiện lắm mới đủ đến khi thu hoạch vụ chiêm sang năm, vậy mà nghe đâu sắp tới lại tăng ngạch thóc, dân ngày càng túng quẫn lắm.


- Tôi thấy, dãy núi phía Tây vẫn còn những thung lũng có thể canh tác được, Minh Công có thể khơi kênh dẫn thủy mà làm ruộng rẫy nơi đó, chừng vài vụ là sẽ qua cơn đói kém… Vả lại, đường vào đó khó đi, quan quân cũng ít để ý.


Lê Lợi thoáng mỉm cười, chẳng phải là ông thường hay sai người vào bãi săn đó sao.


- Tiên sinh mới đến Lam Sơn một đêm, mà đã nhìn ra trong núi có đường sinh sao? Lê Lợi ra vẻ ngạc nhiên hỏi.


- Trên đường cùng những vị tráng sĩ Lam Sơn của ngài về, tôi thấy người nơi đây rất thạo rừng núi, ngựa lại không hoảng khi thấy thú dữ. Nếu chỉ là hào trưởng địa phương, há Minh Công đây cần người ngựa vũ dũng như vậy?


Vẻ mặt Lê Lợi thoáng biến sắc, nhưng lập tức lấy lại bình tĩnh.


- Ha ha ha, tiên sinh quả là tinh tường.


Cơn gió đông chợt thổi qua chiếc khánh đất treo dưới mái hiên kêu lên lao xao. Phía trên cao, ánh trăng khuyết hắt mờ ảo xuyên qua mấy gốc bạch mai trơ cành, tạo ra những hình thù uốn lượn kỳ lạ in hằn trên nền đất. Tiếng trống tuần canh một lần nữa vang lên báo hiệu đã gần sáng, xua tan đi cái yên tĩnh đang nhấn chìm hai người đàn ông của thời cuộc.


- Cũng gần sáng rồi, tiên sinh nên nghỉ ngơi đi thôi! Lê Lợi từ từ chống tay đứng dậy, cười nhẹ mà nói với Nguyễn Trãi.


- Minh Công cũng giữ sức khỏe nhé! Nguyễn Trãi đứng lên theo, hai người chào nhau rồi trở về phòng nghỉ ngơi.


Sớm hôm sau, trời lạnh mờ sương giăng, nhưng cái không khí tháng chạp cận tết đã bắt đầu nhen nhóm trong từng nẻo đường quê của vùng núi Lam Sơn. Trai tráng cánh thì vắt vẻo trên cao vá mái sửa nóc nhà, cánh thì vác rựa vào rừng mà rọc lá dong xanh. Củi bếp đã chất thành những đống cao bên cạnh những hiên nhà vách đất, khoảnh sân trước thì chật kín các nia phơi măng tre và củ kiệu. Ở phía bến nước sân sau nhà Chú Ba, cứ độ một hai ngày, lại có thuyền buôn cập bến, mang theo đủ thứ hàng hóa từ khắp mọi nơi đổ về.


Có một chiều nọ, một thuyền buôn cập bến chở theo nào là giấy đỏ cọ lông, nghiên đá thoi mực xếp thành từng cụm rất ngay ngắn và trông thật thích mắt. Đến cả Chú Ba Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi cũng đổ ra xem, chủ ghe là hai vợ chồng thầy đồ già, cùng một cu cháu cũng trạc tuổi Trịnh Khả, đon đả chào mời. Cầm lên một thanh mực, Chú Ba chậc lưỡi gật gật đầu nom có vẻ ưng bụng lắm. Thỏi mực hình chữ nhật dài độ một gang tay, màu đen tuyền sâu thẳm như đá quý, cầm vào mát rượi, toát lên thoang thoảng một thứ hương thảo mộc dịu nhẹ.


- Mực này, lão làm cách sao mà tốt thế?. Gõ nhẹ thỏi mực vào nghiên đá nghe bính, bính, Ức Trai tiên sinh quay sang hỏi vị thầy đồ nọ.


- Mực này lão làm kỳ công lắm, gỗ phải là gỗ cây thông già, lò phải đốt trong phòng kín và đều lửa liu riu, keo phải lọc trong vắt, mực phải giã vạn chày, hai con trai lão giã đến toát cả mồ hôi đấy, ha ha ha.


Nguyễn Trãi cũng gật gù cười, đoạn, tiên sinh hỏi xin một cặp giấy đối viết thử mực. 


Núi biếc ôm mây sớm

Sông xuân chở nắng vàng 


Cặp đối năm chữ thanh thóat được viết theo kiểu khải thư uyển chuyển như rồng lượn, ai nấy nhìn qua cũng xuýt xoa lên. Cụ đồ nọ thì gật gù, ra ý nể nang, rồi cười xòa lên lấy ra một cặp giấy đỏ nữa.


Mai nở thơm sân vắng

Én về rộn mái tranh


Cặp đối khải thư uốn lượn như phượng hoàng đạp vân, Nguyễn Trãi trông mà cũng phải gật đầu vẻ ngưỡng mộ. Chợt, có một giọng thỏ thẻ của một cô gái vang lên phía đám đông nhà Lam Sơn.


- Dạ, tiểu nữ cũng… xin được thử mực ạ!


Cả Lê Lợi, Nguyễn Trãi và người thầy đồ kia cùng cười và gật đầu, thì ra đó là Thụy Xuân, nãy giờ nhìn các thầy đấu chữ với nhau, trong lòng cũng ngứa nghề mà có ý thử mực.


Khói bếp vương đầu ngõ

Mây hồng đượm khói lam 


- Cha, tiểu nữ này… nét chữ mềm mại, cặp đối cũng toát hồn quá. Người thầy đồ kia tấm tắc. Ức Trai thì chỉ nhẹ gật đầu và cười mỉm.


- Dạ! Do cha tiểu nữ cũng là thầy đồ, nên nữ đã được dạy từ nhỏ, cũng biết được một ít thôi, không thể bì được với tiên sinh và cụ đồ đây ạ!


- Hay là, Chú Ba mua giấy mực cho con, cùng con Xoan, con Thục mang ra chợ tết mình bán nhé. Lúc này, Chú Ba Lê Lợi mới cười hiền tiến lên từ phía sau Nguyễn Trãi. 


Tuy vẫn cúi mặt hơi thấp, nhưng Thụy Xuân cũng không thể giấu được nụ cười đang chúm chím trên môi và đôi gò má ửng hồng lên trông giòn như một cặp đào. Cúi gật đầu đáp lại Chú Ba, hai tay Xuân lại càng mân mê hai vạt áo tợn hơn nữa, vẻ thích thú lắm, từ ấy đến lúc cơm chiều cứ tủm tỉm cười mãi thôi.


Ngày hăm ba tháng Chạp, cây nêu cao vút được dựng lên ngay giữa bãi Đất Công của làng, trên ngọn treo cao mấy mảnh vải điều cùng một khánh đất vang lên leng keng mỗi khí gió đưa. Xóm làng Lam Sơn lúc này đã nô nức không khí ngày tết hơn, thoang thoảng trong gió đã dậy lên mùi nếp mới. 


Chợ làng những ngày giáp tết tấp nập nào hoa nào vải, tiếng gà lợn kêu, tiếng chào mời đon đả đã vang lên từ tận sáng sớm. Bên cạnh một sạp thổ cẩm và đặc sản của một gia đình người Trại, một lán lợp tranh đơn giản được dựng lên, trên  đặt án giấy, xung quanh trưng bày ngay ngắn những câu đối đỏ, những thỏi mực đen, cùng những nghiên đá, giấy bút phân theo từng loại.


Thụy Xuân cúi người, nắn nót viết những dòng đối khải thư, hay những đại tự như Phúc - Lộc - Thọ trên những dải giấy đỏ chói, bọn cái Xoan cái Thục thì hoan hỉ đem bút nghiên ra mời chào, hay sắp xếp lại quầy chữ cho gọn gàng. Người người tấp nập đi chợ tết, cứ chốc chốc lại có người đến hỏi mua chữ. Có người làng, lại cũng có những người trông như là hảo trưởng dân tộc vùng núi, ăn mặc kiểu nửa Kinh nửa Thổ đến hỏi han mua sắm. Mới hết phiên chợ sáng mà cũng đã bán được kha khá, cả bọn cũng mừng vui lắm, một phần cũng do Chú Ba dặn bán vừa đủ thêm ít tiền quà bánh thôi. Do vị thầy đồ già hôm trước nể tài Ức Trai, nên đã nhượng lại hàng hóa cho Chú Ba với một cái giá rất rẻ. Nghe đâu các con cụ đứa thì đi buôn, đứa thì làm thư lại phụ việc giấy bút trong làng. Nhà cụ tuy không quá túng quẫn như dân nghèo, nhưng trong lòng cụ lúc nào cũng cuộn trào một nỗi ưu tư thời cuộc. Gom gót được ít giấy mực cuối năm, ông bà cụ dong một chiếc thuyền buôn nhỏ, dắt theo cu cháu nội rong ruổi quanh các chợ bến dọc con sông cái, mượn cớ bán chữ để san sẻ ít cái sum vầy với dân làng, lại vừa để khuây khỏa lòng người giữa buổi loạn ly ngột ngạt.


Tầm hai ngày sau, vào một buổi sáng trong trẻo hiếm hoi giáp tết, nơi hàng chữ ba cô gái nhà Lam Sơn cũng như thường ngày, tuy không còn đông đúc như những buổi đầu tiên buôn bán, nhưng khách khứa phiên chợ sáng ghé vào hỏi chữ cũng vẫn còn kha khá.


Lúc đó tầm đã gần trưa, đương độ ngơi bớt khách khứa, Thụy Xuân đang vừa cười vừa trêu ghẹo con Xoan, hai đứa đang phụ nhau sắp xếp lại giấy mực thì đột nhiên Xoan thay đổi sắc mặt, huých nhẹ vào hông Thụy Xuân đá ánh mắt ra phía bên ngoài.


Trông ra, Thụy Xuân chợt biến sắc, nhưng ngay sau đó, cô bé cố lấy lại bình tĩnh:


- Xoan này! Nếu hắn vào hỏi thì mày và con Thục cố câu giờ giúp tao nhé!


Xoan gật đầu nhất trí, Thụy Xuân liền quay đi, với lấy chiếc tay nải treo nơi góc gian hàng mà lẻn ra phía sau. Cô bé vừa đi, phía trong gian liền vang lên tiếng chào hỏi của Xoan và một người khách nam.


Gã khách giọng nghe có vẻ còn thanh niên, văn phong tuy cũng nho nhã nhưng có phần trịch thượng, đang hoạnh họe cái Xoan đòi người viết chữ. Xoan cố gắng đối đáp được một lúc, thì phía sau, Thụy Xuân… à không, một người phụ nữ có nước da nâu hồng tiến vào, dáng đi hơi khòm, tóc búi thấp sau đầu cài trâm gỗ, áo giao lĩnh vạt ngắn quấn dải thắt lưng vải thô dệt hoa văn Chiêm Thành vắt chéo qua ngực.


- Xin lỗi vị công tử đây, tiểu phụ do mải xem hàng thổ cẩm bên cạnh, nên đã để công tử chờ lâu, mong cậu đây thứ lỗi cho.


Người phụ nữ kia đáp bằng giọng khàn khàn và có phần hơi cục mịch. Đối diện với cô là một vị khách trông qua đai áo gọn gàng, mắt hí, cằm nhọn, ria thầy đồ rẽ sang hai bên, chính là tên Kỷ ngày nào.


- Chữ này của bà viết hay ai viết?


Kỷ cầm quạt trỏ vào một câu đối đỏ treo trên vách nứa.


- Thưa công tử, chữ này do ông nhà tôi viết!


- Thế ông nhà đâu? Tôi cần người viết một cặp đối để làm quà biếu khách quý.


Kỷ cau có ra giọng trịch thượng. 


- Thưa công tử! Chồng tiểu phụ sớm nay đã theo vài người lái buôn lên huyện sắm sửa đồ tết, chắc sẽ ngủ lại qua đêm trên ấy, chỉ để lại tôi và hai đứa hầu trông coi bán tiếp những thứ bút nghiên, chứ bán chữ… tiểu phụ e là không đủ tài viết như ông ấy!


- Bà viết vài chữ tôi xem thử.


Kỷ cầm quạt trỏ vào án giấy, sau đó đọc lên một cặp đối. Trông thấy tư thế quỳ mọp xấu xí để viết của người phụ nữ nọ, hắn nhếch hẳn mép lên vẻ khinh khỉnh. Nhưng khi trông vào tay cầm bút của cô ta, hắn thoáng rùng mình, như có mảnh ký ức gì đó chợt ùa về trong tâm trí. Cái thế tay này, cái thế cầm bút này, trông cứ quen quen sao sao ấy nhỉ? Không lẽ… Hắn nhíu mày suy nghĩ mông lung, một cảm giác bồi hồi làm tim hắn đập rộn lên. Chợt… cái giọng khàn khàn của người phụ nữ kia cắt ngang làm hắn thoáng giật mình.


- Bẩm! Tiểu phụ đã viết xong đây, mời công tử xem qua.


Nhìn xuống dòng chữ cứng ngắc, thô thiển như vẽ chuồng lợn trên án giấy, Kỷ nhếch mép cười, rồi chợt buông ra một câu hỏi:


- Bà trông đen đúa như kia, nhưng đôi tay lại mềm mại, không một vết chai sần thế? 


Người phụ nữ thoáng động cặp mắt, nhưng ngay sau đó cố gắng định thần, lấy lại tông giọng:


- À, dạ thưa… Tôi vốn người Chiêm, cưới ông nhà là người Việt… gia cảnh tôi cũng ấm no, ít phải làm việc nặng, nên tay không chai sạn.


- Tay không những mềm, mà trông thế cầm bút viết chữ, cũng ra vẻ nhà nho đấy.


Tim Thụy Xuân bất giác đập rộn.


- À… công tử quá khen. Từ lúc cưới ông nhà về đây, tôi mới học mót được ít chữ…


- Chồng bà… nét chữ trông cũng đẹp nhỉ, cũng là nho sinh à.


Kỷ nhếch mép cười khinh khỉnh, lia cặp mắt ti hí nhìn quanh quẩn lên những câu đối giấy điều treo khắp quầy chữ.


- Dạ! Chồng tôi ngày trẻ cũng… theo thầy đồ học chữ nho. Trước ông ấy có mấy lần thi cử, nhưng đều trượt cả, tức chí… bỏ về đây dạy học, tích góp bấy lâu được ít vốn liếng, nên tết nay chồng tôi lại ngứa nghề mà mở hàng bán câu đối.


Tên Kỷ chợt nhìn thẳng vào ánh mắt nâu trong vắt như giọt sương mai của người phụ nữ Chiêm, ánh nhìn xoáy vào lòng người đó làm bà ta bất giác bấu chặt vạt áo.


- Bà… người làng này?


- Thưa… không. Tôi vốn người Chiêm đất Cổ Lũy, ông nhà tôi vốn là di dân người Việt. Sau khi cưới nhau, tôi lại theo chồng về quê cũ… chính là đất này, sinh sống cũng gần mười năm nay.


Người phụ nữ Chiêm Thành đáp, cố lấy lại bình tĩnh và chất giọng cục mịch. Tên Kỷ phe phẩy chiếc quạt nan, nhìn quanh tư lự một thoáng, hắn mới cất giọng tiếp.


- Bà lấy cho tôi một cặp giấy điều và bút mực, tự tay tôi sẽ viết câu đối.


Kỷ tiến đến ngồi bên án giấy, người phụ nữ Chiêm mang ra một cặp giấy điều, còn cái Xoan thì bưng theo một nghiên đá, bên trong vẫn còn lại ít mực đã mài từ ban sáng. Kỷ chấm bút khuấy nhẹ, cau mày vì mực có vẻ hơi đặc. Người phụ nữ Chiêm tinh ý thấy ngay, vội nhỏ lên vài giọt nước, rồi lấy thỏi mực ban sáng mài tiếp vài vòng.


- Mời công tử thử mực… xem đã vừa chưa.


Kỷ lại chấm bút khuấy vài cái.


- Được rồi đấy, bà tuy ít chữ, nhưng mài mực cũng khéo đấy nhỉ.


- Dạ… tiểu phụ cũng thường mài mực cho ông nhà dạy học… nên quen tay.


Tên Kỷ không màng ngó lên, hắn vén tay áo, chấm mực viết từ tốn vào tấm giấy điều những nét khải thư uyển chuyển, nom bộ, bút pháp cũng không kém gì cụ đồ già bên bến nước hôm ấy là bao.


Bắc vọng xuân ân, vạn hộ đồng nghinh phúc.
Nam hồi bán cố, nhất xuân vị kiến hoa.


- Ha ha, cặp đối như rồng phượng, xướng lên nghe nhạc điệu thế này, hẳn Lê hiền sĩ sẽ thích lắm. Này bà người Chàm, đọc có hiểu không?


Ngó qua câu đối, lại nghe thêm cái tên Lê hiền sĩ, trong lòng người phụ nữ quặn lên một nỗi lo.


- Dạ! Tiểu nữ học ít… đọc không hiểu.


- Ha! Bà làm sao hiểu được hết dụng ý của thiên triều. Phải như có chồng bà ở đây, thì ít ra còn có người để ta có thể luận chữ. Thôi, bà nhận lấy này, dư ra thì cứ để mua ít quà bánh mà ăn tết, ta có việc phải đi ngay rồi.


Tên Kỷ móc vào túi đưa cho người phụ nữ và cái Xoan đang đứng cạnh bên vài đồng bạc cắc, thực ra cũng chả dư bao nhiêu. Đoạn, hắn cuốn ngay cặp đối vừa khô mực, cho vào một ống tre cất vào ngực áo, rồi tót ra ngoài, leo lên con ngựa thồ nhỏ thó cột ở bụi tre gần đó mà đánh nước kiệu đủng đỉnh đi mất.


- Xoan ạ! Mày chạy gấp về nhà, báo cho anh Lai…


Vừa trông khuất dáng tên Kỷ, Thụy Xuân liền quay sang cái Xoan giọng khẩn khoản. 


- Mày không cần lo! Con Thục khi nãy vừa nghe thấy mấy chữ Lê hiền sĩ, nó đã chạy đi trước rồi.


Thở ra một hơi, Thụy Xuân đưa tay chậm chậm mồ hôi trên trán và hai bên thái dương.


- Cặp đối của thằng đó… nghĩa là gì?


Vừa dọn dẹp lại quầy chữ cùng nhau, Xoan vừa hỏi Thụy Xuân.


- Ngóng Bắc nghênh xuân, muôn nhà chung hưởng phúc. Trông Nam một thoáng, cả xuân chẳng thấy hoa. Ý nó nói là, trông về nước Ngô thì sẽ được ân điển mà vui đón xuân, còn vẫn cứ nhớ hoài nước Nam, thì chẳng bao giờ có được ân điển. Đó là ẩn ý răn đe đó.


- Thằng chó mất gốc, nó còn là người Việt không thế.


Xoan nghe xong tức lắm, vô tình nện mạnh nghiên mục xuống án gỗ nghe CỘP một tiếng. Vừa dọn xong bút nghiên, ngồi thở và chuyện gẫu với nhau được vài nhịp thì phía ngoài đã nghe tiếng ý ới của mấy anh gia nhân nhà Chú Ba, đánh xe bò ra chở cả bọn về nhà.


- Về thôi nào các cô gái ơi, chiều xuống rồi… ỐI! Bà Chiêm Thành nào thế này, còn Thụy Xuân đâu, hở Xoan?

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px