CHƯƠNG 8
Chương 8
Lạnh lùng sóng bạc canh ba
Nát lòng con thảo vớt cha giữa dòng
Vào một sáng mùa đông tại ngôi làng chài nằm ven biển xứ Thanh.
Cái tiết trời lạnh lẽo trọng đông nhuộm lên không gian một màu nắng hanh nhợt. Sương mù từ biển thổi vào còn bảng lảng trên những mái tranh vách đất liêu xiêu, hòa cùng làn khói bếp nghèo nàn đượm nồng mùi cá nướng xém. Sóng đánh từng cơn nghe rì rào dội vào bãi cát vàng mịn xen lẫn âm thanh lao xao của buổi chợ sớm. Cánh đàn bà con gái, đầu chít khăn chàm, mặc những chiếc áo nâu sồng vá chằng vá đụp, nách cắp rổ tre, bì bõm lội nước ý ới đón những chiếc thuyền buồm vừa cập bến sau những chuyến đánh bắt dài ngày ngoài khơi xa. Mấy cụ già tóc bạc phơ khoác thêm chiếc áo tơi lá, cùng lũ trẻ mặc manh áo cộc lúi húi trên bờ cát, tay thoăn thoắt kéo dãn những cuộn lưới đay dài dằng dặc ra phơi trên giàn tre, cặm cụi vá lại từng mắt lưới rách bằng sợi gai đã nhuộm nước vỏ vẹt. Cảnh vạn chài buổi sớm vẽ ra một bức tranh thôn dã thật dung dị, yên bình, mà cũng có phần lam lũ, nghèo nàn của sinh dân thời loạn lạc.
Trên bãi cát vàng của khu làng chài nghèo đó, có một cậu thiếu niên trông mới trạc độ mười hai mười ba, nhưng lại có thân thể cường tráng, người dong dỏng cao, đánh trần giữa trời đông phô ra nước da nâu rám nắng, lưng và vai xăm kín hình thuồng luồng và vẩy cá, đầu cạo trọc lóc, đang cuộn một cuộn lưới lớn, chuẩn bị dong chiếc thuyền nan theo cha già ra khơi đi lộng. Nghe đâu gốc gác nhà này ngày trước cũng là quan chức triều đình, nhưng từ khi người Minh vào lấn đất, nhân tâm bất phục, cả họ kháo nhau từ quan bỏ về quê lập kế sinh nhai. Cảnh sáng thường ngày đương dân dã như vậy, chợt trông ra thì thấy có một toán quan quân Đại Minh chừng hơn chục người ngựa đi tuần, dẫn đầu là một viên Bách Hộ đội mũ trụ chóp đính lông chim, đánh con ngựa điều đi nước kiệu đủng đỉnh dẫn đầu đoàn tiến tới. Viên võ quan ấy trông thấy cha con dân chài nọ, liền dừng ngựa dương cặp mắt cú vọ ra mà dò xét. Đâu đó vài khắc, lập tức hắn vung roi ngựa trỏ về phía cậu thiếu niên kia mà nói bằng tiếng Việt rất rõ:
- Thằng bé kia nom bộ được dáng, mày về ở với ta, ta dạy cho võ nghệ, sau này làm binh sĩ cho mẫu quốc.
Cậu thiếu niên kia chưa kịp trả lời rằng có đồng ý hay không, liền ngay có hai viên kỵ binh giáp trụ đầy mình thúc ngựa xông lên cưỡng chế. Cậu quay đầu chạy, ăn ngay một roi ngựa vào lưng nổi hằn mà té xấp xuống. Người cha già trên thuyền thấy nguy nhảy tõm xuống lội vào cúi lạy nức nở, bị ăn mấy roi vào vai, vào ngực ngã lăn ra, còn cậu thiếu niên thì bị quân Minh bắt về doanh trại.
Sống trong quân doanh mấy ngày, viên Bách Hộ dùng đủ mọi biện pháp khuất phục, từ đánh đập, bỏ đói đến rũ người, đến khuyên răn và vẽ vời tương lai về một chiến tướng phương Bắc rạng danh, cậu thiếu niên cũng không hề lay chuyển. Viên võ quan tức khí, lôi cậu ra xích cổ vào một cột cờ cắm giữa doanh trại, để cậu phơi nắng phơi sương giữa sân hai ba hôm liền. Đến một buổi chiều, trông thấy bọn quân lính tấp nập kéo nhau thu gom lại quân khí, chất những thứ quân nhu dần lên những chiếc xe bò kéo, cậu nghe loáng thoáng bọn lính tráng bảo nhau rằng, sớm mai sẽ nhổ trại hành quân về Tây Đô. Mấy điều đó nào có là gì quan trọng đối với một cậu thiếu niên bất cần đang bị xích cổ như một con chó, đến cái chết cậu còn chẳng màng, huống chi…
Nhưng cho đến chập tối, cậu thiếu niên mới hốt hoảng khi đột nhiên có toán kỵ binh vài người ghìm cương ngựa hí vang trước cổng doanh. Bọn chúng lôi xộc xuống một người trung niên vóc dáng gầy guộc quen thuộc, té lăn trên nền cỏ, người đó chính là cha cậu. Trông thấy con trai bị xích cổ tại cột cờ giữa sân, ông cụ vội chồm người dậy líu ríu chạy xô tới chỗ cậu con vỗ về than khóc.
Sớm hôm sau, quân Minh lục tục nhổ trại khởi hành khi tiếng con gà còn chưa kịp gáy sáng, hai cha con cậu thiếu niên bị xích nối nhau vào một chiếc xe bò chở quân nhu, chầm chậm tiến theo đoàn quan quân. Trên đường Tây hành về trung tâm hành chính phủ Thanh Hóa, người Minh hết dùng đòn roi, rồi đến khuyên dụ, dùng cả chính người cha già của cậu để hăm dọa, nhưng cha con cậu thiếu niên vẫn không hề tỏ ra khuất phục. Sau mấy ngày đường trường, quan quân đóng lại tại một trảng trống cạnh khúc quanh sông hẹp. Chiều hôm ấy, có lẽ do đã quá mất kiên nhẫn với cậu thiếu niên, viên Bách Hộ bước xốc tới nắm cổ cậu xách lên mà quát:
- Mày mình rồng mắt hổ, trời sinh cho tướng võ biền, thế mà quyết không chịu phục tùng chúng ta. Sau này nếu có kẻ cầm hùng binh, đánh đuổi chúng ta đi, thì đó chắc chắn là thằng giặc nhà mày.
Tiếng quát gay gắt của viên Bách Hộ vang lên, nhưng nghe trong đó không chỉ là sự hung ác vô cảm như sói hoang. Bảng lảng như khói lam hắt ánh chiều tà ấy, còn chất chứa sự bất lực, giọng tiếc nuối, và một chút nể phục của một viên võ tướng đất Bắc dành cho một đứa trẻ phương Nam bất phục.
Khi tiếng quát vừa dứt, viên Bách Hộ lôi xộc cậu thiếu niên mang ra ngoài chém, trong khi mặt cậu nhỏ vẫn trơ như đá gỗ không hề biến sắc. Cha của cậu thấy mà phục xuống dập đầu đến rỏ máu khóc xin, hết van nài viên Bách Hộ lại đến khuyên răn đứa con dại nên cúi đầu phục tùng, lê lết ra đến tận giữa doanh. Đến khi thấy cậu con trai quỳ dưới cột cờ, tay vẫn còn xiềng xích, viên Bách Hộ đích thân vác đao lên hành hình, người cha già mới run run thốt ra từng chữ:
- Bẩm… quan quân… con tôi mới mười ba, nó phải tội mà chết, tôi không dám can… nhưng xin quan ban cho tôi… một ân huệ… xin hãy tháo gông cùm cho thằng bé… để nó chết…
Người cha nuốt nghẹn - "...Được làm ma tự do".
- Được, được, khẩu khí tốt, khẩu khí tốt lắm.
Viên Bách Hộ khen, sau đó đích thân nhận lấy chìa khóa tháo gông cùm cho cậu.
Bấy giờ, người cha già hom hem kia, đôi mắt đã hoen ướt và đỏ ngầu, đối lại với cặp mắt rực lửa, cương trực của đứa con mình đang quỳ dưới cờ chờ xử chém, khi viên quan nọ đã thủ thế dơ hai tay cầm đao lên quá đầu.
- CHẠY ĐI CON, CHẠY NGAY ĐI MÀ PHỤC THÙ CHO CHA, CHO NƯỚC.
Trong một khắc bất ngờ, người cha già tung mình lao lên xô lấy viên quan nọ ngã ra, miệng gào to bảo cho đứa con nhỏ vùng lên chạy.
Cậu thiếu niên trẻ tuổi như một con mãnh hổ đang phục mình bừng tỉnh, quay người tông thẳng vào vòng tròn lính tráng đang bao quanh, lực tông hổ báo húc ngã cả hai ba tên lính, thoát vây mà xông ra ngoài. Chưa dừng ở đó, cậu ta cứ cắm đầu lao lên như một con mãnh thú, thẳng tới phía một tên lính tuần đang cưỡi ngựa, cái nộ khí xung thiên đó làm con ngựa đâm hoảng mà lồng lên, cậu ta chớp thời cơ phóng lên húc tên lính ngã xuống, rồi nắm cương cướp ngựa mà chạy như bay.
Ngoái phía sau cũng có vài tay kỵ binh xua chó ngao đuổi gấp đến, cậu nhỏm người vung tay đập chan chát vào mông ngựa, con chiến mã hí vang tung nước đại làm cậu chao đảo suýt té vì chưa thạo thuật cưỡi ngựa. Cặp người ngựa lao thẳng xuống một khúc sông hẹp rồi băng qua bờ bên kia, mất hút vào mé rừng gần đó trong khi quân Minh ở bờ bên này chỉ kịp dắt chó trờ tới bờ sông, mọi việc diễn ra quá nhanh chóng và dứt khoát.
***
Sau cái đêm định mệnh mổ sống Đinh Liệt lấy đạn ra giữa rừng sâu, cậu nhỏ phải hôn mê đến tận một ngày một đêm sau mới tỉnh lại. Anh em Lam Sơn chặt lá rừng đan một chiếc cáng, khênh cậu đi thêm mấy dặm sâu vô rừng nữa rồi mới dám dựng lán dã chiến, nghỉ lại dài ngày bên một bờ suối giữa những tán cây um tùm đủ để che đi khói bếp. Nhân Chú cùng Ức Trai đánh hai con ngựa đi đến vài bản làng lân cận, hỏi han thuốc men của mấy cụ thầy lang người Thổ và mua thêm vải thô để băng bó, đem về chăm sóc dưỡng bệnh cho Đinh Liệt. Thuốc thang đều đặn, thay băng thường xuyên, cũng phải ngót gần nửa tháng trời, cậu nhỏ mới cố gượng dậy cưỡi ngựa đi tiếp cuộc hành trình được.
Đinh Liệt, bả vai bên trái băng bó chằng chịt, cả cánh tay bị buộc ép chặt vào ngực, được mấy ông anh đỡ lên ngựa một cách khó khăn, nắm cương ngựa bằng một tay, mặt nhăn nhó tiến chậm từng bước một. Cho đến chiều muộn, khi cả đoàn vừa đến được cung đường mòn thợ săn men theo lạch suối cạn xuyên rừng dẫn về Lam Sơn, bất ngờ từ phía bên kia con suối, rẽ mớ cây rừng bụi rậm xông ra một dáng người ngựa.
Một cậu thiếu niên trạc mười hai mười ba tuổi, da nâu rám nắng, đầu cạo trọc lóc, áo tơi xốc xếch để lộ ra hình xăm thuồng luồng quanh ngực, hốt hoảng loạng choạng lao ngựa băng suối tông sầm vào Lý Tường, cả hai ngã nhoài ra đất.
Cả bọn hoảng hồn, Đinh Lễ nhảy xuống đỡ Lý Tường đứng lên trong khi Ức Trai vừa mới khó khăn trèo được xuống ngựa, chạy tới hỏi han và phủi phủi cho học trò. Phía bên kia, Lưu Nhân Chú đưa một tay bắt lấy tay của cậu bé kéo dậy:
- Mày chạy đâu mà dữ vậy cu?
- Quan quân… quan quân anh ơi… chúng nó bắt…
- VÀO RỪNG!.
Vừa trờ nghe thấy hai chữ quan quân, Nhân Chú lập tức ra hiệu với mọi người, đi bộ dẫn ngựa bỏ đường mòn tiến sâu trở vào rừng già. Rừng rậm phương Nam luôn là cơn ác mộng với những binh sĩ viễn chinh Bắc quốc. Càng đi vào sâu hơn, cây cao, bụi thấp, dây leo ngang dọc ngày càng dày đặc.
Tiến qua hàng hàng lớp lớp những thứ cành lá bụi rậm, đến một cây lim cổ thụ cao chọc trời, lại rẽ về hướng mà nơi đó qua những tán cây, ánh mặt trời đỏ chói đang khuất dần xuống sau những rặng núi trùng điệp.
- Em lo cho cha em quá.
Lúc này, cậu bé vừa va vào đoàn khi nãy, mới lên tiếng.
- Cha em cũng bị giặc bắt hả? Lê Lai hỏi.
- Chúng bắt em ở quê nhà ven biển, do em không chịu phục, đến khi hành quân về Tây Đô chúng bắt luôn cả cha em cùng đi để dọa nạt.
Cưỡi ngựa bước chầm chậm trên một nền sỏi ven lạch suối nhỏ, cả đoàn cùng nhau im lặng nghe câu chuyện qua vài lời kể cụt ngủn vô cảm xúc về tuổi trẻ nghiệt ngã của cậu thiếu niên mới đến mang tên Trịnh Khả.
- Cu em mà quay lại, chúng cũng giết cả cha lẫn con thôi.
Lưu Nhân Chú đáp lạnh.
- Đúng rồi.
Trịnh Khả đáp, mặt không hề có một biểu cảm gì khác ngoài cái vẻ rầu rầu trầm ngâm từ nãy đến giờ.
Hạ trại tại một trảng trống sạch ven suối, cả đoàn chia nhau ra, người thì câu cá, người thì đào măng bẫy thú, người thì đi nhặt củi nhóm bếp chuẩn bị cho một đêm đông giá rét nữa giữa rừng già.
Sớm hôm sau, khi con gà rừng vừa mới gáy sáng, mọi người lại nghe văng vẳng từ phía bìa rừng tiếng chiêng trống khua liên hồi. Cậu thiếu niên Trịnh Khả vừa dậy, nghe thấy thì cứ nhăn nhó và nhấp nhổm hết cả người lên. Mọi người thấy lạ bèn hỏi, lúc này cậu nhỏ mới quay về phía Nhân Chú mà khẩn khoản:
- Anh ơi… anh ơi dắt em ra bìa rừng… cha em… em lo quá.
Nhân Chú biết chuyện nhà cũng đang rất gấp, nhưng thấy bộ dạng cậu bé, anh cũng không cầm lòng được, siết chặt đôi tay đương chưa biết suy nghĩ ra sao.
- Hay… chúng ta quay trở lại bìa rừng một chuyến, cậu bé này thật hiếu thảo, nom bộ thà bị lạc trong rừng còn hơn đi tiếp cùng chúng ta.
Ức Trai tiên sinh lên tiếng.
- Vậy cứ để tôi dắt thằng nhỏ ra bìa rừng, mọi người tạm nán lại đây
Nhân Chú giọng lo lắng đáp.
- Em đi được
Đinh Liệt cất giọng.
- Mày đang bị thương nặng lắm, sợ…
- Lưu huynh lo quá, em vẫn cưỡi ngựa theo mọi người được mà.
Đinh Liệt vùng vằng, đứng ngay dậy tiến về phía con ngựa điều của mình. Đinh Lễ chực nhổm dậy ghì vai áo, cậu ta vung mạnh ra, ông anh trai sợ động vết thương cậu nhỏ nên cũng không dám làm gì hơn. Đinh Liệt một tay nắm cương ngựa, đặt chân lên bàn đạp rồi nhảy phóc lên ngồi vắt vẻo trên yên, có lẽ hơi chạm vào vết thương nơi vai trái khiến cậu ta khẽ nhăn mặt, nhưng ngay lập tức lấy lại thần thái. Nhân Chú lắc đầu, rồi cùng đoàn người tót lên ngựa. Không ai nói thêm lời nào, chỉ thấy yên ngựa đã chỉnh, dây cương đã siết, còn chí hướng thì cùng chung như một.
Thả nước kiệu men theo suối hơn nửa canh giờ, Nhân Chú gọi Lê Thạch lên giao đoàn người cho dẫn tiếp đi từ từ ra bìa rừng, dặn dò Lê Lai bọc hậu, còn riêng anh thì tế ngựa đi tiền trạm phía bìa rừng trước xem có mối nguy không.
Cả đoàn đi tiếp một thoáng thì thấy Nhân Chú đánh ngựa cặp suối trở về, anh ra hiệu an toàn và gọi cả bọn tiến nhanh cùng anh. Đến sát mé rừng, xuống ngựa nấp ở một mô đất cao rậm rạp trông ra nhánh sông, phía bên kia bờ là một quân doanh Đại Minh, đếm sơ phải đến hơn hai trăm người cả binh sỹ cả phu phen.
Lều trại đang được các phu dịch tháo ra gấp gọn, chất lên những chiếc xe bò kéo đầy ắp quân nhu. Binh sĩ Đại Minh hơn trăm người đang đứng xếp thành những hàng dài chỉnh tề, phía đầu hàng quân là một viên Bách Hộ mặc giáp trụ, cùng hơn chục kỵ binh hộ vệ đang điểm binh chuẩn bị khởi hành, và… Ở phía một chiếc cầu bến gần đó, có một người đàn ông gầy gò khoác manh áo tơi sờn rách, đang bị áp giải quỳ xuống, eo thắt dây đeo thêm những hòn đá to trông rất nặng.
Trịnh Khả vừa thấy cảnh đó, toan vùng lên nhưng liền bị Nhân Chú vòng tay bịt miệng ghì chặt lại, Khả từ từ dịu xuống, thở lên từng cơn nặng nề, mắt bắt đầu nhòe đi.
Một hồi tù và vang lên, đoàn quân Đại Minh người ngựa bắt đầu hành quân theo hàng lối rất ngay thẳng, chiêng trống rầm rập, nào có ai ngờ nơi mé nước, vừa mới vang lên một âm thanh nghe sao thật lạnh lùng.
TÕM!
Ở phía cầu bến, vài tay lính Minh còn sót lại cũng đã lên ngựa, tiến đến nhập vào đoàn quân. Mép nước nơi đó gợn lên nhấp nhô những con sóng, và… người đàn ông gầy gò cột đá ngang eo, vừa bị chúng đá một cú lộn xuống sông.
Nghe một tiếng rít nổi hết cả gai óc vang lên bên cạnh, trông sang thì thấy Trịnh Khả lồng lên, như con hổ dữ trúng lao mà nộ khí xung thiên, đôi bàn tay bấu chặt xuống đất hằn lên những vệt dài sâu hoắm. Lưu Nhân Chú gồng mình ghìm chặt Khả lại, một tay bịt miệng, tay kia siết ngang vai, bắp thịt từng thớ cuồn cuộn run lên. Nhìn cậu nhỏ thì biết nó khỏe đến cỡ nào, mà Nhân Chú phải mím răng mím lợi, căng mình nổi cả gân trán như vậy. Nghe nơi mũi Khả sụt sùi đặc nghẹt lại, mặt cậu đỏ bừng, nước mắt tuôn như suối nóng hổi ướt cả bàn tay Nhân Chú. Gió đông lạnh buốt gợn lên từng cơn nơi phía mặt sông ôi sao tê tái lòng người. Lồng lên một hồi, Khả đuối sức, dần dịu lại, gục xuống mà thở khò khè.
Dìu cậu bé về phía con ngựa, cả đoàn toan ruổi ngựa đi tiếp thì thấy gì đó bất ổn, ngoái nhìn thì thấy cậu bé kia lững thững đánh con ngựa đi thẳng ra hướng sông. Lê Lai và Lê Thạch liền phóng theo kéo lại. Thạch cốc cho lên đầu một cái, dắt về Nhân Chú gắt hỏi tại sao đi ra đó.
- Em phải vớt xác cha em lên… đốt lấy cốt về thờ.
Trịnh Khả đáp, hai dòng nước mắt vẫn chảy dài, nhưng trên một gương mặt giờ đây hình như, không còn cảm xúc gì nữa.
Cả đoàn người dù cũng không ai có biểu cảm gì, nhưng chắc chắn trong lòng ai cũng cuộn trào một thứ cảm xúc bi tráng, cái khí khái của cậu thiếu niên kia làm cho mọi người ai cũng phải thoáng rùng mình. Lưu huynh bất giác ngửa mặt lên trời, nheo mắt lấy hai ngón tay bấu chặt cánh mũi, có lẽ… anh ta cũng đang cay nơi sóng mũi.
Sao thằng oắt này, giống mình ngày trẻ thế nhỉ. Lúc giặc Ngô chém đầu cha mẹ, rồi đập chết anh trai ngay trước mặt, mình cũng phải nuốt căm hờn mà nhảy xuống sông, hòng nuôi chí mai sau phục thù, nhưng năm đó… mình đã mười tám, còn thằng nhõi này… chỉ mới mười ba.
Ức Trai chậm rãi tiến đến, đặt đôi tay lên vai cậu bé. Ông nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ hoe ngấn nước của Trịnh Khả, giọng thấp xuống nhưng đầy sức nặng.
- Giặc Ngô mới đi có vài bước, bây giờ con qua đó, chúng nó thiêu con trước, trước khi con kịp thiêu xác cha con.
Nói đoạn, Ức Trai quay sang Nhân Chú:
- Hay là… chúng ta đóng lại gần đây nghỉ đến đêm nhé, chờ đến đêm nay sẽ cùng nhau lặn tìm cha cậu bé?
- Được thôi… hãy theo ý tiên sinh.
Lưu Nhân Chú gật đầu đáp lễ.
Đêm hôm đó, cơn gió đông thổi qua mặt sông phả vào khu rừng từng cơn lạnh buốt. Tiếng con chim đi ăn đêm đâu đây rúc lên từng hồi, sương thì cứ chao đảo lơ lửng trên con nước đen ngòm làm cho khung cảnh sông đêm không trăng càng thêm huyền hoặc.
Bên một hố bếp sâu lòng chảo của quân Minh để lại sau khi nhổ trại, thầy trò Ức Trai cùng Nhân Chú và anh em Đinh Lễ, Trương Chiến đi xung quanh nhặt nhạnh những khúc than củi cháy dở đen nhẻm, trên còn dính lại dầu mỡ, gom về vun thành đống dưới hố. Lê Thạch và Lê Lai chạy nhanh vào rừng, lát sau mang ra mấy khúc tre dài cỡ một hai thước Việt. Nhân Chú mở nắp ống tre châm lên một mồi lửa. Trịnh Khả đứng tần ngần nãy giờ, trông thấy mấy ông anh cứ chụm đầu lại thổi phù phù xuống hố bếp cháy củi than đỏ hồng mãi mà không lên lửa, cậu nhỏ toan kéo chiếc chăn lông gần đó vứt xuống hố thì lập tức bị Đinh Lễ lôi lại.
- Thằng đần này, mày vứt thứ này vào nó cháy bừng lên, quan quân cách cả chục dặm nó biết thì cả lũ bị gô cổ đấy.
Ức Trai trông thấy thì bật cười, nói giọng nhẹ nhàng và điềm tĩnh với cậu nhỏ:
- Cầm chăn ra sông nhúng ướt quanh mép đi con, nhúng nước ở bốn mép chăn thôi nhé, ở giữa phải để khô ráo, đi đi rồi mang chăn vào đây cho ta.
Trịnh Khả ôm chăn phóng vụt ra sông, chốc sau mang vào một tấm chăn đã nhúng ướt bốn mép như lời Ức Trai đã dặn. Khi ngọn lửa âm ỷ dưới hố đã cháy hồng đều, tiếng củi nổ lép bép kéo theo vài đốm lửa nhỏ bay lên theo gió. Ức Trai gác mấy thanh tre ngang dọc kê cao trên miệng hố, phủ tấm chăn lông lên, lèn chặt bốn mép chăn ướt xuống vành hố, vừa làm ông vừa ôn tồn giảng giải cho cậu thiếu niên Trịnh Khả đang ngồi bó gối thẫn thờ bên cạnh, tận hưởng hơi ấm của ngọn lửa cháy âm ỷ dưới hố bếp đang dần tỏa ra xung quanh giữa đêm đông lạnh lẽo.
- Biết sao chúng ta phải làm như này không? Là vì chúng ta không được để lửa cháy bừng lên thành ngọn như khi con đốt lửa trại, ánh lửa sáng giữa đêm và cột khói cất cao sẽ đánh động những toán tuần canh xung quanh. Mình dùng củi than đã cháy đượm để lửa chỉ cháy hồng âm ỷ, tận dụng hố bếp để che đi phần nào ánh lửa sáng, phủ chăn lên trên để hãm bớt khói lại không tỏa thành từng cụm bốc lên cao.
Màn đêm cứ im lìm trôi qua, cho đến khi tiếng trống điểm canh tại một ngôi làng gần đó vang lên báo hiệu cũng đã khuya lắm, thì tại khúc sông đen ngòm ngay chiếc cầu bến cách hố bếp chừng vài chục bước chân.
- Tối quá huynh ơi, em không thấy gì để tìm cả. Lê Thạch ngoi lên.
Át xì… khụ… khụ khụ… shttttt… Lê Lai ngoi lên.
- Ai lạnh quá thì cứ lên bờ đi, để anh tìm tiếp với thằng nhỏ.
- Quái! Rõ ràng thấy cột đá thả ngay đây… Lê Thạch hoang mang.
- Chắc do nước đêm tối đen, anh cũng chả thấy gì để mò cả. Thôi hai đứa bây mệt thì lên nghỉ đi, để anh với anh Chiến tiếp thằng bé.
Lê Lai và Lê Thạch bơi vào bờ, ngay lập tức tuột hết đồ ướt ra thay, rồi nhận lấy hai chiếc chăn lông từ tay hai thầy trò Ức Trai, cuộn tròn lại ngồi bên hố bếp, run cầm cập mỗi khi có cơn gió thổi qua. Chốc sau cũng thấy Trương Chiến đi lên, quấn chăn cùng nhập bọn, dưới sông giờ đây chỉ còn Lưu Nhân Chú và cậu thiếu niên Trịnh Khả.
- Thằng cu đó đúng dân miền biển, mình phải ngoi lên đến ba lần thì nó mới ngoi lên một lần.
Trương Chiến tấm tắc khen, nhóm Lam Sơn ngồi quanh đống lửa cũng gật gù chậc lưỡi. Thoáng sau, nghe ngoài khúc sông có tiếng quẫy nước ùm ùm, quay nhìn thì thấy Nhân Chú đang cố xốc nách thằng nọ lôi vô. Trịnh Khả như con cá kình mắc cạn, chân tay nó quẫy nước đánh ỳ oạp từng cuộn sóng to vỗ vào bờ. Sau một hồi vùng vằng, cũng thấy Nhân Chú buông thằng nhỏ ra, lội vào cùng nhập bọn bên đống lửa trại đêm đông.
- Ôn con! Đầu nó cứng như đá. Lưu Nhân Chú hằn học gắt qua kẽ răng.
- Rồi huynh tính để thằng kia ngụp lặn ngoài đó cả đêm vậy hả?
Đinh Liệt hỏi. Cậu trẻ lúc này đã tươi tắn lại phần nào, vết thương do được thay băng thường xuyên, lại gặp trời đông hanh khô, nên cũng kéo da non nhanh lắm.
- Chứ giờ tao biết làm sao! Nó quẫy như thuồng luồng, bọn lính tuần kiểm quanh đây nghe động kéo đến thì vạ cả lũ.
Nhân Chú đáp, vẫn còn đang rất bực.
Dưới làn nước đen ngòm buốt lạnh giữa trời đông, giờ chỉ còn mình Trịnh Khả. Cậu ta lặn xuống, rồi lại ngoi lên, hợp một hơi thật sâu rồi lại lặn xuống như con rái cá săn mồi. Đúng thật như lời khen của Trương Chiến, Khả là dân miền biển, hơi rất sâu, lặn một lúc lâu mới lại ngoi lên thở, lặn êm đến nỗi mặt sông đêm tĩnh lặng không một tiếng gợn sóng. Quờ quạng dưới lòng sông đêm đặc lạnh buốt, bất ngờ bàn tay Trịnh Khả chạm trúng một thứ gì lạnh lẽo nhưng không phải những cạnh đá cứng. Một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng, Khả hối hả mò mẫm rồi nắm chặt lấy thứ đó, chính là cẳng tay của người cha quá cố tội nghiệp. Bằng cảm giác của đôi bàn tay, Khả lần đến xốc ngang nách cha trồi lên, nhưng chỉ được một đoạn ngắn thì không thể nào ngoi lên được nữa. Cậu thiếu niên cố sức, hai má phồng lên, bong bóng từng cụm nổi lên ồng ộc qua mũi và miệng. Cảm giác lồng ngực bắt đầu tê dại đi, đôi tai nhức buốt lên, bất ngờ thi hài cha cậu tuột ra khỏi tay rơi lại xuống lòng sông. Khả cố chúi đầu xuống bắt lấy, nhưng lồng ngực tê buốt và bản năng sinh tồn buộc cậu phải ngoi lên mặt nước. Hớp một hơi thật sâu, bầu không khí lạnh buốt căng tràn lồng phổi. Một lần nữa, Trịnh Khả lặn sâu xuống lòng sông, lần mò bứt tung một đám rong nước đang quấn chặt lấy chân của cha cậu.
Nhóm tráng sĩ Lam Sơn ở trên bờ sốt sắng, mắt luôn nhìn về nơi Trịnh Khả đang ngụp lặn. Nhân Chú và Trương Chiến chờ một hồi sốt ruột, vừa tung chăn đứng lên định tiến ra bờ sông thì trông thấy Trịnh Khả ngoi lên, bơi từ từ vào bờ, trên vai cậu chính là thi thể người cha cứng đờ lạnh lẽo, eo vẫn còn buộc chặt mấy tảng đá to.
Cả bọn lao ra, người toan đỡ lấy xác cha, người tiếp chăn lông, nhưng cậu bé… không nói không rằng, mặt lạnh như con nước đêm đông, vác xác cha trên vai, nhẹ nhàng đặt xuống bên hố bếp, lần tay cởi sợi thừng buộc đá quanh người cha.
- Cởi áo ra đi con, quấn chăn vào kẻo…
Ức Trai chưa kịp nói hết câu, Trịnh Khả đổ xuống ngất lịm đi ngay dưới chân ông, cạnh bên xác cha.