Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

CHƯƠNG 6



Ưng bằng vùng vẫy non xanh

Lồng giam cũi nhốt há đành bó thân?



Hơn tám năm nay, ta vẫn nhớ như in cái đêm mưa dầm lạnh lẽo ấy, khi cha ta vẫn còn nắm chặt tay ta trên đoàn thuyền áp giải về phương Bắc. Cha khẽ kề tai, giọng run run nói: “Con là người có học, có tài, nên quay về mà tìm đường cứu nước, cứu dân, phục thù cho ta, ấy mới là đại hiếu.” Rồi sau, cha nắm tay chầm chậm dắt ta về phía mạn thuyền vắng, nuốt nước mắt bất ngờ xô ta ngã dúi thẳng xuống dòng sông lạnh giữa đêm mưa tầm tã. Ta thấy cha đã khóc nấc lên, sau đó nước sông lạnh buốt đã buộc ta phải sinh tồn.

 

Trôi dạt vào một bãi vắng, ngất lịm bên một ngôi miếu nhỏ, đêm nằm mê sốt trông ra ta thấy trời cao rơi xuống một ngôi sao ở phương Nam xa xôi. Sớm sau tỉnh dậy, đầu vẫn đương choáng, ta liền rảo bước thẳng hướng Thanh - Nghệ mà đi, ngờ đâu lại bị giặc Ngô tuần phiên bắt lại giải về cố kinh. Chúng áp giải ta thẳng vào trướng Trương Phụ, nó đòi moi gan ta ăn ngay, ngờ đâu có viên quan họ Hoàng ngăn lại, rồi giải ta về giam lỏng ở tư phủ hòng thuyết dụ về sau. 

 

Tám năm, ta không ngừng tìm cách tẩu thoát khỏi cái chốn kinh kỳ này, nơi từng gửi gắm tuổi thơ và cả đời trai trẻ, nhưng giờ đây, nó không khác gì một chiếc cũi sắt giam hãm cánh chim bằng bay về với bầu trời tự do. Ta thường ra ngoài, kết giao phủ dụ muôn dân mà nạp tâm phúc, đêm về, ta lại hiu hắt chiếc đèn dầu trong phòng kín, thảo ra những kế sách Bình Ngô, nuôi mộng sớm ngày gặp được bậc minh quân cùng nhau xây dựng chí lớn. 

 

Thả ánh mắt đăm chiêu, trông ra xa nơi phía mặt sông gợn sóng, chả buồn đả động gì đến bát cháo lạt trước mặt, mặc dù từ khi bị bắt đến nay mấy ngày trời, Ức Trai tiên sinh cũng không buồn ăn uống gì, thân thể gầy hom hem lại. Tên thổ binh áp giải ngồi cạnh quay sang, chỉ nhún vai nhếch mép cười lên khinh khỉnh, miệng bóng lưỡng mỡ màng.

 

Cho đến mùa đông năm nay, khi trời đổ rét đậm, lương thực mùa gặt mới qua phần lớn bị giặc Ngô thâu chiếm. Nạn đói xảy ra giữa đông, dân chết như rạ, dịch bệnh lan ra trong kinh kỳ như một cơn cháy rừng.

 

Ta sai lũ bề tôi thân cận còn sót lại ra ngoài kiếm những thứ lá thảo dược, ngày ngày trong nhà sắt thuốc chia thang khói bếp mịt mù. Trời xuống chạng vạng, ta lại cưỡi con ngựa gầy, mặc áo khoác dài, đeo khăn che mặt, đội nón rộng vành quải bao thuốc Nam đi đến từng nhà đương tắt lửa tối đèn mà săn sóc.

 

Trưa hôm ấy, ông cụ ngư dân tội nghiệp gần nơi tệ xá tồi tàn của ta qua đời, lũ con cháu khóc vang lên trong cái lạnh cắt da mùa đông tháng mười một. Ta hớt hải chạy sang, nhà ấy giờ đây kiết xác đến cả tấm áo quan cũng không thể quàn cho cho cha già. Ta hỏi giờ tử bấm độn, thất kinh thay thác vào giờ thiêng, phải chôn ngay trong đêm nay nếu không sẽ đại họa. Nhà kia điếng hồn, khóc lạy sì sụt mà bảo không đủ tiền mua kịp áo quan. Ta thương xót, bèn nhận lấy bồn phận đóng quan. Ta còn nói với nhà nọ, hãy đi cầu thị muôn dân, nếu đêm nay cùng nhau thả đèn trời, và làm một đám tế thần tiến ra cửa Nam thả bè trôi sông Nhị, thì thần Long Đỗ sẽ hiển linh phò hộ cho qua tai ương.

 

Chạy vội về nhà, hội họp bọn gia nhân chia việc, vài đứa chạy đi loan tin, ta cùng hì hục với vài đứa nữa, chặt cái phản gỗ và vài cái tủ cũ còn sót lại trong cái tệ xá tồi tàn này ra mà đóng một chiếc áo quan hai ngăn, gián thêm vài lá bùa vàng, trên nắp quan lại khắc thêm mấy dòng kinh văn cổ. Dàn xếp đâu đó xong xuôi, đến chập choạng tối, ta sai người gia nhân tâm phúc, cưỡi con ngựa già mặc y phục của ta mà đeo theo bao thuốc rảo đi. Phu khênh áo quan đến nhà nọ, làm lễ nhập quan các thứ rồi lại vác quan tiến ra cửa Đông. Trong khi đó lúc này, mỗi người một đèn trời, mỗi nhà vài đèn trời, nhỏ to đủ hình dáng, đồng loạt thả bay lên cao như một khung cảnh kỳ ảo của thời hồng hoang. Hàng ngàn ánh lửa cùng bay cao, sáng rực cả một chốn kinh kỳ trông xa như trời sao đang đổ lửa. Một hàng dài đám tế thần, trống kèn dồn dập, giấy tiền và bột trắng bột vàng tung khắp đường, người người đeo mặt nạ quỷ thần nhảy múa ghê rợn, nườm nượp kéo nhau tiến ra cửa Nam.

 

Quan quân giặc Ngô thấy nhưng không dám kéo đông đến gần vì sợ cơn dịch bạo bệnh. Vài tên xốc tới quát tháo, đâm chọc vào các hình nhân giấy kiểm tra sơ qua rồi rút ra vì sợ bùa ngải đất Nam, quan quân chỉ cô lập một vòng xung quanh đề phòng nổi loạn đốt phá. Lúc ấy, ta đã nằm gọn ở ngăn thứ hai trong áo quan mà cùng nhà dân hỏa táng tiến về cửa Đông. Chợt ta nghe vọng có tiếng thét ở bên ngoài, chiếc áo quan đứng yên lại. Ta nghe tiếng nhà kia khóc than xin đường, rồi thình lình lại vài tiếng phầm phập như tiếng giáo nhọn đâm xuyên qua ván gỗ phía trên. Tưởng chừng đã yên, thình lình một ngọn giáo xuyên qua vách quan cắm thẳng đến hông ta, may sao hết đà, chỉ xước nhẹ rướm máu. Ta vội tì tay áo lau sạch máu, ngọn giáo rút ra, vài giọng trao đổi trịch thượng vang lên, có tiếng xâu tiền đồng leng keng đưa đẩy, rồi chiếc quan dường như di chuyển tiếp, ta vã mồ hôi hột thở phào.

 

Đương ngồi tư lự hoài niệm, Ức Trai liền nghe có tiếng hô hoán và tiếng phi ngựa từ hướng huyện lị theo đường tiến gần. Trông ra, đó là hai viên kỵ sĩ, mũ giáp xốc xếch, máu khô còn đóng khắp mình mẩy. Loáng thoáng nghe tên kia cáo cấp, rằng có bọn thất phu cướp ngục đại náo huyện lị, sáu huynh đệ đã bị chúng giết mất khi đang trên đường truy kích. Bọn chúng gan lì xấc xược, xông pha trận tiền như chốn không người đánh phá quan quân, hãy mau cho binh sĩ chuẩn bị đội hình, sợ rằng chúng sẽ kéo tới cướp người. 

 

Viên quan hiệu đội mũ trụ đính lông, trưởng đoàn áp giải liền lôi xộc Ức Trai xô vào xe cũi khóa lại. Sau đó, hắn hội họp cùng nhóm lính tráng, chia toán kỵ binh lên ngựa nấp bên vạt rừng gần đó, còn hắn ở lại trại cùng toán bộ binh đích thân chỉ huy chống trả. Quân bị sắp xếp đâu đó vừa yên một lúc, màn đêm như đang chìm dần vào tiếng gió đưa rì rào qua bụi cỏ lau ven sông.

 

- XUNG PHONG!!

 

Bất ngờ một tiếng xông trận gầm lên xé toang góc trời yên tĩnh, cùng lúc đó dáng dấp năm người kỵ sĩ khí giới vung sáng quắc, cưỡi lên bóng trăng mờ ảo phi nước đại hết mã lực như giông bão kéo cuồn cuộn xuống từ phía triền dốc đối diện. Viên chỉ huy thét lên một khẩu lệnh, nghe roạt một tiếng võ bị va chạm, binh sĩ Đại Minh quanh khu lửa trại khiên giáo chỉnh tề, quây thành một vòng quanh xe áp giải và viên quan hiệu đang đứng hiên ngang phất cờ ra lệnh.

 

Lẫy nỏ bật tanh tách vài tiếng, một mũi tên trong số đó xé gió cắm phập vào má đùi trước của Lê Thạch. Không một khắc khựng nhịp phi nước đại, Thạch lại còn vênh mặt cười lên sảng khoái, đưa tay bẻ gãy mũi tên, càng say máu múa chùy tế con ngựa ô dũng mãnh tăng tốc phi như một trận cuồng phong vào thẳng đội hình quân Minh.

 

Tiếng ngựa hí vang áp sát chỉ còn hơn ba chục bước, “ĐOÀNG” một tiếng pháo lệnh đanh gọn bất ngờ khai hỏa, nghe vạt rừng phía trái có tiếng hô hoán, thình lình từ trong đó phóng ra thêm bốn kỵ sĩ nữa, tay vung giáo dài, quan quân Đại Minh bộ kỵ phối trận chống trả. 

 

Thấy có biến, Lưu Nhân Chú ra hiệu chia hai nhóm, anh cùng Lê Thạch và tay vượt ngục rẽ ra đôi công với toán kỵ binh, còn Lê Lai và Đinh Liệt sẽ chặn hậu khống chế toán bộ binh áp sát.

 

Lê Thạch phớt lờ tiếng gọi của Nhân Chú, vẫn nụ cười khoái chí trên khuôn mặt, cùng mũi tên cắm trên đùi, anh ta phóng con ngựa ô vượt lên đầu đoàn lao thẳng vào bức tường khiên giáo của quân Minh dựng sừng sững trước mắt.

 

Mấy tay nỏ thủ phía sau thấy khí thế thôn ngưu đó, luống cuống lắp tên cài dây mà tay run bần bật. Đến một khoảng cách chỉ hơn bảy bước, khi ức con ngựa ô đã áp rất sát những ngọn giáo chĩa ra tua tủa, Thạch bất ngờ ném mạnh ngọn chùy, thanh chùy sắt lún thẳng vào mặt tên nỏ thủ tung tóe máu thịt hệt như đập mạnh vào một quả dưa hấu. 

 

Ném xong thanh chùy trong tay, Thạch mới đột ngột ghì cương ngựa, rẽ gấp qua phía trái đuổi theo nhập bọn cùng nhóm Nhân Chú và người tử tù, với tay xuống yên rút ra thanh chùy thứ hai cùng phối trận đôi công với nhóm kỵ binh vừa kịp áp sát đến. 

 

Nhân Chú đưa giáo gạt đường đâm lướt qua một tên kỵ sĩ, quay ngoắt lại trông thấy dáng con ngựa ô thì hoảng hồn thét lên:

 

- COI CHỪNG!

 

Tên kỵ sĩ vừa vượt qua Nhân Chú, thuận đà thúc giáo đâm tới Lê Thạch đang phi nước đại bám theo sau. Cậu ta lách người né đòn trong gang tấc, rồi thuận đà tay tung một chùy trời giáng vào mang tai tên kia bật tung cả mũ sắt, hắn ngã ngựa ôm lấy đầu mà co giật, máu tuôn ồng ộc ra từ thất khiếu. 

 

Thạch cười lên khoái trá, quay ngựa tiếp tục đôi công với một tên kỵ binh xông tới. Phía kia lại nghe một tiếng ngựa hí, trông sang thì thấy Lê Lai và con ngựa hởi đã ngã xuống nền cỏ, một tên lính vứt cả khiên xốc giáo đâm tới, ngay lập tức có ánh hàn khí lóe sáng. Một ngọn đoản đao phóng vút tới xuyên qua ngực tên lính nọ gục xuống chết, trông lên thì thấy đó là Đinh Lễ kịp phóng đao cứu nguy. Đứng dậy thủ cắp ngang ngọn giáo, Lê Lai thủ thế bộ chiến.

 

Thế trận quần thảo một hồi, tiếng binh khí va chạm cùng giọng thét hiệu lệnh và tiếng hô hoán vang lên váng cả một khúc sông vắng. Tên lính kỵ binh cuối cùng thân mặc kín giáp trụ, đương tung cả cặp vó ngựa lên không vung mã đao qua đầu mà bổ củi xuống người tù. Anh ta lập tức buông giáo, đưa cả hai tay chụp nhanh lấy cán đao mà đỡ, thanh đao tì sát lên vai, lực đánh nặng như núi lở làm con ngựa hồng của anh ta khuỵu cặp vó trước xuống, người tù mím răng gồng mình đọ sức với tên lính nọ. Bất thình lình một ngọn giáo đâm thẳng vào mạn sườn tên kỵ binh, bóng con ngựa nâu trán trắng theo đà phi nước đại hất hắn ngã nhoài xuống ngựa, Lưu Nhân Chú quay ngựa ghì cương, rút ngọn giáo đang cắm chặt vào sườn tên kia ra rồi lạnh lùng đâm bồi thêm mấy nhát nữa.

 

Trông về toán bộ binh, Lê Lai tung giáo phóng chết tên nỏ thủ cuối cùng, nhanh chóng xoay hông né một đường đâm thẳng tới, rồi dùng hai tay bắt gọn ngọn giáo tì vào eo dùng lực đòn bẩy xoay người quạt ngã tên thổ binh, tước giáo rồi đâm chết luôn tên nọ đang lồm cồm bò dậy. Sẵn giáo mới tước trong tay, anh ta lại phóng vút một phát trúng vào mạn sườn một trong ba tên Lính đang rời khỏi đội hình đôi công với Đinh Lễ lúc này cũng đã bộ chiến cách đó hơn mười bước.

 

Những tráng sĩ Lam Sơn kỵ bộ vây lấy nhóm bộ binh quân Minh cùng tên quan hiệu chỉ còn tổng cộng sáu người. Lính Minh tên nào tên nấy vẫn cầm giáo dơ khiên ép sát về phía xe áp giải, nhưng không thể giấu được từng cơn run rẩy của đôi vai như con nai hoảng loạn đối mặt với bầy sói dữ.

 

- Lũ thất phu kia, các người là giặc giã phương nào?


Chỉ có duy nhất tên quan hiệu dường như không hề tỏ ra nao núng, vẫn ung dung đứng giữa toán lính cất giọng quát đanh gọn, đúng chất một võ quan kiêu hùng của  Bắc Quốc. Nhưng đáp lại lời hắn ta, chỉ có tiếng gió thổi gợn từng cơn sóng sông vỗ nghe ỳ oạp, quyện với tiếng dế gáy và ếch nhái tạo ra một bản tấu nhạc của màn đêm.


- Lũ thất phu, các người đã giết quan quân, phạm tội tru di, nhưng bổn quan xét thấy chúng mày cũng là hạng võ dũng, nay nếu chịu hàng mà về phục dưới màu cờ Thiên Triều, ta sẽ bẩm xin ân trên tha cho tội chết.


Lưu Nhân Chú lạnh lùng, với tay ra sau lấy nỏ, nắm chặt cánh nỏ mà kéo dây bằng tay, lắp tên nhẹ nhàng đưa lên ngắm thẳng vào viên chỉ huy. 


- Ức Trai tiên sinh, ông là người Việt, xin hãy phiên dịch cho chúng nó được tỏ tường.


Tiếng lẫy nỏ đánh tách, mũi tên sắt xé gió lao vút, một tiếng KENG đanh gọn tóe lửa, bật tung cả mảnh giáp phiến che má, giật đứt dây chiếc mũ trụ rơi xuống, mái tóc dài của viên quan hiệu lập tức xổ ra tung bay trong gió, cùng một vết xước rướm máu hằn trên khuôn mặt. 


Nhân Chú tiếp tục kéo tay căng dây nỏ mà không cần đạp, lắp mũi tên thứ hai dương lên, lạnh lùng nghiêng đầu cất giọng bằng tiếng Hán chuẩn mực:


- Thả người!


Tên quan hiệu ngửa mặt cười vang giữa trời đêm, từng lọn tóc rối bù xõa rũ. Hắn quay người ra sau bước ung dung về phía xe áp giải, luồn chìa mở cũi, nắm cẳng tay Ức Trai khoan thai dắt xuống đứng bên cạnh, tiếp tục hướng mặt về phía Nhân Chú, vẫn giữ giọng điệu trịch thượng: 


- Ức Trai tiên sinh là người đọc thánh hiền, am tường đạo, thạo thiên thư, sao lại chịu theo lũ nghịch tặc mà đẩy sinh dân vào chiến loạn?


Bằng một giọng khoan thai không chút run sợ, Ức Trai cất lời đáp lại viên quan hiệu trong khi một tay vẫn bị hắn giữ chặt sát bên cạnh.


- Ai mới là kẻ đẩy sinh dân vào chiến loạn, trời cao khắc rõ. Nếu thiên hạ thực sự thái bình, tại sao dân Nam không ngừng nổi dậy, không ngừng chống lại chính các ngươi, ngươi có giải thích được cho ta không?


Một thoáng im lìm kéo dài giữa tiếng gió đêm và mùi máu tanh xung quanh đống lửa trại.

 
- Ức Trai, ông quả là chí sĩ đất Việt, đúng là… hắn cười nhạt, đưa tay vén nhẹ trường bào bên hông:  ...không nên để cho ông được sống. 


Chữ sống chưa kịp buông ra hết nhịp, liền thấy bên hông hắn lóe lên ánh hàn quang lạnh buốt. Trong một khắc định thần, một mũi tên lao vút tới cắm phập vào bụng khi hắn chưa kịp lia hết đường chém. Viên quan hiệu ngã ngửa ra sau, tay ôm chặt vết thương, miệng vẫn thét lên đanh thép bằng tiếng Hán kéo dài:


- GIẾT ỨC TRAIII!


Cả đoàn người như bừng tỉnh, những tên lính còn lại quăng cả khiên quay mình lao thốc tới chỗ tiên sinh, còn những anh hùng Lam Sơn thì vừa như nghe sét đánh, thúc ngựa tông bão táp trực diện vào đội hình quân Minh. Ức Trai tiên sinh vội lăn lộn sinh tồn, một ngọn giáo đâm tới sượt rách một mảng áo, ông hốt hoảng ngã ngửa ra sau, lồm cồm bò toài chui ngay xuống gầm xe mà trốn.


Tiếng binh khí, tiếng hô hoán khua nhặng phía ngoài kia, thoáng một hồi thì yên, ngó ra thì lại thấy ngay vài gương mặt bịt kín chỉ lộ cặp mắt đang áp sát người xuống đất nhìn vào phía mình:


- Ức Trai tiên sinh, tôi và các em cùng vâng mệnh chủ công, đến đây giải thoát cho tiên sinh, xin người hãy theo chúng tôi về ngay, phòng giặc Ngô lại cử quân tiếp viện đến.


Quan được đặt xuống một chỗ đã dàn xếp gần mé sông, ta liền mở quan chui ra, đứng lên, quay lại chắp tay mà quỳ xuống dập đầu rỏ nước mắt cảm tạ những người dân đã cứu lấy ta một mạng. Đám người kia thoáng thất kinh, sau lại khóc lạy xô tới mà đỡ ta lên, thề chết chứ không khai ra để phương Nam này lại có ngày an yên. Ôi những con người bị giặc bòn rút đến bần cùng, trong lòng từ đâu đã khắc sâu mối căm hờn. Vừa ngay ấy trờ ra từ từ trong bụi lau cặp mé sông là một chiếc thuyền nan nhỏ, trên là hai học trò tâm phúc của ta.

 

- Thầy Ức Trai, con vừa được mọi người cứu ra khỏi ngục, chuyện đương cần kíp, xin thầy hãy đi ngay với chúng con. 


Lúc này, một gương mặt quen thuộc thân thương mới áp sát xuống đất nhìn vào gầm xe mà gọi. Ức Trai tiên sinh lọ mọ chui ra, được mọi người đỡ đứng dậy, ôm chầm lấy Lý Tường khóc lên:


- Trời Nam có vua Nam, trời Nam lại có vua Nam rồi, học trò ạ! Ơ! Nhưng…


Chợt, Ức Trai đảo cặp mắt ướt hoe nhìn quanh. Bấy giờ, trước mặt tiên sinh là quang cảnh như một chiến trường thu nhỏ. Xác người ngựa, tử sĩ, phía bên kia, Lê Thạch đang ngồi bệt duỗi thẳng chân, quần ống thụng xé toạc ở đùi để lộ ra vết thương chảy máu ròng ròng vẫn còn cắm chặt mũi tên khi nãy. Anh ta mím môi, tự tay rút phắt mũi tên kéo theo tia máu bắn tung tóe, nhận lấy lưỡi dao nung trên lửa đuốc nóng đến bốc khói từ tay Lê Lai, anh ta nghiến răng áp mạnh vào vết thương kêu xèo xèo dậy lên một mùi thịt khét, cơ quai hàm nổi cộm, mồ hôi rịn ra trên trán.


 - Dạ! Văn Nghĩa huynh… hi sinh rồi thầy ạ!


Lý Tường ứa nước mắt, giọng run run thốt lên. Ức Trai nghe như sét đánh, ván cược này không đặt bởi một mình tính mạng của ông, mà đó là tất cả tính mạng của những người đã bước lên con thuyền nan hôm ấy, đã leo lên lưng cọp, ắt không có đường lui. Ức Trai nắm chặt tay, bồi hồi tiếc thương cho người học trò đã xả mình vì đại nghiệp.


- Cậu nho sinh ấy… lao thân ra đỡ cho tôi một mũi giáo của giặc Ngô… Tôi nợ cậu ta một mạng sống.


Đinh Lễ cất tiếng bước lên, sau lưng là cậu em Đinh Liệt vẫn còn xanh xao, hai anh em cùng phục mình xuống bái lạy cáo lỗi.


Ức Trai vội đỡ ngay hai người tráng sĩ, trông ông lúc này đã hom hem gầy nhom nhuốm màu của khói bụi loạn thế.


- Các cậu đây đã quên thân mình, đoạt ngục cứu chúng tôi thoát ra được cõi sống, tôi đây không biết lấy bao nhiêu cái mạng đền lại cho các cậu.


Nói đoạn, tiên sinh phục xuống lạy, cả bọn liền lao ngay tới đỡ dậy, phủi phủi những thứ bụi bẩn bùn sình đang lấm lem trên chiếc áo tù của tiên sinh. Đoàn người nhanh chóng sục xạo những xác lính lấy đi những vật dụng cần thiết, nhất là đoản khí giấu dưới yên ngựa. Áo quần đã đâu đó đầy đủ tươm tất lại, nhóm anh hùng Lam Sơn lại gò mình trên yên ngựa phóng đi trong màn đêm, tháp tùng Ức Trai tiên sinh trở về với chủ công.

 

Bái chào cảm tạ những người lương dân khắc khổ giữa kinh kỳ một lần cuối, ta cùng hai đồ đệ dong buồm dưới ánh trăng khuyết hòa vào màn đêm hư thực, trông về phương Nam trực chỉ hướng Thanh - Nghệ.


Tung mình giữa đất trời tự do, như con chim họa mi xổ lồng bay về với non cao. Hít cho đầy lồng ngực cái bầu không khí tự do đó, bấm độn thấy đời ta vẫn chưa tới hồi kết, thôi thì, cược tấm thân gầy này với nhân gian hào kiệt một lần vậy. Nếu phương Nam ắt thật có bậc chân mệnh minh quân, hẳn sẽ tìm được ta, bằng không, đứa con này, xin được bất hiếu với cha già nơi đất Bắc vậy.

 


Truyền gia cựu nghiệp chỉ thanh chiên,

Ly loạn như kim mệnh cẩu tuyền.

Phù thế bách niên chân tự mộng,

Nhân sinh vạn sự tổng quan thiên.

Nhất hồ bạch tửu tiêu trần lự,

Bán tháp thanh phong túc ngọ miên.

Duy hữu cố sơn tâm vị đoạn,

Hà thì kết ốc hướng mai biên. 

Nguyễn Trãi -

Gia sản truyền thừa tấm chăn xanh

Ly loạn thân may vẫn vẹn lành

Trăm năm việc sống như cơn mộng

Nhân sinh muôn sự tại trời xanh

Một bầu rượu trắng tiêu sầu muộn

Gió thoảng thiu thiu cũng tạm đành

Duy còn việc nước dâng sầu cuộn

Khi nào yên ổn mái nhà tranh

 

***

 

Một buổi chiều, giữa ánh chạng vạng vàng cam hắt qua khói lam rọi xuống đường làng Lam Sơn, soi bóng lập lòe qua từng thân cây trơ cành, phản chiếu vóc dáng năm người đánh ngựa phi nước đại như bay rầm rập thẳng hướng đến khu nhà của Chú Ba Lê Lợi. 


Năm con tuấn mã thắng gấp tung cả cặp vó nhảy chồm lên trên nền đất ngay trước thềm nhà Chú Ba. Một người bước xuống loạng choạng từ con ngựa điều đang sùi cả bọt mép, không kịp thở mà lại ngã nhoài ra, liền lập tức từ trong nhà, Chú Ba Lợi lao ngay đến đỡ lấy người ấy, cùng bọn tùy tùng dìu vào trong phản gỗ mà ngồi nghỉ.


- Vũ huynh! Vũ huynh! Xin kiệm sức, có gì từ từ mình còn bàn bạc được!


- Tôi đánh bồ câu biên thư cho chú, đã nhận được chưa? Chuyện lớn, chuyện lớn rồi Chú Ba ạ!!


Quay đầu nói với mấy người tùy tùng tâm phúc hãy ra nhà sau nghỉ ngơi, rồi theo Lê Lợi vào buồng trong ngồi xuống trên chiếc phản gỗ nhỏ, nhấp một ngụm trà thơm tỉnh người, vừa hay tiểu đồng lại bưng cơi trầu vào.


- Tôi có đọc qua thư rồi, huynh ạ! Chuyện cũng đã đến nước này, tôi chỉ mong bọn nhỏ được đông đủ trở về. Chú Ba nhấp một ngụm trà, giọng trầm, chậm và chất chứa muôn mối lo toan.


- Có khi cả cái đầu chúng ta còn không giữ nổi ấy, Chú Ba ạ! Vũ Uy cầm chiếc vại phun toẹt ra một bãi trầu.


- Cháy kho quân trang đấy, kho thuốc súng huyện lị đấy! Quan quân giặc Ngô chúng nó đang nhặng lên mở phiên điều tra. Chúng xộc vào trọ quán của tôi lục soát, may sao tôi được mật báo đốt tất cả đi sớm. Thằng bếp tôi trá vào nha môn trên huyện, không biết bây giờ đương ra sao, không biết có khai ra gì không!


Vũ Uy lo sốt sắng lên, mặt mày cau có, trong khi Chú Ba thì nhíu mày trầm ngâm. Một thoáng ngột ngạt trôi qua, Vũ Uy lại lên tiếng:


- Trong mấy ngày tới chắc chắn giặc Ngô sẽ cử quan quân đến trước ngạch cửa nhà chú, hãy liệu mà dọn dẹp sớm đi, Chú Ba ạ, phận tôi, phận chú, đang cược tất lên canh bạc đại cuộc này đấy.


- Cảm ơn Vũ huynh đã nhắc nhở, tôi từ khi nhận được thư huynh biên, đã cho bọn thủ túc dọn dẹp tất cả đồ quân dụng rồi lánh bớt vào bãi săn. Tôi sẽ liệu cách ăn nói với giặc Ngô, mong huynh đừng quá lo lắng. Hay huynh cứ ra sau nghỉ ngơi cho…


- Ván này có cần phải cược lớn như vậy không… Chú Ba?


Vũ Uy ngắt lời, ánh mắt nhìn thẳng vào cặp mắt đang chất chứa bao hoang mang phiền muộn của Chú Ba Lê Lợi.


- Ông lệnh tụi nhỏ xông vào địa ngục rồi trở ra, cược cả cơ đồ có nguy cơ vỡ lở, để cứu lấy một nho quan chưa từng có công cán đánh giặc gì ngoài mớ giấy vụn gọi là BÌNH NGÔ SÁCH?


Vũ Uy vỡ òa lên giọng, đôi vai run lên từng cơn, hơi thở đã trở nên nặng nề. Chú Ba Lê Lợi thở dài, đưa tay lên vuốt mặt, rồi dừng lại che ở miệng.


- Vũ huynh, chúng ta chấp nhận chơi canh bạc phục quốc này, tức là đã chấp nhận có thể mất trắng kể cả tính mạng.


- Nhưng ông làm gì cũng phải giải bày tường tận cho chúng tôi được hiểu chứ, ông cứ ban lệnh, chúng tôi thi hành trong hoang mang mà không biết kết cục sẽ đi về đâu.


- Vũ huynh hãy bình tĩnh lại, xin đừng phẫn uất tôi. Mấy tháng nay tôi và anh cùng chạy nhặng cả lên lo việc quan sai, chúng ta lại ít đi khoảng thời gian ngồi xuống bàn bạc đại sự, huynh ạ! Tôi không dám biên quá nhiều qua những cánh thư bồ câu, sợ nếu thất thoát mà bị dò dịch được mật ngữ, chúng ta lại mắc vạ.


Nắm chắc lấy hai vai Vũ Uy run lên mà trần thuật bằng một giọng trầm nhẹ, Chú Ba lúc này mới giãi bày hết những lo toan cho đại cuộc đang cuộn dâng trong lòng:


- Chúng ta thiếu mưu sĩ, Vũ huynh ạ! Chúng ta không có những Quản Trọng, Hàn Tín, chúng ta thiếu những người có khả năng vạch ra những kế sách lâu dài như Khổng Minh và Long Trung Đối Sách. Anh có thể dùng mối quan hệ làm mạng lưới gián điệp trong lòng giặc, tôi có thể dùng uy tín để chiêu mộ nghĩa sỹ đối mặt với giặc, bọn Lưu Nhân Chú, Lê Lai dũng mãnh như hổ báo có thể dẫn binh xông pha tên đạn. Nhưng chúng ta thiếu một người lập kế hoạch chiến lược lâu dài, huynh ạ!


- Nhưng Bình Ngô Sách có chăng cũng bị đốt mất rồi, vả lại… hà cớ gì mà chú lại tin vào một nho quan hết thời đến như vậy?


- Ức Trai tiên sinh bị giam lỏng ở kinh kỳ tám chín năm nay, nếu đã không còn nhuệ chí phục quốc, ắt sẽ không trốn ra ngoài. Ông đã thảo ra Bình Ngô Sách làm bọn quan quân tức trợn mắt, hẳn phải là người có mưu. Hồi đầu tháng tôi nghe kinh kỳ có đám tế thần thả đèn lồng rợp trời, sau lại nghe tin tiên sinh bị giặc bắt giải về huyện, tôi tính toán ngày giờ, xem ra lại vừa khít với ngày tế thần nếu theo đường thủy lộ, chắc chắn đó là mẹo mực của tiên sinh. Nếu cả một nho quan hết thời còn dám cược tất tay vào canh bạc này, mà ta còn không dám cược một ván lớn, làm sao sau này vững được chí xoay vần càn khôn?


Một thoáng khoảng lặng bao trùm lấy không gian, ánh đèn dầu hắt hiu bóng hai người đàn ông lo toan với thời cuộc, đổ xiêu vẹo lên bức tường treo đầy những bức họa vẽ các chiến tướng và mưu sĩ khắp nơi thời xưa. Vũ Uy hít một hơi thật sâu, ông nhắm mắt, chén trà nắm chặt trong tay đến run lên, nước trà gợn sóng lăn tăn như chực chờ xô ra khỏi thành chén. Trước khi về Lam Sơn, Uy từng theo về cùng mười hai tông thất Trần triều ở Tô Xuyên, nhưng những con người ấy, đều không cho ông được cái cảm giác có thể mưu việc đại sự, như người đàn ông đang ngồi trước mắt ông đây. Thở ra một hơi dài, Vũ Uy đặt chén trà xuống, gật đầu cương trực.


- Được! Chú Ba! Uy này đã đặt tất cả những gì có được hết vào trong tay chú! Chuyện đại cuộc, tôi cậy tất vào chú, chú cứ ban lệnh, tôi sẽ thi hành. Mong chú đừng phụ lòng chúng tôi mà làm vỡ lở việc lớn.


- Vũ huynh hãy tin tưởng vào tôi, nếu trời cao vẫn chưa cắt đứt vương khí đất Việt, Lợi này quyết không phụ lòng anh em.


Lê Lợi cảm kích nắm chặt lấy tay Vũ Uy, mắt lúc này đã ngấn nước, giọng run lên. Đêm hôm đó, hai người bạn lâu năm lại cùng nhau ăn uống, cùng giao nhau chén rượu thơm nồng mà kể lại những chuyện ngày xưa. Cuộc sống Lam Sơn cứ vậy, cứ vậy trôi qua, trông từ bên ngoài thì thấy vui vẻ sung túc, nhưng bên trong, bản thân ai cũng đang chất chứa một mớ bòng bong ưu tư hoài bão.

 


***

 

Mấy ngày sau…


Sáng hôm ấy, bình minh vẫn ló dạng yên ả trên những nẻo đường làng Lam Sơn. Tá điền dắt trâu ra ruộng, chị em cô dì xách giỏ ra chợ, và con chim chiền chiện vẫn kêu vang tiếng chào ngày mới trên ngọn cây đa nơi bến sông làng. Đương tắm táp cho con bảo mã của mình trước thềm nhà, Lê Lợi chợt giật mình khi nghe thấy tiếng ngựa hí vang và tiếng người hãm gấp dây cương nhảy xuống:


- Chú Ba, Lã Hào hắn đang kéo quan quân đến, lần này có đủ cả quan văn võ, sau còn có thư lại bưng tráp bút, đoàn lên đến hơn bốn mươi người, với cả hơn chục con chó ngao nữa.


- Ta hiểu rồi, cậu cất ngựa rồi lui đi.


Người kia vâng dạ, rồi dắt ngựa ra phía sau, mấy anh gia nhân quanh sân nhanh chóng mang chổi đến, quét nhòa đi hết các dấu chân người ngựa để lại trên nền đất. Lê Lợi ngồi trầm ngâm tư lự một chốc, liền nghe vang lên ở phía cổng ba tiếng Hán: Quan quân đến.


Chưa cần phải chạy ra, liền ngay một đoàn người ngựa tiến thẳng qua cổng vào sân nhà mà không cần hỏi trước, cờ lọng tung bay một góc, võ sĩ mũ giáp sáng loáng, văn quan nai nịt gọn gàng.


- Bẩm chào các quan lớn, nay có dịp chi mà tề tựu cả lại tệ xá của tại hạ thế này? 


Lê Lợi vội bước xốc tới cúi bái.


 - Hiền đệ, vẫn khỏe chứ?


Lã Hào, chính là viên thiên hộ ngày trước đã từng đứng tại đây xem Lê Lai đấu võ với thị vệ của hắn, đánh con ngựa bạch đủng đỉnh tiến lên.


- Ồ, con ngựa bích ly của đệ đẹp quá, ức nở eo thon, bốn chân đạp tuyết, đệ đệ cũng biết chơi ngựa quá nhỉ?


- Huynh quá khen rồi, dạo trước đệ cùng bọn thủ túc sang bên mấy làng Thổ trong núi tuần kiểm, thấy có gã thổ dân bán con ngựa nom đẹp dáng, thế là đệ hỏi mua nó về thôi mà, không ngờ lại được quan huynh khen như vậy, đệ đây lấy làm quý lắm.


Lê Lợi cười trừ đáp. Nhìn với ra sau, thấy bọn quan quân có mấy tay võ bị đang xuống ngựa, đi dọ dẫm sục sạo khắp sân, cắm giáo lung tung vào những thứ trông có vẻ đáng ngờ.


- Đệ đi tuần kiểm cả sâu vào trong núi cơ à, thế… nơi đó dân sinh có an ổn không, có nhìn về phương Bắc mà bái lạy?


Lã Hào xuống ngựa, tiến đến ngồi bệt xuống thềm nhà, rồi chỉ tay đập đập trên nền gạch ra hiệu cho Lê Lợi cũng ngồi xuống, cả hai cùng nói chuyện.


- Thưa huynh… dân nơi đó chủ yếu vẫn săn hái, ruộng rẫy chỉ vài ba mẫu,… Nếu xét về mầm mống nổi loạn như bọn Giao nhân… chúng không hề có, duy chỉ có cướp vặt và gây gỗ đánh nhau mà thôi.


- Ha ha, bọn Giao cũng mù tịt chữ như nhau thì có thua gì khỉ núi chúng nó, há sao không ngoái nhìn mẫu quốc mà học hưởng văn minh. Mà hiền đệ này, bọn Giao nhân vừa mới nổi loạn đốt phá đấy, đệ có biết không?


- Đốt phá? Có phải huynh đang muốn nói về biến loạn ở… nha môn huyện độ mươi ngày trước?


- Đúng vậy, hiền đệ cũng có biết đó sao?


- Bẩm… Đệ đây chỉ nghe loáng thoáng thôi, huynh ạ… chả là bọn con Xoan con Thục nhà đệ đi chợ, nghe cánh lái buôn dân chài kháo nhau đồn lên rằng hôm trước nha môn huyện có cháy lớn, nghe đâu cháy cả kho quân trang gì đó. Hai con bé nhà đệ chúng nó đem chuyện về đồn ầm lên với bọn gia nhân cả nhà, nên đệ mới biết đến.


- Ha ha, nhà đệ đệ sung túc vui vẻ quá nhỉ, còn ta đây thì đã gần mười năm nay chưa được về nhà.


Lê Lợi cười, không biết do tiết trời đông kia có làm ông thấy nóng mà trông mồ hôi có vẻ như đang rịn ra ở phía hai bên thái dương.


- À, đệ này, nay ta không thấy tên thanh niên hôm nọ ra sân dạy võ nhỉ?


- À… tên ấy… hắn người miệt trên. Hôm nọ hắn vừa chạy hộc tốc đến bảo với tôi, rằng có bà con đồng hương đi buôn về đây báo mẹ hắn ở nhà bệnh nặng lắm, hắn liền xin tôi đi ngay, tôi quý chữ hiếu nên cho mượn một con ngựa tốt, hắn phi ngay đi từ chiều hôm kia rồi.


- Ồ, thật hiếu thảo, thảo nào ta trông chuồng ngựa thấy thiếu mất con ngựa điều, ồ, cả con ngựa nâu trán trắng nữa nhỉ, nó đâu rồi?


Nhác thấy Lã Hào đưa tay lên cao vẻ như chụp lấy con gì đó đang  bay vo ve, tức thời có tên thư lại tiến đến đặt tráp bút trải giấy ra ngay thềm nhà mà ghi chép, Lê Lợi bất giác nắm chặt gấu áo:


- Ồ… con ngựa nâu… quan huynh tinh ý quá nhỉ. Tháng trước đệ hứng chí đi săn, thúc con ngựa ấy phi gấp đuổi theo một con hoẵng trúng tên, ngờ đâu bị vấp một khúc cây rừng… nó ngã hư cặp vó trước, bị tật đi tấp tễnh… giết thịt thì đệ không nỡ, mấy hôm trước có gã dân tộc miền núi xuống làng mua vải, thấy gã thích con ngựa, đệ bán luôn cho gã về làm ngựa thồ.


- Chà chà, tiếc thật, mà trông ra chuồng ngựa của đệ đệ cũng lớn đấy, chắc phải đến hai chục ngăn, nhà đệ cũng chả có mấy ai cần ruổi ngựa đường trường lo việc quan lộ như đệ cả, thế mà cũng có hẳn mười mấy con ngựa nhỉ?


- Thưa huynh… Đệ thích chơi ngựa… kể từ lúc ông thân sinh còn sống, cứ có dư một ít tiền đồng hay vải vóc thổ sản, đệ lại rong ruổi đi mua ngựa ngay, nên trong nhà mới nhiều ngựa như thế, chứ thực sự người nhà cũng có mấy ai cần đâu.


Lũ quan văn và võ sĩ lúc này hầu như đã túa ra khắp sân xóc xỉa, tuy không lục tung mọi thứ lên mất trật tự, nhưng hầu như ngóc ngách nào chúng cũng xua chó ngao vào đánh hơi, bọn chó ngoáy tít đuôi dắt bọn lính đi lung tung khắp sân. Bầu không khí khu nhà Lam Sơn lúc ấy chợt căng như dây đàn, tiếng con chích chòe treo bên hiên nhà vẫn hót vang như thường ngày, nhưng hôm nay, tiếng hót đó nghe sao hồi hộp quá.


- Thôi, ta vào gian trong uống trà.


Viên võ quan khoát tay đáp lạnh cắt ngang bầu không khí.


Lê Lợi, Lã Hào cùng hai hộ vệ của hắn, và hai văn quan, áo mũ chỉnh tề, theo sau là một viên thư lại bưng tráp bút, cùng bước qua ngạch cửa chính vào nhà. 


Gian thờ gia tiên họ Lê đương nghi ngút khói, các người hầu quét nhà lau dọn, thấy quan quân kéo vào thì vội lui hết xuống gian sau. Lê Lợi dắt cả đoàn tiến về phía chiếc phản gỗ trải chiếu hoa, Lã Hào liền tháo giày phóc lên mà ngồi xếp bằng, hai viên hộ vệ cắp đao đứng bên mép phản như hai pho tượng hộ pháp. Lã Hào chỉ tay hiệu cho Lê Lợi lên ngồi phía đối diện. Hai vị quan văn tiến tới ngồi lên hai chiếc đôn nhỏ kê sát phản, tên thư lại thì kê án giấy quỳ dưới đất mà ghi chép.


Lê Lợi gọi vào một tiếng, liền ngay Thụy Xuân từ nhà sau bưng khay ấm trà lên. Nhưng vừa bước đến khung cửa dẫn lên gian trước, Xuân chợt khựng lại nửa nhịp, đưa cặp mắt nhìn về một tên phía bọn quan văn, trong đầu lóe lên một cái tên mà có thể cô sẽ kinh tởm tận đến cuối đời mỗi lần nhắc đến.


THẰNG KỶ!! 


Tên thư lại quỳ dưới sàn nhà kê án giấy bên cạnh hai quan văn, cặp mắt ti hí, cằm nhọn hoắt, ria thầy đồ le nghoe hai bên mép. Cái dáng quỳ gầy gò ấy rất quen, đích xác đó là dáng quỳ của một gã học trò cũ của cha những lúc không thuộc kinh thư bị phạt quỳ lên mà chép bài. Đó cũng chính là cái dáng quỳ cung kính, khi mà hắn nài nỉ khích bác cha đem rương sách quý ra cho xem để nhà ta mang tai ương. Thụy Xuân khẽ mím chặt môi đến trắng bệch, tay siết chặt lấy khay trà. Bắt gặp ngay ánh mắt của Lê Lợi nhìn sang, cô bé khẽ nhăn mặt, lắc nhẹ đầu rồi lập tức lui xuống, thoáng sau thì thấy cái Xoan nhanh nhảu bưng khay trà bước qua ngạch cửa, đặt lên phản gỗ, cúi đầu cung kính bái chào các quan, rồi từ từ lại lui xuống gian sau. 


Mô tả qua chữ nghĩa thì có thể thấy rất dài, nhưng thực sự khoảnh khắc Thụy Xuân đứng ở khung cửa chỉ thoáng qua trong vày khắc ngắn ngủi. May thay, từ chỗ vị trí bọn quan quân đang ngồi, mọi hướng nhìn đều tập trung xung quanh Lê Lợi và hướng gian trước nhà, nên không một ai mảy may để ý đến thoáng chốc bất ổn vừa trải qua nơi khung cửa xuống nhà sau.


- Lê hiền sĩ đây, nhà bao nhiêu hộ tá điền, bao nhiêu gia nô, ruộng điền bao nhiêu mẫu?


Một vị quan văn hỏi bằng một giọng nghe như mềm mỏng chậm rãi, nhưng câu hỏi lại nối tiếp câu hỏi dồn dập:


- Bẩm quan, nhà tôi gia nô trên dưới hơn chục,… đất đai tổ tiên truyền thừa, cộng thêm ruộng mới khai hoang lại cũng hơn hai trăm mẫu, tá điền nương nhờ non cỡ ba mươi hộ… cốt cũng để lo đủ cái ăn cái mặc, ổn định làng xã và lo đủ ngạch thóc cho các quan trên.


- Hiền sĩ nuôi nhiều ngựa đẹp như vậy, chắc cũng tốn bộn tiền thóc gạo ngũ cốc chăm sóc nhỉ?


- Dạ bẩm… Ngựa của tại hạ đa số là ngựa thồ của thổ dân vùng cao, quen ăn cỏ tươi băm trộn cỏ khô… cũng chả tốn là bao cả.


- Ha ha, con ngựa bích chân trắng của đệ đệ mà nói là ngựa thồ đó sao? Ngựa thồ gì mà bụng beo lưng gấu, dáng hùng dũng như chiến mã vậy?


- Bẩm quan huynh… chả thì… trong đám ngựa thồ cũng có con nom được dáng, con ấy khỏe lắm, nên đệ dành riêng để đi lo các việc quan đường trường.


Lê Lợi đáp, trên mặt vẫn gắng giữ nguyên vẻ cười cung kính lễ độ. Phía ngoài đột nhiên tiến vào một tên lính đội mũ trụ đính lông chim, chắp hai tay thưa thốt:


- Bẩm, khu vực chuồng trại, sân tập, bến nước, nhà kho lớn… tất cả đều không có gì khả nghi ạ.


- Hảu! Lã Hào khoát tay, Lê Lợi lúc này thì với tay rót một tách trà, đưa lên miệng thổi.


- Riêng căn nhà kho nhỏ gần bến nước thì đã bị khóa kín, không thể lục soát ạ!


- Khóa kín?


Lã Hào nheo mắt hỏi lại người binh sĩ vừa bước vào báo cáo. Nước trà trong chén của Lê Lợi lúc này sóng sánh từng gợn sóng, vài giọt trà vượt qua thành chén tràn ra ngoài.


- Bẩm! Khóa kín, bọn quân khuyển đang dúi mũi vào đó sủa nhặng và…


XOẢNG! 


Tiếng đổ vỡ ngay trên phản gỗ làm hết thảy bọn quan quân Đại Minh cũng giật mình theo, Lã Hào quay ngoắt lại, nhìn thẳng vào Lê Lợi cất giọng hỏi đanh gọn:


- Gì thế?


- Ôi.. quan huynh… trà… mới hãm còn nóng quá.


- Ồ, nói chuyện nãy giờ cũng một lúc rồi mà, hay là… hiền đệ đang giấu diếm gì trong gian nhà kho đó?


Lã Hào vừa nói, tay hắn vừa áp lên chiếc ấm trà, quả là trà cũng còn nóng thật, nhưng đâu có tới nỗi… 


- Bẩm quan huynh… kho đó đệ trữ thóc xấu và cỏ khô cho ngựa… chứ có gì mà phải giấu diếm ạ?


- Cỏ khô thóc xấu thôi sao lại khóa kín thế? Lã Hào cười lạnh hỏi.


- Bẩm huynh, nhà đệ thường có bọn trẻ con trong làng vào chơi… hôm trước chúng nó nghịch lửa xuýt cháy cả kho… nên đệ sợ….


- Ha ha!! Hiền đệ, đối đáp khéo léo đấy, nào, đệ cùng ta đi mở kho thóc ra, cho quan quân cùng được tỏ tường!


Lã Hào khoát tay đứng lên, nhảy xuống không buồn xỏ giày, cứ chân đất mà cất bước. Lê Lợi khúm núm đi theo cùng bọn quan quân, băng ngang sân tập đến kho thóc phía gần bến nước. Tới gần, trông thấy cả chục con chó ngao tụ hết về phía nhà kho, chạy nhặng xung quanh, cào đất và sủa inh ỏi, Lê Lợi phải cố nén lắm mới không để đôi vai run lên từng cơn.


Lê Lợi gồng mình đưa tay mở khóa, cố để hai bàn tay không được run làm chìa đánh lách cách. Cửa kho mở ra, cùng xộc theo đó là mùi thóc cũ, mùi rơm rạ, nền đất rải tro trấu cuốn bụi mù lên bởi cả một đàn chuột đang hoảng loạn chạy nhặng. Bọn chó ngao trông thấy, sủa lên inh ỏi, ngoáy tít đuôi chạy loạn vào kho đuổi theo bầy chuột. Rơm rạ, cỏ khô, cả mấy bao thóc bị chúng cắn rách toạc đổ vương vãi, bụi tung mù trời.


Thình lình có một con chó ngao lông đen hoảng loạn nhảy cuống quýt lên, kêu ăng ẳng. Nhìn kỹ thì con chó vừa đạp phải một chiếc bẫy kẹp tre, hai thanh tre kẹp chặt vào chân nó đau điếng nhảy lên chồm chồm. Có ba bốn con chó chúi mũi vào gầm một dãy kệ, sủa váng cả lên, chân liên tục cào đất tung bụi ở phía ấy. Toán lính Minh trông thấy, hùng hổ bước sấn vào, ba bốn tên thô bạo lôi xộc chiếc kệ qua một bên, bất ngờ một con cầy hương lông mốc xám kêu chí chóe chạy vụt ra. Lũ chó ngao trông thấy, nhất loạt cả chục con liền đuổi theo con cầy chạy loăng ngoăng khắp cả sân sủa lên inh ỏi.


Lã Hào trông vào căn nhà kho tung bụi mù thì nhăn mặt, hắn đưa tay bịt chặt mũi, quay sang giật lấy ngọn giáo của tên lính cạnh bên, sấn sổ dẫn đầu năm sáu tên lính tiến vào kho xóc giáo đâm loạn, lại còn ngoái đầu đanh giọng gọi ra sân:


- LÔI ĐẦU LŨ QUÂN KHUYỂN VỀ ĐÂY!


Mấy tên lính đứng ngoài dạ ran, hớt hải chạy đi, chốc sau dắt về bốn năm con chó ngao ngoáy tít đuôi xông vào trong kho. Lê Lợi đứng ngoài cửa, cố gồng mình, hai tay siết chặt gấu áo, mồ hôi rịn ra bên thái dương.


- Lê hiền sĩ, sao lại toát mồ hôi thế, đang giữa mùa đông mà?


Một tên quan văn đứng gần trông thấy thì cất giọng cười hỏi, giọng hắn nhẹ như tơ hồng nhưng nghe thì lạnh còn hơn gió đông.


- À! Mấy nay trở trời, chắc tôi lại muốn sốt lên rồi, đầu cứ nhức như búa bổ.


Lê Lợi đưa tay áo thấm mồ hôi, cười giả lả đáp lại. Ở phía trong kho, Lã Hào cùng bọn quân lính dậm chân uỳnh uỳnh xuống nền kho rải tro trấu, tiếng vang lên chắc nịch như dậm xuống nền đất cứng đặc. Chúng xốc giáo đâm loạn khắp các ngóc ngách, vài bó cỏ khô bị hất đổ văng ra tung tóe, chó ngao thì ngoáy đuôi chạy loăng ngoăng. Có mấy tên lính sỗ sàng quá, làm đổ một chiếc kệ lớn, vương vãi tung tóe mấy bao thóc kê ra đầy sàn, bụi tung lên mù mịt làm cả bọn chó và người át xì ho hoắng loạn cả, khiến Lã Hào phải gắt lên quát tháo. Căn kho bụi tung mịt mù trông không rõ người, chốc sau thấy Lã Hào cắp giáo dẫn đầu bước ra, đưa tay bụm miệng ho khù khụ, mắt đỏ kè rịn nước, người ngợm đóng bụi dày đặc, theo sau đó là cả chó cả lính cùng tiến ra theo, đều ho khan lên cả.


- Đệ đệ à, xem dọn dẹp lại kho bãi đi nhé, chuột bọ bẩn thỉu quá.


Lã Hào nhăn mặt càm ràm, cất giọng hằn học với Lê Lợi, nói đoạn, hắn dang rộng hai tay, hất hàm ra hiệu, mấy tên lính vội tiến đến cởi luôn bộ giáp trụ của hắn ra, tiếng giáp khua leng keng tung bụi mù.


Lã Hào cứ thế, đầu quấn khăn, mình mặc áo vải, cất bước đi trước, bên cạnh là Lê Lợi líu ríu tạ lỗi vì nhà kho bừa bộn, nối gót theo về phía sân trước.


Lê Lợi cùng Lã Hào đến cạnh bên con bạch mã của lão, tay trái ông kín đáo dúi vào eo lão ba nén vàng, miệng vẫn mấp máy tạ lễ. Vịn chặt dây cương, đặt một chân lên bàn đạp, thấy ánh kim hoàn lóe sáng bên eo, lúc này Lã Hào mới nhỏe miệng cười nhẹ một cái, chợt… lão ta níu áo kéo Lê Lợi đến gần, kề vào tai ông nói nhỏ, ánh mắt sáng quắc lên như thú săn mồi:


- Hiền đệ này! Đệ có biết… vì sao mèo thường vùi kín cả cứt của mình lại, không để lộ ra không? 


- Đệ đệ quê mùa… chưa hiểu, quan huynh có gì muốn chỉ dạy, xin cứ nói.


- Đó là vì nó sợ, trong núi đó còn có hổ, hổ mà nghe thấy mùi, tất sẽ nhai xương nó, HA HA HA!.


Lã Hào vỗ vai Lê Lợi cười lớn, rồi mới đủng đỉnh bước tiếp lên ngựa. Trước khi nhập vào đoàn quan quân, hắn còn ngoái nhìn xuống Lê Lợi mà nói lớn:


- Hiền đệ!! Nếu sau này đệ có ý định phản trắc với mẫu quốc, thì nhớ hãy lấy chiếc đầu này của ta xuống trước tiên nhé. Ha ha ha ha!! Tạm biệt hiền đệ.


Nói rồi, Lã Hào thúc ngựa cùng mấy tay hộ vệ nhập vào đoàn quan quân tiến ra ngõ làng rồi đi mất. Lê Lợi đứng trước cổng nhà chắp tay cung kính mà trông theo, mãi đến lúc quan quân đã khuất dạng một góc thật xa, ông mới đổ quỵ xuống giữa nền đất ngoài sân. Bọn gia nhân trông thấy, hô hoán lên túa ra dìu ông vào nhà kê gối nằm lên phản gỗ. Nhận lấy tách trà từ tay một anh gia nhân, Lê Lợi hớp một ngụm, hít một hơi thật sâu, rồi mới đanh giọng quát bọn gia nhân đang đứng vây quanh phản gỗ.


- Tao bảo chúng mày, mở toang cửa kho ra… tại sao lại khóa? 


- Dạ!!... Sáng nay con phát hiện con cầy trong kho… con đặt bẫy… rồi khóa cửa lại để…


- Thằng đần này! Xuýt chết đấy con ạ… sau này tuyệt đối phải nghe lời tao dặn… còn tái phạm… ông cách cổ chúng mày… tao phạt cảnh cáo, một mình mày đi dọn chuồng ngựa lớn ở sân sau trong vòng một tháng cho ông, làm trái thì đừng trách tao.


Răn đe xong bọn bề tôi, Chú Ba xua tay hiệu cho cả bọn lui đi, gật nhẹ đầu khẳng định rằng mình vẫn khỏe. Chú Ba nằm lại trên phản gỗ vắt tay lên trán, nói là nghỉ ngơi, nhưng trong đầu lại chất chứa hàng đống lo toan, hàng ngàn tính toán cho những ngày tiếp theo, và điều mà Chú Ba lúc này đang lo nhất, chắc chắn không phải là việc bọn quan quân xông vào nhà nữa, mà đó là…


SAO TỤI NHỎ ĐẾN NAY VẪN CHƯA THẤY ĐỨA NÀO TRỞ VỀ NHỈ?

 

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px