CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 2
Dong buồm đáp lại non sông
Giang hồ tri kỷ một lòng sắt son
Trời đã sập tối, lúc này đang là ca chèo của Lê Thạch, anh ta đang chèo lái phía sau tìm một bến nước yên tĩnh để hạ buồm nghỉ qua đêm trong khi Lê Lai cũng đang hí húi phía trước mũi tìm chỗ cột neo. Chuyến này, hai anh em cốt Thạch và Lai chia nhau mà chèo, người chèo thì người lên trước làm hoa tiêu hoặc làm những việc hỗ trợ, để cho Thụy Xuân nghỉ ngơi nhiều còn lấy lại sức và lo phần bếp núc.
- Vô làm chén cơm hai anh ơi!!
Ý ới trả lời, thoăn thoắt buộc lại mấy cột buồm. Thạch và Lai nhảy tót vào trong khum chén bữa cơm tối.
- Cha!! Mới ăn khi chiều đây mà giờ làm cữ nữa rồi ha!!
- Làm bữa nữa cho chắc bụng ngủ cho ngon, lại sức mai còn chèo tiếp nữa. Lê Lai cười cười đáp.
- Mày chèo thuyền hay chèo gì mà mất sức dữ vậy.! Nói đoạn, Thạch liếc qua Lê Lai hấp háy mắt tinh quái.
Lai lườm Thạch, dứ dứ chén cơm như muốn tương vào đầu thằng bạn sỗ sàng. Thụy Xuân với tay lấy mấy con cá khô của cô Tám, vô tình làm rớt xuống một túi vải, trong đó vương vãi ra các đồ đạo cụ hóa trang con hát của cô ngày xưa.
- Trời, cô Tám ngày xưa theo nghề hát hả?
Lê Thạch thoáng thấy và buột miệng cười, Thuy Xuân ngó sang cũng cười và đáp nhẹ.
- Em có nghe cha kể phong thanh, ngày trẻ cô và bác Tám hình như có làm đoàn hát thật!
Cơm nóng hổi với khô cá cô Tám cho thơm nức, cái gió sông ban đêm thổi lên mát rượi cùng tiếng sóng vỗ ỳ oạp, sao mà nó xoa dịu cõi lòng con người ta hết sức. Chuyện phiếm vài ba câu qua bữa cơm, rồi lục tục nhau thu dọn. Thụy Xuân mang chén bát ra mạn thuyền múc nước rửa ráy, trong khi Lai và Thạch ngồi chuyện phím hóng mát ở trên boong. Tán phét được đôi câu, Lai thấy buồn ngủ nên chui lại vào gian trong cùng Thụy Xuân, để lại một mình cậu Thạch ngồi nơi mũi thuyền trông trời trông trăng.
Chuyện là anh này trước nay sinh tồn trong hoang dã đã quen, coi thiên hạ đâu đâu cũng là nhà, nên lúc nào trong đầu hắn cũng nghĩ đến chuyện ăn uống để sinh tồn được cả. Khi nãy ở sân vườn nhà cô Tám, lúc cả bọn đang còn thưa chuyện với nhau thì Thạch đã trông thấy dưới đất có một lũ giun đất đang bò nghoe nguẩy, cậu nhanh tay chộp luôn một nắm cả giun cả đất cho hết vào một chiếc túi. Lên thuyền nhác thấy có vải cũ, lại nhanh tay róc lấy vài miếng thắt thành dây, bẻ một chiếc đũa thành mấy đoạn cỡ hơn lóng tay buộc giun vào thả xuống năm sáu dây mồi như vậy. Nãy giờ đã được một lúc, cậu ta lại tung tăng đi kiểm tra dây mồi, thấy hai sợi đang có động. Thạch vui mừng kéo mồi lên, thì thành quả thu được đó là một con cá chép to, và một con cá mè. Thạch hí hửng tháo cá, quẳng luôn vào một chiếc giỏ cũ ngay bên cạnh, lại còn lót một tấm ván ngồi lên, vừa vui vẻ huýt sáo vừa mắc thêm mồi mới vào dây câu. Đang loay hoay buộc dây, chiếc giỏ mà cậu ngồi lên không chịu nổi sức nặng, bất ngờ bẹp xuống làm cậu loạng choạng xuýt lao xuống sông. Lẩm bẩm chửi bới vài tiếng, Lê Thạch lại thả mồi đó, cúi xuống vục nước rửa tay sạch sẽ, rồi vào gian trong đánh một giấc thật đậm. Đêm đó nhẹ nhàng trôi qua tại một bến sông vắng, cùng với tiếng ếch nhái, và tiếng ngáy của những con người đang bắt đầu một chuyến phiêu lưu bất tận.
Sớm hôm sau, khi hai chàng thanh niên còn chưa kịp mở mắt định thần thì đã nghe tiếng Thụy Xuân oai oái bên tai:
- Trời ơi không biết mùi gì tanh dữ vậy, hôm qua ăn khô có làm rớt ở góc kẹt nào không mà sao sáng nay nó lên mùi dữ quá hai anh?
Lúc này cả bọn mới bắt đầu lục tục mò dậy. Mới tỉnh táo được một phần, Thạch đã nhận ra được vấn đề ngay. Thì ra cái mùi ươn tanh chua đó bốc ra từ mớ cá mà cậu ta câu được đêm qua, chạy ra hiện trường vụ việc mới chậc lưỡi nhận ra. Hôm qua do chiếc giỏ bị sụt xuống, Thạch vô tình đã đè chết luôn hai con cá, con cá chép vỡ cả bụng lòi ruột ra mới lên mùi nhanh như vậy. Vừa dỡ tấm ván lên, ruồi nhặng đã bu đen đặc, cả bọn bịt mũi than trời than đất.
Đang lúc phân bua với nhau, chợt Lê Lai xuỵt cho cả bọn im bặt.
- Rõ ràng đêm qua ở đây cũng chỉ là một khúc sông vắng, sao sáng nay lại có nhiều thuyền ngang đây thế nhỉ?
Nhge lời Lê Lai nói mới để ý, nhìn ra hướng mặt sông. trước mắt họ là một hàng ghe thuyền dài, nối đuôi nhau độ gần hai chục chiếc, chậm dần lại khi cua qua một khúc quanh sông hẹp.
- Cha, nay kinh kỳ có lễ hội gì mà chỉ sau một đêm khúc sông vắng này lại trở nên tấp nập thuyền ghe như vậy nhỉ.
Nhíu mày lại suy nghĩ một chốc, Lê Lai bỗng nhăn mặt gắt lên:
- Không được rồi, chắc chắn là trạm tuần ty kiểm soát hành trang của bọn giặc Ngô rồi.
Hai người kia nghe đến đây thì ra vẻ hốt hoảng. Lai nhìn Thạch, Thạch lại nhíu mày nhìn Lai như kiểu: Mày đừng có nhìn tao!. Vò đầu bứt tai thêm một chốc, Lai lại gắt lên:
- Cái mùi cá này tanh quá tao không nghĩ được gì hết.
- Vậy thì để tao đem đổ quách nó đi.
Thạch hộc tốc sấn tới toan đổ giỏ cá. Vừa kịp nhấc chiếc giỏ sắp hất hết xuống sông, bất thần cậu ta bị Lê Lai túm áo lôi lại:
- Khoan khoan khoan!! Mày yên đó, tao có cách rồi!!
- Vậy không cần đổ nữa à, mày nghĩ ra cách gì rồi? Thạch cục súc.
- Hai người vô đây, vô trong tôi bày cho nghe.
Thế là cả bọn lục tục chui vào trong khoang thuyền xì xầm bàn tán. Chốc sau, Lê Lai bước ra, lúc này trên người cậu ta quấn thêm nhiều lớp vải và khăn, đứng vào vị trí chèo thuyền mà đảm nhận ca chèo. Cả đoàn thuyền cùng nhau tiến lên chậm rãi, cứ chốc chốc lại có thêm vài thuyền từ phía thượng lưu xuôi xuống, hòa chung vào dòng thuyền cùng nhau chầm chậm tiến về phía trước. Quả đúng thật như Lê Lai dự đoán, sau khúc quanh sông đó là một cửa sông chảy ra dòng sông cái rộng lớn - chính là sông Mã. Và càng kinh ngạc hơn nữa, khi ở hai bên bờ chỗ khúc quanh hẹp, đó là một trạm tuần ty của quân Minh lập ra nhằm truy quét văn tự trong dân.
Tuần ty sở quân Minh gồm hai quân trại đóng hai bên bờ, neo một thuyền lớn mũi bằng, có vẻ là thuyền chở viên tuần quan, cùng với ba bốn thuyền nhỏ cơ động kiểu mông đồng nhưng không có mái che, có thể chở năm đến sáu lính mỗi chiếc cùng vài phu chèo, đích thị là thuyền tuần tra. Mỗi thuyền đi ngang đều bị những thuyền con chặn lại, thấy lính Minh có vẻ lên thuyền lục xét và tra hỏi gì đó. Đoạn có một thuyền nọ lớn lắm, buồm giăng chi chít, có vẻ cũng là thuyền của một hạng hào phú trong vùng, thấy quân Minh điều cả thuyền lớn chở viên trưởng trại lên để tra xét.
Đang xuôi theo con nước trông về mấy chiếc thuyền bị thổ binh đổ lên lục soát, lòng nơm nớp lo, chợt Lê Lai giật mình khi nghe có giọng quát lớn bằng tiếng Việt:
- Thằng này, mày đi đâu, thuyền mày chở gì đây.
- Dạ dạ, bẩm quan, c… con… con đi tị nạn ạ? Lê Lai mếu máo đáp lại.
- Đi tị nạn, bị gì mà đi tị nạn? Thuyền mày chở gì, mở khoang tao coi thử!
Bấy giờ nhìn lại mới thấy, cặp sát thuyền Lê Lai lúc này là một chiếc thuyền thuộc đội tuần kiểm của quân Minh. Nhóm kiểm soát gồm một lính vệ sở cùng bốn thổ binh, một tên thư lại ngồi ôm tráp mực và vài tay phu chèo. Tên lính vệ sở mặc giáp nhẹ cùng một tên thổ binh áo vải đã tót lên thuyền Lê Lai, theo sau nữa là tên thư lại cắp giấy bút.
- Dạ bẩm… nhà con chỉ mang ít quần áo rách…
Ấy vậy mà cậu ta cũng tiến lại chỗ khoang thuyền, mở nắp ra, lục lên vài thứ quần áo, vải cũ.
Có tiếng ruồi vo ve vo ve, tên thư lại vẩy vẩy tay lên đuổi ruồi, mặt mày nhăn nhó như khỉ ăn ớt lèm bèm:
- Dòng giống bẩn thỉu, mày tanh đến nỗi ruồi nó bu quanh luôn đấy con ạ! Giấy thông lộ chúng mày đâu?
- Dạ… Làng con phát dịch, con đi vội… chưa kịp xin.
- À thằng này! Mày trá hàng phỏng? Trong khum có gì, đưa chúng tao vào kiểm tra!
Tên thổ binh quát lên.
- Dạ… Cha mẹ con… đang bệnh nặng trong…
Lê Lai chưa kịp dứt lời, hai tên lính đã hùng hổ đẩy ngã ngửa cậu ta rồi sừng sộ bước thẳng đến khum thuyền. Lê Lai hốt hoảng, cuống quít tiến theo sau. Tên thổ binh cục súc đưa tay gạt tấm màn che thò đầu vào trong, lập tức… hắn nhăn mặt quay đầu trở ra, đưa tay bịt chặt mũi miệng, nhợn lên như muốn nôn.
- Quỷ vật thật! Mùi gì tởm lợm thế này.
Một thứ mùi tanh chua nồng nặc như mùi nội tạng, cá ươn xộc ra theo cơn gió sông lùa qua ô cửa khum. Từ ngoài nhìn vào, với khung cảnh tranh sáng tranh tối, có một đôi nam nữ trông không rõ nhân dạng, đang nằm còng queo, tay chân đầy những vết ghẻ lở mụn mủ, chảy ra đầy sàn, ruồi nhặng bu đen cả khum thuyền, bốc lên mùi tanh hôi khôn xiết.
- Dạ, làng con bị kiết lị, mà lạ lắm… còn lở loét … Làng con…
Nghe chưa kịp hết câu chuyện của Lê Lai, tên thư lại đã quay đầu chạy tót về thuyền, còn tên lính vệ sở thì quay ra sông gục đầu nôn thốc nôn tháo. Tên thổ binh cũng đang có chiều nhợn tới nơi rồi, nhưng vẫn cố vươn người đứng lên tiến vào bên trong. Tên lính vệ sở đang gục mặt nôn mửa, nhác thấy vội với sang nắm thắt lưng kéo lại, miệng quát tháo tuôn ra một tràng tiếng Hán xí lô xí lào, lực kéo hơi mạnh làm tên thổ binh loạng choạng xuýt nhào xuống sông. Lúc ấy, Lê Lai cũng rướn người lên đỡ, làm bong ra một mảnh vải đang quấn quanh cẳng tay cậu, mùi liền xộc lên tanh hôi nồng nặc.
Hai tên lính tuần kiểm nhợn một cái, bất giác nhìn lên cẳng tay Lê Lai chỗ vừa bong miếng vải băng ra, thì ôi trời ơi, trên cẳng tay đó, hằn đậm một đường tím tái, chung quanh thì thấy rộp lên như da non lột từng mảng, máu mủ kéo thành dây rỏ lòng thòng.
- ỌE!!
Một tiếng nôn khan vang lên trong khum, hai tên lính Minh hoảng hồn quay đầu, vừa luống cuống cả bò cả chạy, vừa nôn toẹt luôn một bãi lên boong thuyền. Tên thổ binh Việt gầy nhẹ hơn, nhảy về thuyền trước, vội kéo gàu múc nước tưới hết lên người kì cọ. Tên người Hán vừa theo sau tót về thuyền, cũng vội vục nước rửa ráy.
- Da! Hai ông… cho con xin…
Ở bên kia, Lê Lai cũng tiến đến sát mép thuyền, tay phải ôm chặt lên chỗ cẳng tay trái ghẻ lở, chìa về hướng hai tên lính.
- Thôi thôi mày đứng yên đó… yên đó.
Mấy tên thổ binh còn lại trên thuyền trông thấy thì cũng tò mò, một đứa định tiến đến gần Lê Lai thì lập tức bị tên thư lại túm áo kéo lại.
- Mày điên à, ôn dịch đấy, lây lan trong quân là chết cả nhà.
Tên lính Hán vội quay sang tên thư lại nói gắt vài câu, lập tức tên này chạy vội về tráp bút, lấy ra một tờ giấy, hí hoáy viết vài chữ, đóng một dấu ấn của trạm, rồi chạy về vo tròn ném lên thuyền Lê Lai.
- Chúng mày cầm lấy, rồi cút mẹ hết vào Nam đi!
Mảnh giấy thông lộ vừa đáp xuống, gã phu chèo thuyền bên kia vội chống sào vào thuyền Lê Lai đẩy mạnh đưa chiếc thuyền mông đồng ra giữa dòng, rồi hấp tấp chèo đi biến mất về phía trạm tuần ty.
Nhóm Lê Lai mừng húm khi lấy được giấy thông lộ, tò mò mở ra xem, thì đó chỉ là một mảnh giấy lộn, nguệch ngoạc ghi một dòng chữ: Mắc ôn dịch - đi khẩn. Đọc xong mảnh giấy, bọn ba người Lê Lai, Lê Thạch, Thụy Xuân được một phen bịt miệng nín cười đến đỏ mặt.
Bơi thuyền ra sông lớn và đi được một quãng đủ xa, cả bọn mới thở phào mà kết thúc vai diễn của mình. Tìm một khoảng sông vắng, Lê Thạch và Thụy Xuân lập tức nhảy ùm xuống tắm táp cho bay đi cái mùi cá ươn tanh nồng, còn Lê Lai thì hì hục cọ khum cọ boong dọn cái bãi chiến trường do chính mình bày ra.
Chèo thêm được một đoạn đến quá trưa, rẽ thuyền vào một nhánh kênh vắng, nhóm bôn tẩu đang định tìm chỗ neo lại cơm nước nghỉ ngơi thì thình lình nghe có tiếng hô hoán. Một chiếc thuyền độc mộc tức thời cặp sát chiếc thuyền mành của nhóm Lê Lai, trên lại chở theo bốn lính Minh và một chèo thuyền, một trong bốn tên quát lên bằng tiếng Việt:
- Ngừng thuyền! Đứng lại cho quan kiểm tra.
Chiếc thuyền chưa kịp ngừng hẳn, tên đó đã nhảy thót lên, theo sau là 1 tên lính nữa, lúc này bọn Lê Lai và Lê Thạch cũng đã lục tục chạy ra.
- Chúng mày người ở đâu, đi đâu đây, LỘ DẪN ĐÂU!!.
Chết thật! Cả bọn lại đang trông khỏe khoắn, sạch sẽ thế này…
- Dạ… tụi con là ba anh em con nhà lái buôn, quê gốc ở Nghệ An nhưng đã… đi tứ xứ bán buôn mấy năm nay, nay nghe tin mẹ già ở quê đang bệnh nặng, tụi con mới dong buồm… xuôi về nam thăm mẹ.
Lê Lai lắp bắp đáp, tay vẫn run run móc ra tờ giấy thông hành đã vò nhăn khi nãy. Tên thổ binh cầm lấy tờ giấy soi xét, nhíu mày mất một lúc như cố đọc từng con chữ nguệch ngoạc của tên thư lại khi nãy. Tên Ngũ Trưởng cạnh bên kê đầu sang dòm, rồi hắn đưa tay… lật ngược mảnh giấy lại, gật gật đầu. Tên thổ binh thấy vậy, cười lên toe toét nói mấy câu tiếng Hán bặp bẹ với tên kia mà Lê Lai có thể nghe hiểu được.
- Chà chà! Huynh đài giỏi chữ quá.
Tên Ngũ Trưởng cười lên một vẻ đắc chí, vỗ vai tên thổ binh động viên mấy câu tiếng Hán.
- Đệ cũng gắng học cho tốt chữ, để còn được thăng tước như ta.
Lê Lai bất giác nắm chặt gấu áo.
- Mày đứng đần ra đó làm gì? Mở khoang ra tao xem.
Lê Lai cố trấn tĩnh, cúi xuống thò tay mở chốt, dở tấm ván nắp khoang ra, mắt không hề thấy được vẻ mặt của hai tên lính Minh có vẻ như thoáng nhăn lại, khi có một thứ mùi gì đó thoang thoản tanh xộc ra theo nắp khoang.
- Dạ… tụi con bán… những thứ đồ vải vóc linh tinh… cùng các thứ đồ dùng hằng ngày.
Vừa nói, Lê Lai vụng về lôi lên một kiện vải thô, tiếp tục cho tay vào trong quờ quạng, lại lôi ra một gói gì đó được bọc quanh một lớp lá chuối khô nhưng có vẻ hơi bị ẩm. Vừa lắp bắp nói tiếp, cậu ta vừa mở dần lớp lá chuối ra.
- Dạ… con còn bán thêm ít cá khô ngon…
- Thôi thôi được rồi, mày dẹp đi, cả bọn chúng mày ra đây.
Giọng run run ới vào khum gọi cả Lê Thạch và Thụy Xuân cùng ra. Tên thổ binh lấy từ trong ngực áo một cuộn giấy, mở ra một bức họa khổ lớn, trên họa hình một nam một nữ, nhìn còn rất trẻ, cùng với vài dòng đề tên và treo thưởng. Vừa nhìn thấy vậy, mặt Lê Lai chợt khựng lại, môi mím chặt. Hai tên lính liền xăm soi cả bọn, chúng hết nhìn bức tranh xoay ngang lật dọc, rồi lại nhìn lên những gương mặt hốc hác lam lũ đang ngơ ngác nhìn lại bọn chúng.
Chợt, tên Ngũ Trưởng trỏ vào một dòng chữ, nói nhẹ bằng tiếng Hán với tên thổ binh.
- Kêu nó đọc dòng này.
- Thằng này, đọc cho tao nghe thử xem tên phạm nhân này mắc tội gì.
Tên thổ binh lập tức trỏ vào Lê Lai đang đứng gần đó nhất, rồi theo tay chỉ của tên Ngũ Trưởng trỏ vào một dòng chữ bên cạnh dấu triện đỏ ở mép trái tờ trát tróc nã. Lê Lai nhìn theo hướng tay chỉ, ngỡ ngàng khi đó là dòng chữ đề ngày ban lệnh mới vừa hôm qua, còn dòng chữ ghi tội danh thì nằm chình ình ở mép phải tờ trát. Lê Lai đanh mặt, gồng nổi cộm cơ quai hàm, run người như cố kìm lại một biểu cảm gì đó chực chờ trào ra, nhịn đến ứa nước mắt.
- MÀY ĐỌC TO RÕ TAO NGHE NÀO!!
Tên thổ binh gắt gỏng quát lên.
- D.. Dạ bẩm! Con… con mù chữ ạ!!
Giọng Lê Lai run run, lắp bắp đáp.
- Không biết chữ sao mày tính toán buôn bán được?
- Dạ bẩm, chữ thì con chịu… nhưng số… thì con đếm được ạ… con theo cha anh đi buôn từ nhỏ… quen tính nhẩm… mấy thứ đổi chác như xấp vải, cân gạo… con nhớ từ sớm… không cần phải chép ra…
- Thôi! Mày câm!! Thằng này, đọc tao nghe.
Đoạn này lại chỉ đến Lê Thạch. Thạch ta cũng ra vẻ hoảng vía, cũng lắp bắp thưa lại rằng con không biết chữ. Hai tên lính đương nhìn nhau, toan tiến lên phía trước xốc vào khum thì nghe tiếng Thụy Xuân thỏ thẻ:
- Dạ, tiểu nữ ngày trước ở nhà có được phụ thân cho đi học ít con chữ… cốt là để lo việc cúng bái trong nhà, nay nếu quan cần kíp, tiểu nữ… xin đọc cho quan nghe ạ.
- Ha ha, giỏi lắm, mày đọc tao nghe con này tên gì.
Tên thổ binh người Việt kia cười lên một giọng trịch thượng, tay lại trỏ vào dòng chữ đề mức tiền treo thưởng phía bên trái bức họa cô gái.
Thụy Xuân tiến tới, cầm lấy một góc của bức họa, tay còn lại trỏ vào từng chữ, miệng lắp bắp.
- Nghĩa... À không, Li.... Vị…
- Giỏi lắm! Mày cũng biết đọc chữ đấy, đọc tiếp tao nghe.
Tên thổ binh quát tháo, Thụy Xuân thì lại ra vẻ vừa sợ sệt vừa lắp bắp:
- Dạ, tiểu nữ chỉ đọc được ít chữ… Bẩm quan… Đoan… Hương… À không, chữ này… nét này… Tần…
Cô bé cứ vừa bặp bẹ, tay trỏ từng chữ, từng chữ một. Không đủ kiên nhẫn để nghe cho hết câu, hai tên lính Minh đã bật cười lên sang sảng:
- Ha ha, đúng là lũ Nam Man khỉ núi, lũ dân dốt chúng bay thì làm gì biết chữ nào mà sách với vở, thôi, chúng mày lui cho nhanh đi.
Tên đó quay sang nói vài câu tiếng Hán với tên Ngũ Trưởng, tên này cũng nhếch mép cười lên vẻ rất khinh miệt, văng lại vài câu tiếng Hán gì đó, rồi cả hai cùng nhảy về thuyền bay biến đi mất, vậy mà vẫn nghe vẳng lại giọng tên lính Việt cười lên hô hố vọng lại:
- Ha ha ha, dốt đặc cán mai như lũ mọi phương Nam này, có gì mà đại tướng quân ổng phải lo nghĩ quá… ha ha ha.
- Đẻ mẹ cái lũ Việt mất gốc, hai thằng chúng mày mới là dòng mù chữ đấy. Ủa mà khi nãy, bộ mày sợ té đái trong quần à Lai, sao nhìn mặt mày lúc thấy tờ tróc nã đanh lại như sắp khóc đến nơi?.
Sau khi mắng tục vài câu, Lê Thạch lại ngạc nhiên hỏi Lê Lai làm anh ta quỳ luôn cả gối xuống sàn, chống tay mà cười sằng sặc
- Ban đầu là tao sợ thật, vì trông chúng mình bây giờ khỏe mạnh rành rành, có phải thứ mắc ôn dịch gì nữa đâu, cho đến khi thấy thằng Ngũ xoay ngược tờ giấy lại, tao cố nín cười đến bấu chặt vạt áo.
- Ban nãy tao thấy mày mím môi mím lợi đến đỏ mặt con ạ, diễn sâu nhỉ?
- Sâu cái gì, đoạn gặp hai thằng ngu tao nín một, đến khi trông thấy tờ trát họa hình tao và Thụy Xuân, tao nín đến tím mặt luôn con ạ.
Ba người cười thích chí với nhau khi vừa cùng nhau qua cơn hiểm nguy, tiếng cười ấy đôi phần làm dãn bớt ra cái bầu không khí bôn tẩu căng thẳng.
***
Xứ Thanh vừa trải qua đợt mưa dầm mấy ngày liền, con nước cuồn cuộn đỏ ngầu của sông Mã đưa thuyền xuôi dòng đi băng băng. Thuyền theo dòng đi được thêm gần một ngày nữa, nhưng đến xế chiều hôm sau, một khung cảnh quen quen lại làm cho cả nhóm thêm một phen bàng hoàng. Thuyền vừa vượt ngã ba sông Mã rẽ vào sông Chu, đi một đoạn ngắn thôi đã thấy thuyền bè có lẽ lại ùn ứ, Lê Lai lại chậc lưỡi:
- Lần này mọi người diễn cho tốt vào nhé.
Ấy thế mà đó là do cậu Lê Lai tính, chứ trời đâu có tính như thế. Đúng là trước mặt có chốt kiểm soát thật, nhưng lần này lại khác lắm. Tận đến gần chiều muộn, rẽ qua một khúc quanh sông có ngọn đồi thoải ăn ra đến sát bờ, cả bọn Lê Lai bàng hoàng khi trông thấy khung cảnh trước mặt.
Đó là một trạm tuần ty của quân Minh, chăng xích đan nối nhau trên những cọc gỗ chắn ngang dòng sông Chu rộng đến non bốn mươi trượng. Hai mặt chốt chặn ấy lại chăng một đoạn xích dài để phân luồng tàu bè xuôi ngược, mỗi bên đều có một thủy sách chỉ cho từng thuyền một thông qua sau khi đã kiểm tra. Thủy đội có hẳn một soái hạm lớn, chất trên boong cũng hơn chục khẩu pháo, neo ngay gần sở chỉ huy, hai thuyền chiến đáy bằng có thể chở đến vài chục lính, và mấy chục thuyền mông đồng tuần kiểm dùng để cơ động truy xét và đuổi bắt. Trên bờ, quân trại hai bên chừng như cũng đông lắm, có đến hơn trăm thổ binh và sĩ quan cả thảy đóng tại chốt thủy lộ này.
Toàn bộ các thuyền lớn nhỏ đều phải cập vào bản doanh kiểm tra rất gắt, đoàn thuyền đã ùn ứ kéo dài gần cả dặm, thuyền Lê Lai tiến lên rất chậm. Khi đến ngày càng gần phía doanh kiểm soát, Lai trông thấy bọn quan quân đang kiểm tra một chiếc thuyền buôn lớn. Có một viên tuần quan đầu đội mũ trụ đính lông dắt theo gần chục thổ binh nhảy lên thuyền nọ, trong đó có hai tên còn vác theo cả lò lửa di động. Chúng quát thét bọn thủy thủ đoàn lôi các kiện hàng hóa ra, bóc cả vải bao cho chúng kiểm tra bên trong, gần như từng kiện hàng một. Bọn thổ binh sau đó còn chia ra đi khắp các ngóc ngách thuyền lùng sục, đoạn, chúng lôi ra được một rương gỗ, thấy mấy bà cô luống tuổi thuyền nọ có vẻ hốt hoảng lắm, sụp xuống mà khóc lạy.
Bọn lính đập nát rương trút hết đồ đạc ra sàn thuyền. Một chiếc gương đồng nhỏ rơi xuống lộp cộp, vài đồng tiền xu hoen gỉ lăn lông lốc, một bộ áo giao lĩnh lụa trắng ngà cùng mấy dải lụa thắt lưng và mấy mảnh khăn đều có màu xanh lá rừng và trắng, một chiếc khay gỗ và vài quyển thư tịch văng ra tung tóe. Có một cô luống tuổi bò ra đuổi nhặt một đồng xu gỉ lăn, liền bị tên thổ binh đá một cú vào bụng, nằm quằn quại. Tên quan hiệu trông thấy chiếc gương đồng liền nổi xung, cầm lên đập nát xuống sàn thuyền, rồi quẳng ngay xuống sông. Ngay sau đó, chúng đốt lò lên, tống tất cả những thứ còn lại vào lò lửa rực cháy. Một cô gái tóc xõa rối bời, không kìm được lòng vùng ra thọc luôn tay vào lò lửa đang cháy bới móc. Mấy tên thổ binh lập tức xông tới, nắm tóc lôi xềnh xệch ra, đấm đá túi bụi vào người cô gái nọ mặc cho mấy người thuyền nhân không ngừng dập đầu van nài.
- Lạy Chúa Non Xanh đại ngàn, lạy Mẹ Thủy Phủ vạn trượng! Con dâng mạng này, thề dìm chết lũ giặc Ngô quái ác.
Cô gái kia gào lên một câu ai oán, rồi vùng khỏi tay bọn lính, phóng ra mạn thuyền gieo mình xuống dòng sông Chu cuộn phù sa đỏ ngầu.
Lê Lai đứng trên thuyền trông theo, đôi tay nắm chặt đến run bật lên. Bất ngờ nghe có tiếng nghiến răng ken két, trông sang thì Lê Thạch đã đứng cạnh bên từ lúc nào, cùng với Thụy Xuân nước mắt đã ràn rụa.
Thuyền tiến ngày càng gần hơn đến chốt tuần ty, trời khi ấy đã vào giấc chạng vạng. Trên tháp canh quân Minh hai bên bờ bỗng vang lên một hồi tù và, sau đó là một câu tiếng Hán, thông báo các thuyền phải nhả neo nghỉ lại giữa sông, chờ đến sáng mai sẽ tiếp tục việc kiểm định.
Một khoảng lặng lại trôi qua, đêm đó thật tĩnh mịch. Bãi sông những đêm bình thường vắng vẻ là thế, nay nhìn ra lại là quang cảnh sáng rực cả góc trời. Lửa từ thủy trại, lửa từ đèn dầu trên ghe thuyền neo khắp mặt sông sáng rỡ lên giữa đêm như một góc kinh kỳ thu nhỏ trên sông nước vậy.
Cả bọn vắt óc suy nghĩ một hồi lâu, người bảo thế này đứa bảo thế nọ. Thụy Xuân bảo hay là bỏ thuyền cuốc bộ đi vòng, Thạch thì kêu thôi lại câu cá trây trét giả bệnh như hôm trước… Cách này cũng không được, cách kia cũng không được, đêm đã khuya mà cả bọn đều chưa có phương án nào giải quyết cái éo le trước mắt. Chợt, Lê Lai như ngộ ra một điều gì đó, mắt anh ta sáng bừng lên.
- Này con trai, đi đại náo chỗ này với bố mày một chuyến không?
- Mày bị trúng gió hả người huynh đệ của tao? Nó giết cả lũ đấy con ạ!
- Tao thấy chỉ còn cách đó thôi mày ạ, quậy tung chỗ này lên, rồi trà trộn vào đám hỗn loạn mà tuồn mất.
- Tao và Thụy Xuân giao cả tính mạng cho mày đấy, tính sao cho có đường sinh một tí.
Lê Thạch than trời mà đáp.
- Chứ bây giờ mày tính làm sao?
Lê Lai hỏi vặn, Thạch nhíu mày tư lự một hồi rồi thở hắt ra than một câu.
- Thôi thì cứ theo mày vậy, sinh tử mặc trời.
Nói đoạn, hai thanh niên ôm đầu nhau mưu mô tính toán gì đó một chốc, rồi lại thấy cả hai khoác vai nhau ra ngồi ở mũi thuyền. Quan sát một hồi, Lê Lai giơ tay trỏ vào một chiếc thuyền phía gần thủy trại neo chiếc soái hạm của quân Minh, cách đó độ hơn trăm thước. Chiếc thuyền đó nom cũng to lắm, là dạng thuyền vận tải đi biển cỡ lớn, cột buồm dây nhợ chăng chằng chịt như mạng nhện.
- Thuyền đó lớn, gỗ sang bóng, trông cũng ra hạng hào phú, thuyền chở hàng lớn vậy mà bụng không chìm nhiều, hàng để chật cả lên boong, gói lại thành những gói to vuông vức phủ vải dầu, phần cao đó sẽ là các thứ vải vóc, miếng này mà bắt lửa, có mà cháy đến tận đêm mai.
Lê Lai vỗ đùi Lê Thạch, Thạch thì cứ nhíu mày nhăn mặt lặng thinh nhìn về phía đó.
- Rồi mày… đốt phá của cải thuyền bè dân mình như vậy, cũng đâu khác gì giặc Ngô?
Lê Thạch lên tiếng sau một thoáng im lặng, cặp mắt vẫn đăm chiêu nhìn về phía chiếc thuyền lớn kia. Bầu không khí lại càng trở nên căng thẳng hơn khi giờ đây, thứ họ phải chọn lựa đó là sự an toàn của lương dân, hay sự bảo tồn của quốc mạch truyền đời nắm giữ linh hồn đất Việt.
- Biết sao được. Tụi mình đang giấu trên thuyền một trong những bộ sử sách cuối cùng còn bảo vệ được, ngộ nhỡ để giặc Ngô nó đốt mất, không lẽ mày định sẽ lấy Ngô sử mà chép thay vào? Vả lại, dân sông nước giỏi nghề bơi lặn, của cải thì có thể kiếm lại được, chứ còn sử sách truyền đời các vị vua từ khi khai quốc, tao sợ… khó lắm mày ạ!
Hai chàng thanh niên lại chìm vào khoảng không tư lự cùng mớ bòng bong suy nghĩ, trong lòng bứt rứt khó tả như những ánh lửa lặp lòe nhảy múa theo từng hồi gió lộng của tâm can.
- Đi.
Lê Thạch đứng lên, cất giọng đáp lạnh và dứt khoát như quân lệnh. Cậu ta tiến ra phía mạn thuyền, thả mình trườn nhẹ xuống dòng sông tĩnh lặng mà không hề để lại một gợn sóng hay một âm thanh bì bõm, nối gót theo sau, Lê Lai cũng thả mình trườn nhẹ xuống mặt nước tối đen lạnh lẽo đó.
Lặn êm một khoảng đến độ cách con thuyền cỡ năm mươi bước, cảnh lúc này đã tranh sáng tranh tối. Đêm đã khuya lắm, đa số các thuyền chung quanh đều tắt đèn hết, thuyền nào lớn lắm mới thắp lác đác vài chiếc đèn dầu, tiện việc quan sát cho kíp trực. Xác định một góc tối bên mạn thuyền, cả hai nhìn nhau gật đầu rồi chia ra hành động. Cùng chìm vào làn nước đen đặc, Lê Thạch hướng tới chỗ kiện hàng, còn Lê Lai hướng về nơi tay thủy thủ gần nhất đang đứng ngó ngó gì đó phía gần mũi thuyền.
Tay trực boong kia có vẻ sắp hết ca, buồn ngủ lắm rồi, đứng một chốc lại cứ ngáp lên ỳ oàm, cặp mắt lơ đễnh trông ra phía khoảng sông ken đặc thuyền bè. Đang tính vác thanh song thủ gươm đổi sang chỗ khác cho đỡ chán mắt, chợt, hắn khựng lại và nhìn lom lom về phía mũi thuyền, như vừa thấy một thứ gì đó.
Đúng vậy, gã gác thuyền vừa trông thấy một thứ gì đó ngồ ngộ khi đang từ từ tiến gần lại. Trong cái cảnh tranh sáng tranh tối của một đêm trăng khuyết cùng ánh lửa lặp lòe giữa sông, cái thứ đó trông xa cứ vằn vện, đen đen rồi lại chàm chàm, cứ như một chiếc búi tóc rối bù, vướng vào một mảnh vải chàm rách rưới vậy.
Quái? Dạo này có đánh giết gì lớn gần đây đâu nhỉ, sao đầu tóc thân xác gì trôi ra đến tận đây? Hay là… xác của cô đồng ban chiều, sao nổi lên nhanh thế? Đấy, gã gác thuyền thoáng chốc chìm vào mớ suy nghĩ muôn hình vạn trạng do chính mình nghĩ ra, nhưng bấy nhiêu đó, cũng đủ thời gian vàng cho Lê Thạch hành động.
Lúc này, khi thấy gã kia có phần lơ đãng, Thạch nhanh chóng áp sát và đột nhập lên mạn thuyền. Cậu ta với tay thó ngay một chiếc đèn dầu, tưới luôn dầu trong chén lên mấy kiện hàng, rồi đặt nó xuống sàn dùng chân khều nhẹ một phát. Chiếc đèn dầu đổ, dẫn lửa theo dầu cháy bừng. Mọi chuyện diễn ra chỉ trong phút chốc, Thạch lại trườn xuống nước chuồn êm.
Lai đợi ở điểm hẹn, thoáng sau đã thấy Thạch trồi lên, Lai bá vai bạn vỗ vỗ mạnh mấy cái ra chiều cảm kích lắm, rồi cùng đốc thúc nhau bơi về thực hiện tiếp kế hoạch.
Lửa ở chiếc thuyền bên kia cất lên nghi ngút, bọn thuyền nhân náo loạn cả một góc. Lửa bén lên một chiếc cột buồm cao, bắt vải buồm cháy lên cuồn cuộn. Chiếc cột buồm sáng rực như chiếc đuốc khổng lồ ngã xuống, lại đè lên một chiếc thuyền con gần đó, văng tàn lửa sang các thuyền khác ở gần, bắt vào vải buồm dây nhợ cháy lan ra thành mảng. Giữa trời khuya cô tịch, bãi sông lại vang lên tiếng gào thét ầm ỹ, người thì ý ới hô cháy, kẻ thì gọi dập lửa. Một số chiếc thuyền ở nơi gần vụ cháy giống thuyền thuyền của Lê Lai, đã bắt đầu hối hả nhổ neo.
Ở phía thủy trại, quân Minh bị bất ngờ đâm rối loạn, mệnh lệnh đưa ra không nhất quán. Viên chỉ huy điều thuyền tuần tra xông vào tăng cường cô lập vùng cháy, ngăn không cho các thuyền chạy loạn. Các thuyền nhỏ cơ động của Đại Minh bắt đầu chia ra bủa vây, từ từ khép sát lại về phía tâm vụ cháy, nhưng do lực lượng vẫn mỏng so với mức độ hỏa hoạn, có nhiều thuyền nhỏ vẫn thoát được vây chèo ra ngoài.
Trong đám hỗn loạn của vụ hỏa hoạn, có một chiếc thuyền cỡ vừa đã bén lửa lên tấm vải buồm phía đuôi thuyền, điên cuồng lao đi húc đổ cả hai ba thuyền tuần tra cỡ nhỏ và một vài thuyền buôn. Thủy thủ đoàn trên đó kẻ thì kêu gào các thuyền né tránh, vài người đã tự lao mình xuống sông, trong khi phần còn lại thì hoặc chạy nháo lên hô hoán, hoặc là hì hục với nhau dập lửa phía cột buồm. Âm thanh la hét… và tiếng thuyền bè tông ầm ầm vào nhau… vang động cả một góc trời.
- DỪNG THUYỀN LẠI! DỪNG NGAY!
Một tiếng thét chói tai át cả tiếng hỗn loạn. Một chiến thuyền lớn của quân Minh rẽ sóng, xuyên qua lũ thuyền nhỏ nhốn nháo, lao đến đâm thẳng vào bên sườn của chiếc thuyền đang chạy loạn. Lực húc làm vỡ nát cả một góc thuyền, mũi chiến thuyền Minh găm chặt vào thân thuyền kia, theo đà đẩy nó đi một quãng vào hướng bờ, gần nơi chiếc soái hạm đang neo đậu, chỉ cách mấy chục bước.
Ở chỗ khoang thuyền bị tông nát, lăn xuống sông gần chục thùng gỗ vỡ tung loang một lớp váng dầu, kéo theo một thứ mùi hăng hắc phả ra trong không khí.
- SOÁI HẠM! SOÁI HẠM!
Viên tuần quan gào lên khản đặc nơi doanh trại, hải quân trên chiếc soái hạm kia liền hối hả kéo chiếc mỏ neo sắt nặng trịch lên. Đoàn thuyền mông đồng tuần kiểm lập tức đổ xô về hướng chiếc soái hạm ấy, nỗ lực mở một đường máu giữa đám hỗn loạn. Chiếc cột buồm rực lửa nơi con thuyền cháy bất ngờ kêu răng rắc, cột đuốc khổng lồ ngã uỳnh xuống khoang thuyền. Tàn lửa và dầu lạc bắn ra tung tóe, dầu ngấm lửa từ khoang thuyền bừng cháy cao đến mấy chục thước, táp vào chiến thuyền quân Minh đang găm chặt như một ngọn đuốc chữ thập. Lớp váng dầu trên mặt sông gần nơi hai con thuyền tỏa khói đen đặc, bắt lửa cháy lan ra xung quanh.
Lê Thạch và Lê Lai chết lặng mất vài khắc trên thuyền của mình, trông về đám hỏa hoạn mà toát mồ hôi hột. Nhưng thời gian không để hai người dừng lại quá lâu, họ liền hộc tốc, mím răng gồng tay chèo hòa vào đám hỗn loạn rẽ sóng băng băng về phía thủy sách.
- CHÁY!!!. MỞ QUAN!! MỞ QUAN MAU!!.
Sau lưng là lửa cháy ngùn ngụt, trước mặt là xích sắt chăng ngang. Thuyền Lê Lai ngược dòng, cùng với đám hỗn loạn cứ thế mà đâm thẳng, lách không được thì hất ngã luôn những thuyền vướng đường. Thuyền tuần quân Minh đa số đã đổ về phía vụ cháy mở đường cứu chiếc soái hạm, nhưng vẫn còn vài thuyền đâm ra chặn bất cứ thuyền nào có ý định vượt trạm. Một tên lính Minh nhảy thoắt lên thuyền Lê Lai tuốt đao hằm hè, lập tức con thuyền chao mạnh, khiến hắn loạng choạng lộn cổ xuống sông. Có một chiếc thuyền buôn lớn vừa vượt lên, mạn thuyền đã cháy sém một mảng. Thuyền nhân trên con thuyền này nhóm thì hò nhau dập lửa, nhóm thì hì hục vần những kiện hàng vuông to đang cháy thả hết xuống sông. Chiếc thuyền đó hô hoán loạn xạ, cứ thế rẽ sóng mở đường lao thẳng đến hướng thủy sách. Lê Lai và Lê Thạch gồng mình chèo cật lực theo sau, Thụy Xuân phải bấu chặt vào chiếc cột buồm để không bị ngã xuống sông.
UỲNH.
Tiếng xích sắt bật tung, sóng đánh từng cơn nhấp nhô dữ dội như sóng biển bạc trắng. Chiếc thuyền lớn kia tông đứt xích sắt lao thẳng qua bên kia, kéo theo sau là hàng hàng lớp lớp thuyền buôn lớn nhỏ, trong đó có cả thuyền của Lê Lai.
Qua được khúc chặn sông ấy, ngó lên bờ thì thấy người ngựa quân Minh đốt đuốc chạy nhặng cả lên, khua chiêng inh ỏi báo hiệu cho các chốt chặn gần đó chi viện. Lửa vẫn cháy sáng rực phía sau lưng như một ánh đuốc khổng lồ giữa đêm khuya.
Mệt nhoài người sau cơn loạn, chèo đi yên ả được một chốc, ngờ đâu tai vạ đã qua, cả bọn chưa kịp thở phào lại nghe thấy tiếng dân buôn ý ới gọi nhau, gì mà giấy thông hành gì đó, ở phía trên còn một chốt chặn hậu nữa. Lê Lai lo lắng nhíu mày nhìn quanh quất, chợt nhận ra trong dòng thuyền lớn nhỏ, có một đoàn năm thuyền, có hình dáng cũ kỹ và cũng dong cánh buồm màu ố cũ giống y chang thuyền của mình, nhưng đoàn thuyền này đã được qua chốt từ chập choạng tối, sao giờ vẫn neo lại ở đây?
Lê Lai đánh bạo áp sát thuyền, thưa chuyện với đoàn bên kia thử. Gặp một vài lái buôn ở thuyền bên hỏi chuyện và trình bày sơ qua, ngay lập tức cậu được đưa đi gặp trưởng đoàn. Qua vài lời chào hỏi, biết cả bọn đều là người đất Thanh Hóa, Lê Lai ngỏ ý đi nhờ cùng đoàn thuyền, do lúc hỗn loạn bị rơi xuống sông, giấy thông hành bị ướt mà nát hết. Thấy vị trưởng đoàn thoáng ngó ra sau dòm dòm về phía thuyền của mình, rồi liền gật đầu đồng ý ngay. Lê Lai chưa kịp cảm ơn hay hứa hẹn báo đáp gì, vị trưởng đoàn kia liền vẫn gọi thêm hai người trong đoàn thuyền của mình, bảo cúi xuống nhúng nước giấy thông hành mà vò rách đi. Nhìn tới đây, Lê Lai thật sự cảm kích, ứa nước mắt mà thề thốt sẽ báo đáp, vị trưởng đoàn kia đỡ Lai đứng dậy, hỏi han vài câu xã giao rồi tận tay dắt về thuyền.
Đoàn thuyền Lê Lai cặp vào đoàn thuyền buôn, nâng số lượng đoàn thuyên lên sáu chiếc, toàn những chiếc thuyền buôn cũ kỹ treo cờ ố cả. Bấy giờ đến lượt đoàn của Lê Lai đến chốt, Lai thấy viên chủ đoàn nọ đứng ra đại diện nói chuyện với viên tuần quan. Lời qua tiếng lại vài câu mà Lai nghe không rõ, nhưng giọng người kia nghe sắc sảo lắm, chợt có hai ba lính Đại Minh xông vào một hai thuyền bất kỳ trong đoàn, lục lạo bới móc một tí rồi bỏ lên. Đối đáp thêm mấy câu với viên trưởng đoàn nữa, lúc này tên lính mới hất tay cho cả đoàn qua chốt, bọn lính lập tức rút về thuyền túc trực lao đi chặn những thuyền khác. Bấy giờ cả bọn mới thở phào nhẹ nhõm thật sự.
Đi cặp với đoàn thuyền thêm độ hai dặm đường nữa thì đoàn thuyền cặp vào một khúc sông vắng mà nghỉ cùng nhau. Thạch và Lai đang cặp thuyền vào chỗ nghỉ, trông qua thấy viên trưởng đoàn nọ cũng đang đứng hóng mát trên boong. Lê Lai gật đầu chào, toan quay qua giới thiệu với Thạch thì thấy ông nọ nhìn qua Thạch một chút, rồi gật đầu nhếch mép cười, Lai nhìn qua Thạch thì thấy cậu này cũng gật đầu đáp lại, nhưng vẻ mặt thì rất kính trọng và nể phục, cái vẻ rất hiếm khi xuất hiện trên khuôn mặt cậu thiếu gia ngông cuồng này. Thấy có điều lạ, Lê Lai nhíu mày hỏi:
- Ủa, mày quen ông chú Long đó hả?
- Long cái gì, ổng chính là… Nguyễn Chích núi Hoàng, Nghiêu! Lê Thạch bật cười đáp.