CHƯƠNG 1
Chương 1:
Sơn hà loạn thế dậy binh hung
Nhân gian anh kiệt hội quần hùng
Vĩnh Lạc Thập Tam Niên (1415) theo lịch nhà Minh.
Sáng hôm ấy, có nhóm quân tuần ty Đại Minh ập vào một thôn nhỏ sát mé rừng phía Tây xứ Thanh. Toán lính có khoảng hai mươi lăm người, họp thành năm, bảy nhóm nhỏ chia ra lùng sục từng căn nhà một. Tiếng la hét, giằng co, tiếng đập phá vang vọng khắp nơi, bầu không khí căng thẳng và ngột ngạt. Có một toán quân Minh khoảng năm người ập vào căn nhà gần cuối làng, đó là một căn nhà rộng, nghe đâu là nhà của một cụ đồ uy tín trong thôn. Trong nhà có hai cha con cụ đồ, thêm hai vị thiếu niên, có lẽ là học trò đang sợ rúm ró. Lũ quan quân đang ra vẻ dọa nạt ghê lắm, chúng đập phá khắp nhà ông cụ, một đứa toan vung chùy đập mạnh vào một chiếc rương gỗ, tức thì một trong hai cậu học trò lao lên xô lấy người lính ấy ngã lăn. Mẻ!. Tiếng cô con gái ông cụ thất thanh. Đám quân Minh chợt bất ngờ, nhưng khi thấy trước mặt chỉ là một cậu thiếu niên học trò nhỏ thó, chúng nổi giận lắm, một tên chửi ầm lên, xông đến vung một chùy đập thẳng vào đầu cậu bé, khi vẻ mặt trẻ tuổi nhưng đầy cương trực ấy còn chưa kịp mang một biểu cảm khác, cậu đã phọt óc chết tươi tại chỗ.
Cô con gái cụ đồ khóc ầm lên, trong cơn đau xót tột cùng, cô gái lập tức lật ngửa chiếc bàn dài dạy học của cụ đồ, lấy ra một ngọn đoản giáo lao tới đâm phập vào hông tên lính kia. Hắn ré lên một tiếng xé trời, đưa tay giằng mạnh lấy ngọn giáo vứt đi, rồi tung một đạp trời giáng vào bụng làm cô bé bật ngửa ra sau, ôm bụng quằn quại. Hai tên còn lại đang hoang mang chưa biết phải xử trí ra sao, bất ngờ lại nghe một tiếng huỳnh từ phía cửa trước.
Tất cả ngó ra, liền thấy tên thổ binh trực ở cửa trước bị một thanh niên ôm ngang người húc tới, vật đánh ầm xuống sàn, dồn trọng tâm cả người ghìm tay cầm chùy tên nọ chặt xuống đất, tay phải rút dao găm ở thắt lưng đâm mấy nhát liền nát mặt, tên lính co giật từng cơn. Chưa kịp định thần đó là ai, một trong hai tên lính bên trong vung chùy lao ra toan sống mái. Người thanh niên đó phóng chếch tới, rồi lại lao về phía đà chạy của tên lính theo một đường gấp khúc, hạ mình ôm một đùi tên kia nhấc lên mà hất ngã ngửa, ngồi lên người khóa tay chùy rồi lia một đường dao cứa ngang yết hầu.
Ở gian nhà trong, tên lính bị giáo đâm thủng hông nổi cơn cuồng nộ, toan xông lên ăn thua đủ với cô gái mặc cho vết thương vẫn không ngừng ộc máu ra. Một tay hắn bịt lấy vết thương, tay còn lại nhặt lấy cây chùy vung đến toan trả hết nợ nần, cô gái bé nhỏ đang lê lết dưới đất kia chỉ biết nhắm chặt mắt lại đợi chờ số phận. Đương đà lao tới hoang dại, bất ngờ nghe phập. Thân hình kia chợt khựng lại, đổ gục xuống, phát ra một tiếng nghe vừa ú ớ, vừa ộc ộc, khẹt khẹt như đang nghẹn ứ một thứ gì đó trong cổ họng. Cô bé bàng hoàng mở mắt ra, hình ảnh hãi hùng trước mắt đó chính là ông đồ già, trên tay vẫn còn run run nắm chặt ngọn đoản giáo, đang cắm thẳng vào bụng tên lính kia, nó đổ quỳ xuống mà chết.
Trong một khắc định thần, thanh niên kia tung người lao tới phía tên lính còn lại, thấy thế túng quẫn, hắn toan chạy ra cửa sau, chưa được mấy bước đã thấy bị văng mạnh lại vô trong, tức thì ngay sau đó là một hòn đá to hơn nắm tay tống thẳng vào đầu, rớt cả mũ sắt chết tươi. Từ ngoài đó lại tiến vào một thanh niên nữa, vừa vào trong anh ta vứt ngay một tên lính Minh đang vác xốc trên vai xuống đất, mũi và mồm tên này đều ộc máu. Người thanh niên ấy chống tay vào tường, thở dốc hai ba nhịp rồi nói gấp:
- Tụi lính gần đây nghe động đang ý ới gọi nhau tới rồi, phải tính đường chuồn nhanh.
Cả bọn trong nhà đang toát mồ hôi chưa biết tính sao, chợt cụ đồ già lên tiếng, giọng dõng dạc:
- Lê Lai, lần này ta phải cậy nhờ con một chuyện hệ trọng rồi.
Nói đoạn, ông cụ sa nước mắt mà vỗ vỗ vào vai người thanh niên đã đến ứng cứu đầu tiên - lúc này là Lê Lai.
- Chuyện gì xin thầy gác lại sau, ngay lúc này chúng ta chạy trốn đi đã, giặc Ngô nó mà tới, nó giết cả nhà thầy mất thôi. - Lê Lai hốt hoảng nài.
- Ta mà chạy đi rồi nó sẽ giết cả làng mất thôi.
Cụ đồ run rẩy đáp, rồi trỏ tay vào chiếc rương mà bên cạnh vẫn còn là xác cậu học trò chết gục lên trên nắp. Vừa thấy hình ảnh thê lương đó, Lê Lai không giấu nổi vẻ bàng hoàng.
Nuốt nghẹn nước mắt, ông đồ già lại tiếp:
- Kìa là những gì quý giá nhất mấy đời gia tộc ta tích góp được, nay ta sẽ giao hết lại cho con, cùng với Thụy Xuân con gái ta giao hết lại cho con. Hãy mang cả hai chạy thật xa, chạy đi!! Ta sẽ ở đây thu xếp mọi chuyện. Khi nào trời Nam lại có vua Nam, hãy về lại đây mà tìm gặp ta. Còn bây giờ, chạy nhanh đi các con!
Ông cụ vừa nói vừa đốc thúc, lời chưa kịp dứt đã nghe thấy tiếng Hán ý ới gọi nhau ngoài ngõ. Thụy Xuân gào ầm lên mà van nài cha cùng đi, con cần cha chứ cần sách làm gì. Các bên lại vào thế giằng co, Lê Lai còn đương khủng hoảng tinh thần chưa biết tính sao, lại liền nghe một tiếng huỵch vang lên, Thụy Xuân gục xuống.
- MÀY LÀM GÌ VẬY?
Lê Lai hốt hoảng gầm lên.
- Mày bế con bé, tao bế cái rương, thằng oắt con này cố mà bám theo, hẹn gặp lại cụ ông. Nhanh lên kẻo chết cả lũ bây giờ!!
Thì ra đó là người thanh niên thứ hai xông vào từ cửa sau trong cuộc ẩu đả khi nãy, thấy chuyện đã gấp mà hai bên cứ giằng co mãi, liền vung tay tung một đòn vào gáy đánh ngất luôn Thụy Xuân. Tiếng binh lính đã vang rộn ngay trước ngõ nhà, chấn chỉnh lại tinh thần, Lê Lai lập tức bế xốc Thụy Xuân lên vai, từ biệt vội vã lần cuối với người thầy nhiều ân huệ của mình. Người thanh niên nọ cũng vác chiếc rương lên vai, cả bọn hộc tốc leo thoắt qua tường, thoát ra bên ngoài nhắm cánh rừng gần nhất mà cắm đầu phi như gió cuốn.
Phía trong nhà chỉ còn lại cụ đồ già, cùng với khung cảnh đổ vỡ, sách vở thư tịch bị lục tung bay la liệt, vải vóc màn cửa bị đập phá tung tóe khắp nơi. Cụ đồ lặng ở đó vài giây, như toàn bộ khung cảnh cả một đời cụ chợt hiện về, chỉ trong thoáng chốc. Cụ ứa nước mắt, miệng ngâm lên một khúc ai oán:
Ghét đỗi chính trường, lũ ác - tham
Về nơi sơn cốc, bỏ quan hàm
Dạy hiền, đãi sĩ, mưu việc lớn
Trời Nam sẽ lại có vua Nam.
Dứt câu, cụ bật nắp ống tre, một mồi lửa sáng lên, chiếc hỏa chiết tử rực cháy rơi vào đống sách vở đang bay loạn nơi góc nhà. Lửa bắt giấy cháy bừng lên, lan ra màn cửa vải vóc, cuồn cuộn trào dâng như ngọn lửa cũng đang xót thương cho vị quan già lỗi lạc vậy, cháy cho bằng hết mọi thứ còn sót lại sau bi kịch, trước khi bọn quan quân Đại Minh kịp ập vào soi xét.
***
Lúc đó, cả bọn Lê Lai cũng đã đi được một quãng, chợt Thụy Xuân mơ màng tỉnh dậy khi đang bị bế xốc trên vai Lê Lai. Chưa kịp ú ớ định thần gì, cô đã bàng hoàng nhìn thấy một cột khói lửa bốc cao nơi chính căn nhà của cô. Thụy Xuân rú lên, cả bọn lại một phen bàng hoàng. Lê Lai lập tức ghìm cô xuống, lấy tay bịt chặt miệng lại. Thụy Xuân nấc nghẹn lên mấy tiếng nữa, nước mắt trào ra như suối, rấm rức ít lâu rồi lại ngất lịm đi. Cả bọn dắt díu nhau chạy đến khi chạng vạng thì đến một đoạn suối quen thuộc trong rừng, có một trảng cỏ nhỏ bên cạnh, quyết định cắm trại qua đêm, đến mai sẽ tính tiếp.
Dọn sơ một khoảng sạch, đặt Thụy Xuân nằm xuống bên vạt cỏ, Lê Lai bần thần ngồi thừ ra, hai tay ôm chặt lấy hai bên thái dương, gục mặt xuống giữa hai đầu gối.
Cậu thanh niên còn lại và người học trò cũng đứng thẫn thờ một thoáng, nhìn quang cảnh thê lương của những người bạn mình. Một lát sau, người thanh niên quàng vai cậu học trò, ghé tai nói nhỏ đôi ba câu gì đó.
Cậu thiếu niên học trò Dạ!! rõ một phát, sau đó thoăn thoắt bẻ lấy một nhánh cây, động tác rất nhanh nhẹn và tháo vát của những đứa trẻ dân quê lớn lên giữa nơi thôn dã. Cậu ta bì bõm lội ra suối, lựa những khe đá lớn, chọc que cây vào xem xét. Dưới khe đá có cua, kẹp nghe giật một cái, cu cậu nhè nhẹ kéo que cây ra, lôi theo cả con cua đá to hơn bàn tay người lớn, nâu đỏ như màu đất. Nhanh như cắt, cu cậu chụp dứt khoát vào yếm cua mà bốc lên, con cua bị vô hiệu hóa, không sao thoát được. Bì bõm lội lên bờ, tiện tay nhổ luôn bụi cỏ lau bên cạnh, xoắn lại thành dây mà buộc cua lại, thoắt một chốc, cậu ta đã bắt được năm sáu con cua đá to sụ. Đang hí húi buộc con cua thứ bảy lại, thì thình lình cậu nghe phịch một tiếng bên cạnh. Giật mình nhìn sang thì thấy vừa rớt xuống đó là một xâu bốn con trắm suối to, con nào cũng thủng một vết xuyên từ bên này qua bên kia.
- Cu em mang cá ra suối mổ bụng rửa ráy đi này!.
- Ủa? Lê Lai huynh, anh khỏe rồi hả? Cậu học trò mừng rỡ.
Lê Lai đánh trần, cầm một ngọn lao vót tay, thân hình rắn khỏe ướt sũng lấp lánh lên phản chiếu những tia nắng chiều muộn, khuôn ngực vuông vức phô ra một hình xăm giao long cuộn tròn. Anh ta trông vẫn thẫn thờ lắm, định quay lưng ra suối thêm chuyến nữa, chợt nghe huýt sáo gọi vọng, ấy là người thanh niên chiến hữu cũng vừa về tới.
- Tao mới hái thêm được mớ măng rừng, với vài bụi ngót rừng, chặt mấy ống tre đun nước nấu chung với cá cả bọn húp cho ấm người.
Lục tục dọn chỗ nấu nướng, trời cũng đã đến giấc chạng vạng, nhóm người bôn tẩu ngồi quây lại với nhau bên bếp lửa giữa nơi hoang dã. Lê Lai gọi Thụy Xuân dậy ăn cho lại sức, húp được vài miếng canh cá, cô bé lại quay người nôn thốc ra. Tinh thần vẫn còn chưa ổn định sau những cú sốc kinh khủng đó, nằm yên nhìn bâng quơ ra cảnh đêm rừng hoang một chút, Thụy Xuân lại thiếp đi.
- Rồi… hai đứa mày có định làm gì tiếp chưa?
Húp rột một ngụm canh cá nóng hổi, đưa tay lấy ra vài mẩu xương còn mắc trong thịt, người thanh niên hỏi Lê Lai.
- Chắc hai đứa tao về thôn Dựng Tú với cha tao.
- Cha mày hình như cũng một viên quan chức gì đó phỏng?
- Phụ đạo thôi, quan chức gì đâu!
Gật gật gù gù, người thanh niên kia lại nâng chiếc ống tre lên húp sì sụp. Cái thứ nước suối nấu với cá cùng ngót rừng, măng dại, không gia vị nêm nếm, đã tanh tanh mùi cá còn nhẵn nhẵn vị rau. Vậy mà sau một ngày mệt đừ, lại giữa rừng không mông quạnh, nó trở thành một món canh đáo để cứu lấy những chiếc bụng đang kêu gào.
- Mày tính sao Thạch, không lẽ mày cứ đi lang bạt kỳ hồ mãi vậy sao? Sao mày không về quê nhà làm một chức quan, an cư lập nghiệp, nghe đâu nhà mày cũng có gia thế ở Lam Sơn lắm mà?
- Tao không làm quan cho bọn giặc Ngô đâu mày ơi, chúng nó là Hán tộc, có coi người Việt mình ra gì đâu.
- Mày nói sao chứ, tao thấy quan địa phương cũng dân Việt đầy!
Lê Lai cười đáp nhạt.
- Ừ… dân Việt đầy.
Thạch nhếch mép cười đầy vẻ mỉa mai.
- Rồi thì lũ nó cũng đọc Hán văn, phò Hán tặc, đày ải dân đen xứ này thua gì lũ chó Ngô, hử?
- Ha ha!! Từng một thời chống Tống phạt Chiêm, xăm Sát Thát phá Mông Nguyên lẫy lừng, nay con cháu lại phải cúi đầu thờ chó Ngô hay sao?.
Lê Lai ngửa mặt bật cười lên cay đắng. Tay chọc chọc một que cây vào đống củi cháy có vẻ hơi mạnh. Cơn gió se lạnh chớm thu thổi nhẹ qua đống củi lửa, tàn củi cháy lép bép theo gió cuốn lên lốm đốm như bầy đom đóm dập dìu giữa rừng đêm cô tịch, chợt… người thanh niên nọ cất giọng hỏi một câu, nghe thản nhiên đến lạ.
- Nếu giờ… cho mày nắm trong tay mấy nghìn giáp sỹ, chục viên bộ tướng, mày có dám… nổi dậy đánh lấy một cõi lập cơ đồ đế nghiệp không?
Lê Lai khựng lại, nụ cười cay đắng liền thay bằng cái nhíu mày đăm chiêu. Que cây ngâm một lúc trong lửa, rực cháy lên như ngọn đuốc. Không gian thoáng chốc trở nên đặc quánh bởi sự vắng bóng của giọng người, chỉ còn tiếng lá cây xào xạc và tiếng côn trùng giữa rừng đêm.
Đoạn, thấy bầu không khí có vẻ chùng xuống, thanh niên ấy lại quay sang phía cậu học trò bắt chuyện:
- À, cu em, đồng hành trưa giờ mà anh quên không hỏi tên cu, anh là Lê Thạch. Người vùng Lam Sơn, Lương Giang, phủ Thanh Hóa.
- Em là Phạm Văn Xảo, người huyện Trà Lân, phủ Nghệ An.
- À, Nghệ An hả, mới năm ngoái anh có xuống đó một lần, nhưng mà do đi theo thuyền buôn nên anh chả biết địa danh gì sất, họ đưa đi đâu thì anh đi đó thôi.
- Anh xuống Nghệ An quê em rồi hả, anh đi huyện nào, Trà Lân, Trà Ôn,...
- Anh đâu có nhớ đâu cu, anh theo đoàn thuyền đi buôn vải của một lão giang hồ quen biết. Miệng bảo đi buôn vải vậy chứ, cả đoàn họ cứ chăng ngang xẻ dọc các nhánh sông, dáo dác dòm ngó địa thế, anh còn thấy có thằng lôi giấy bút vẽ lại địa đồ, hỏi tới thì ậm ừ ậm ừ, chán bỏ xừ.
- Cha, mày đi với ai mà ra vẻ bí ẩn quá vậy?
- Xuỵt! Khẽ thôi.
Vừa nói, Lê Thạch vừa ra vẻ lấy tay che miệng kiểu nói nhỏ.
- Tao đi với ông chú Nguyễn Chích!
- Nguyễn Chích?? Cùng ba mươi tráng sĩ núi Hoàng, núi Nghiêu, ba năm trước từng một phen làm Trương Phụ sợ trắng mặt?
- Ừ, chính lão, lão ấy lớn hơn ông chú tao ba tuổi, coi bộ cũng có biết mặt nhau.
- Rồi sao mày quen được lão?
- Ha, hồi đầu mùa mưa tao có chuyến đi rừng, gặp một thằng trẻ tìm trầm bị heo rừng đuổi té trẹo chân. Nó nằm cù bơ cù bất trong hốc cây thút thít, tao thương tình vác nó về tận núi Hoàng, Nghiêu, té ra thằng đó lại là gia nhân của lão Nguyễn Chích.
Chuyện đẩy đưa thêm được vài câu nữa, nhóm bôn tẩu lại rơi vào yên lặng. Những câu chuyện gẫu dần nhường chỗ cho tiếng đá cuội đập vỏ cua nướng chan chát, tiếng húp xì xụp, tiếng gió đưa qua rặng tre xào xạc, thi thoảng chen ngang vài tiếng sụt sịt của Thụy Xuân.
Đang tập trung đánh chén bữa tối sau một ngày dài, bỗng nghe phía sau có tiếng lịch kịch, cạch - tiếng bật mở của lẫy đồng vang lên, và tiếng kẽo kẹt nghe như những cánh cửa gỗ đã cũ dần mở ra. Cả bọn quay sang nhìn, Thụy Xuân đang nhẹ mở nắp chiếc rương của cha mình, thoáng chốc một mùi gỗ sưa thơm đậm tỏa khắp không gian, hòa vào trong đó còn có thoang thoảng mùi giấy cũ nữa. Tò mò kéo đến xem, thì ôi trời ơi!! Bên trong chiếc rương đó xếp lớp đều như gạch những quyển sách khổ lớn, bìa bọc gấm hoa tinh xảo. Và thứ làm cho cả bọn ngỡ ngàng không chỉ bấy nhiêu.
- B… Bản… Bản chép tay… Đ… Đại Việt Sử Ký???.
Văn Xảo lắp bắp như không thể tin vào mắt mình.
Trên tay Thụy Xuân lúc này, đang lật mở ra một trang đầu tiên của một quyển sách trong bộ. Trên lớp giấy dó cực phẩm mịn màng, ngay chính giữa trang, bốn chữ lớn viết theo lối khải thư uyển chuyển như rồng cuộn, xếp dọc ngay ngắn từ trên xuống dưới, đề: ĐẠI VIỆT SỬ KÝ, bên cạnh có dòng nhỏ ghi Quyển chi Tứ, lệch sang bên nữa là một dấu triện đỏ chót màu chu sa, đề: Quốc Sử Viện.
- Ừ!! Lại còn có triện triều đình đỏ chót, quả này mà bị bắt phỏng, nó đốt cả nhà chứ không chỉ….
Lê Thạch chậc chậc lưỡi buột miệng, dường như chợt nhận ra mình hơi lỡ lời, nên câu nói chưa dứt đã lập tức im bặt.
- Hàn Lâm Viện Học Sĩ kiêm Quốc Sử Viện giám tu Lê Văn Hưu dâng sắc chỉ biên soạn, không lẽ…
Đọc lên một dòng khải thư nhỏ thấp phía cuối trang, Lê Lai thốt lên đầy sửng sốt.
Thụy Xuân lật mở vài trang sách, ở trong là những dòng chữ chép tay nắn nót, đều tăm tắp như nêm, còn nguyên những mảnh vải dán đè lên câu chữ, chỉnh sửa văn chương và phê lời bình của triều đình.
- Cô em đây… họ Lê phỏng?.
Lê Thạch bất giác hỏi
Tay run run trên trang sách, Thụy Xuân cất một giọng thỏ thẻ đượm buồn.
- Vâng! Em là Lê Thụy Xuân, còn cha em là Lê Văn Quyết. Cha ít khi kể với em chuyện họ tộc, em chỉ biết nhà em mấy đời làm quan chép sử trong triều.
- Thế… sao cha em lại không làm quan nữa, mà về dạy học?
Thạch hỏi.
- Cha bất mãn triều chính, nên bỏ quan tước về dạy học từ thời Hồ… cũng hơn mười năm nay rồi.
- Rương sách này thầy cất rất kỹ, mấy năm anh dựng lều chõng theo học cha em, chỉ trông thấy qua một hai lần, còn không biết đó là sách gì, cớ sao lần này ngay lúc dầu sôi lửa bỏng, thầy lại lấy sách ra để mắc tai ương cơ chứ.
Lê Lai buột miệng phẫn uất.
- Đột nhiên trưa nay thằng Kỷ từ đâu hớt hải chạy về…
Thụy Xuân buột miệng, nghe tới đây, chợt Lê Lai thốt lên ngạc nhiên:
- Thằng Kỷ? Không phải nó đã thi đậu một chức quan trên huyện, ra làm quan rồi sao?
- Lại một thằng làm quan cho chó Ngô á?
Thạch tức mình lên giọng.
- Học trò cũ của thầy hả hở anh Lai?.
Văn Xảo tròn mắt, Lê Lai gật đầu.
- Em cũng chẳng biết, lần này nó về, luôn miệng khoe khoang gặp được một tôn thất Trần Triều. Nó cứ khăng khăng Giản Định mới là dòng chính thất, còn Trùng Quang chỉ là tên chăn ngựa tiếm danh, nó cãi chày cãi cối làm cha tức mình, mới lấy gia phả và sử sách ra tra cứu...
- GIA PHẢ Á?
Nghe đến hai chữ gia phả, Lê Lai tròn xoe mắt sửng sốt.
- Sao… sao anh chưa từng nghe về điều này nhỉ.
- Từ trước khi anh về theo học cha em, thằng Kỷ vốn là đứa học trò được cha cưng nhất…
Vừa kể bằng một giọng vô hồn cùng cặp mắt sưng húp, Thụy Xuân vừa lấy từng cuốn sách ra đặt trên một mặt cỏ sạch, đếm qua được tất cả ba mươi cuốn. Khi cô lấy ra đến những cuốn sách cuối cùng, đáy rương lại dần lộ ra một tấm bảng gỗ sưa đậm hương thơm phức. Hơ tấm bảng gỗ đó qua ánh sáng lửa trại, trên thớ gỗ mịn màng còn nguyên cả vân, giữa những nét chạm khắc rồng lượn đạp mây cực kỳ tinh xảo, nhóm người lại một phen thất thần nữa:
- TRẦN TRIỀU GIA PHẢ!!.
Văn Xảo hét toáng lên, Lê Lai vội ôm ghì bịt miệng lại.
- Thằng Mẻ… nó cũng là tôn thất nhà Trần đấy
Thụy Xuân chợt buông một câu nhẹ nhàng nhưng lạnh toát.
- Cái…
Ba khuôn miệng, ba cặp mắt tròn vành vạnh như chiếc nia phơi thóc cùng buông ra một tiếng hoang mang.
Qua ánh lửa hắt lặp lòe trên tấm gỗ sưa khắc rồng, ngón tay Thụy Xuân lần mò dần qua cả trăm cái tên bổ ngang bổ dọc của cây gia phả. Cung Tĩnh Vương Trần Nguyên Trác… Trần Nguyên Đán… Trần Nguyên Hãn… ngón tay của Thụy Xuân tiếp tục dò, rồi dừng lại ở một cái tên.
- Đây! Trần Nguyên Cát, chính là cu Mẻ.
Cả Lê Lai và Văn Xảo đều không ngờ rằng, cậu học trò bé con khi trước chạy chơi quanh sân nhà, không may ngã sấp mặt xuống đất mẻ mất hai cái răng cửa, bị cả nhà trêu đặt luôn cho cái tên là Mẻ, nay lại là một tôn thất Trần Triều hẳn hoi.
- Khiếp thật! Không ngờ em lại được học chung với cháu chắt của bậc quân vương Trần Triều.
Thụy Xuân bùi ngùi nhớ lại một buổi chiều mưa giông, cách đây hơn mười năm. Khi đó, cô bé Thụy Xuân mới bốn năm tuổi, đang run rẩy nấp dưới gầm bàn học vì sợ tiếng sấm, mặc cho cha gọi mãi cũng không chịu bò ra. Đột nhiên, trước cổng nhà vang lên tiếng gọi lớn vọng vào át cả tiếng mưa trút. Cha cô hớt hải che ô chạy ra đón, rồi dắt vào nhà hai vợ chồng vị khách lạ, đội nón rộng vành, mặc táo rơm lấm lem bùn đất, trên tay bế theo một đứa bé còn đỏ hỏn, quấn chặt trong mấy lớp áo cũ. Hai vị khách trông vội vã lắm, nói chuyện với cha cô mấy câu mà cô chỉ nhớ được lõm bõm vài từ Hội thề Đốn Sơn, quân nhà Hồ, Nguyên Cát…. Sau đó, cô thấy họ trao đứa bé đang khóc oe oe cho cha, cùng một tấm bảng gỗ phảng phất mùi gỗ thơm mà cô vẫn nhớ như in.
Thụy Xuân vuốt lên tấm bảng gỗ, nhẹ lau đi một giọt nước mắt vô tình rơi lên đó.
- Đó là tấm gia phả này, chính tay cha em đã khắc tên cu Mẻ vào đây.
Cầm lấy một góc tấm bảng gỗ quý, vân gỗ mịn màng lạnh toát dưới tay. Lại nhìn về phía rương sử sách, Lê Lai tưởng chừng như đang nhìn về mấy trăm năm hưng phế của những vương triều Đại Việt, anh ta buột miệng than một câu.
- Phũ phàng thật, vương thất một thời rồi cũng phải bôn tẩu chẳng khác gì tội phạm. Những thứ này mà để giặc Ngô nó đốt hết, thì chuyện Lý Triều phạt Tống bình Chiêm, rồi hào khí Sát Thát của Trần Triều, sợ… chỉ còn qua lời đồn!
Nhóm người quanh đống lửa trại lại chìm vào khoảng không của trầm mặc, nhường chỗ cho tiếng ếch nhái kêu râm ran, một chốc sau…
- Ấy chết, Lê Lai con ạ, thế này thì mày đâu thể đem thứ cấm vật này về trữ trong nhà được?.
Lê Thạch đột nhiên bật hỏi.
- Ừ nhỉ!! Chết mất!!.
Lúc này, Lê Lai mới kịp bàng hoàng nhận ra. Anh ta đưa ngón cái và ngón trỏ véo chặt vào trán, nhíu mày nhìn đất nghĩ ngợi.
- Hay là đem chôn giấu nó ở quanh đây, đợi sau này hết loạn lạc rồi sẽ quay lại tìm??
Cậu học trò Văn Xảo chợt nảy ra sáng kiến.
- Không được, đây là thứ mà cha chị đã dùng cả tính mạng để bảo vệ, nhất định chị không thể để nó lại được.
- Hay là… anh cứ… Thụy Xuân thỏ thẻ, chưa kịp dứt câu.
- Cùng lắm thì mình cứ xuôi vào nam, đất nào ổn, mình sẽ lợp mái tranh cày mấy sào ruộng mà sống.
Lê Lai thoáng nghe thấy tiếng Thụy Xuân bất ổn, liền vò đầu bứt tai nghĩ ra vài kế hoạch trấn an cô bé.
- Thôi, đằng nào hai đứa bây cũng chưa biết đi đâu, hay là về với Chú Ba tao ở quê nhà Lam Sơn?
- Về với Chú Ba của mày ở Lam Sơn? Nhà mày chịu chứa chấp cấm thư à?
- Chú Ba tao cũng thường chứa chấp dân xiêu tán tróc nã, cho họ một mái tranh mà nương nhờ, làng tao đất tốt mà người thưa, tụi bây về đó cày ruộng cho ổng, coi như cũng là gia khách thôi.
- Mày không sợ… giặc Ngô nó đến đốt cả nhà à, chứa chấp hàng cấm quốc gia, không phải chuyện đùa!
- Mày về đấy khoe khoang khắp nơi ta có sách quý à? Vả lại, chú tao khi trước từng theo Giản Định Đế làm tướng đánh giặc Ngô, mà bây giờ vẫn về làm chức tuần kiểm được, không lẽ rương sách cỏn con của chúng mày, ông ấy không có cách giấu?
- Mày… nói thật chứ? Chú cháu mày dám… chứa chấp bọn tao?
- Nói điêu sét đánh.
Thạch lại làm ra vẻ chấm mút ngón tay đưa lên thề, cả Lê Lai và Thụy Xuân vội chụp lại. Một thoáng trầm ngâm tư lự trôi qua, chợt… Văn Xảo lên tiếng.
- Em thấy được đó Lê Lai huynh, chứ giờ anh mà mang cái rương sách này về quê, nhỡ đâu...
Lê Lai vẫn cau mày tư lự.
- Về Lam Sơn với chú cháu tao thôi, chứ còn nghĩ ngợi gì nữa.
Nhìn chằm chằm vào đống lửa cháy bập bùng, trong lòng Lê Lai quặn lên trăm mối lo toan. Mang về Dựng Tú thì không ổn, tha hương cầu thực thì cũng chả xong.
- Mày… không sợ mắc vạ vào thân à?
- Hay để bố mày thề độc…
Thạch lại toan đưa tay lên, Lê Lai vội can ngay.
- Thôi thôi… Ừ thì… tao về Lam Sơn với mày vậy.
Lê Thạch ôm vai Lê Lai, vỗ mạnh mấy cái vào vai bạn.
- Khổ thân! Chết đuối vớ được cọc mà cứ vùng vằng mãi thôi.
Lê Lai chỉ cười gượng, trong lòng bỗng thấy ấm lên. Giữa lúc sa cơ lỡ bước, lại có những người bạn hiền dù không chung máu mủ ruột rà, chấp nhận hiểm nguy mà dang tay giúp đỡ cho mình qua cơn hoạn nạn, ấy là quý lắm vậy.
- Rồi… làm sao anh đem được cái rương này về Lam Sơn?
Văn Xảo gãi đầu, bất giác hỏi một câu, làm cho những cặp mắt lại vô thức hướng về chỗ chiếc rương gỗ lạnh tanh.
- Ừ nhỉ, làm cách sao để vừa đi đường vừa vác theo rương sách này?
Lê Lai lại buột miệng thốt lên. Ôi thật là một ngày nhiều biến cố, đến mãi đêm muộn mà vẫn còn phải đau đáu lo toan nghĩ cách để sinh tồn cho ngày mai.
- Em thấy vầy, hay là trước mắt mai ta cứ ghé nhà cô Tám Son trước đã.
Thụy Xuân nảy ra một ý.
- Cô Tám hàng nước, nhà cặp sông cách làng mình vài dặm ấy hả?
Lê Lai hỏi.
- Đúng vậy! Em định ta sẽ qua mượn nhờ cô cặp đòn gánh, và ít đồ bán buôn lặt vặt, chia nhỏ sách ra chất lên gánh trộn lẫn với các thứ đồ buôn, giả làm lái buôn mà đi thong thả thôi. Nếu ta cứ thậm thụt lén lút, kiểu gì cũng sẽ bị nghi hoặc, nay ta cứ tỏ ra như thường mà đi, hòa vào dòng người qua lại, vậy thì ít bị quan quân giặc Ngô chú ý hơn.
Thụy Xuân chậm rãi giải thích những mưu kế trong đầu mình.
- Hay!! Hay lắm, vậy thì mai ta sẽ sang thăm cô Tám vậy, từ đây ra mé rừng sát nhà cô Tám chỉ đi bộ đâu độ hơn canh giờ thôi, sớm mai dậy ta khởi hành, đến xế trưa là tới.
Lê Lai vui mừng đáp, mọi người nhìn nhau, như vừa trút được một tảng đá trong lòng.
- Sao nào, cu em, chú cũng về với bọn anh chứ?
Lê Thạch quay sang hỏi Văn Xảo.
- Dạ, cảm ơn huynh có lòng, nhưng em sẽ… về Nghệ An với cha mẹ em.
- Đường xa lắm đấy nhé, rồi giấy thông lộ đâu mày về. Lê Lai gặng hỏi.
Văn Xảo trầm ngâm một thoáng, ánh mắt lơ đễnh dõi theo từng nhịp nhảy múa của ánh lửa nơi bếp củi.
- Thì em cứ… hỏi một ghe buôn nào đó hướng về Nghệ An, xin lên làm một chân phụ việc thôi. Hồi trước em cũng đi như vậy, bọn quan quân thấy em thạo chữ Hán, chỉ cần cung kính một tí… chúng cũng không làm khó gì
- Ừ, tính cho khéo đấy con ạ, thời buổi này loạn lạc lắm, không tiện thì trước cứ về Lam Sơn với bọn anh, rồi sau anh sẽ liệu việc đưa mày về.
Lê Thạch lại ngỏ lời, Xảo cười xòa gãi gãi đầu thoái thác, cứ như vậy một chốc sau, những tiếng ngáy đã vang lên giữa đêm rừng sau một ngày dài nhiều biến động.
***
Sáng hôm sau, cả bọn lại lục tục dậy sửa soạn tiếp tục cuộc hành trình. Văn Xảo có ý muốn về Nghệ An luôn, nhưng không thông thạo đường rừng, nên lại theo đoàn đến hàng nước cô Tám Son.
Đi bộ chừng một canh giờ, cả bọn ra được đến bìa rừng, trước mắt kia là một nhánh sông nhỏ vắt ngang, cạnh bên có một trang viên nhỏ, có mái tranh, trong sân nuôi một đàn gà và ngỗng, một chiếc chõng và mấy cái ghế tre con kê ngay trước cửa, đó là hàng nước cô Tám Son.
Kéo vào sân nhà cô Tám ý ới chào hỏi, bọn ngỗng xồ ra kêu vang nhà. Giấc này cũng gần trưa, nông dân đang hị hụi ngoài đồng hết nên hàng nước của cô vắng lạnh. Cô Tám nghe tiếng ngỗng cạc kếu ầm lên, hớt hải chạy ra thấy cả bọn thì hốt hoảng:
- Ấy chết, chúng mày vào đây nhanh lên kẻo bị phát hiện!!
Chưa kịp hiểu đầu đuôi tai bách gì xảy ra, cô Tám vội vã kéo cả bọn vào trong, đóng cửa quán ngay tức thì. Kế sau, bà cô tuổi độ hơn tứ tuần, có thân hình thấp tròn, nhưng lại nhanh nhẹn tháo vát đến bất ngờ, lia vội ấm nước và vài cái chén đặt lên chõng cho mọi người. Lúc này, gương mặt tròn phúc hậu và hào sảng kia mới kịp thở gấp vài hơi, quay ngoắt sang Lê Lai và Thụy Xuân nói bằng giọng hoảng hốt:
- Giặc Ngô đã truyền trát lùng bắt hai đứa chúng mày, có biết không? .
- LÙNG BẮT??.
Cả bọn thốt lên.
- Chúng mày bé bé cái mồm lại, lính tuần vẫn còn lảng vảng quanh đây. Cô mới hay chuyện hồi sáng sớm, mấy lão nông ra đồng ghé lại chè nước kể cô nghe, sao lại ra nông nỗi này thế hở các con?
Cô Tám khấp khởi hỏi, Thụy Xuân mới buồn buồn kể lại cho cô nghe toàn bộ câu chuyện tai ương bằng một giọng vẫn còn khàn đặc.
- Trời ơi! Tội nghiệp con gái ta quá, cụ đồ Quyết thiện lành như vậy, chưa từng cạnh khóe gì ai, sao lại có thằng thất đức, nỡ làm chuyện tày trời vậy chứ.
Cặp mắt cô Tám đã ngấn nước từ bao giờ, ôm lấy Thụy Xuân vào lòng mà vỗ về khi đôi vai cô bé đã run lên theo từng nhịp nấc nghẹn.
- Đúng ra là, các con không bị lùng bắt đâu, vậy mà…
- Vậy… có điều gì uẩn khúc nữa hở… cô Tám?
Lê Lai lo lắng hỏi.
- Cô nghe kể, bọn Ngô đã xộc vào lục tung căn nhà lên, nhưng tất cả đã cháy ra tro, ngoài mấy xác lính cháy đen và cụ đồ, chúng không tìm được thêm gì cả. Hạch hỏi dân làng xung quanh một hồi cũng không moi thêm được gì, thằng đội trưởng lôi ông Định trưởng thôn ra, đe nẹt rằng ai hỏi thì cũng bảo đây là vụ tai nạn hỏa hoạn. Ông Định gật đầu lia lịa, chúng nó toan gấp rút rời đi khi trời đã quá trưa, thì đột nhiên có một thằng sai nha mặc áo Ngô hớt hải chạy đến kề tai thằng đội trưởng xì xầm.
- Nó nói gì thế cô?
Lê Lai hỏi gấp. Cô Tám nâng chiếc bát nhấp một ngụm nước vối, chép miệng mấy cái rồi kể tiếp.
- Cô không biết nó nói gì, mà nghe xong, thằng đội trưởng quắc mắt nhìn vào đám dân làng gần nhà cụ đồ Quyết, và cả ông trưởng thôn nữa. Nó sai một thằng thư lại mang giấy mực, kê án ngồi bệt xuống đất vẽ hí hoáy theo lời thằng kia, rồi chỉ tay xua thổ binh đến trói gô cả ông lý trưởng và mấy người dân gần nhà cụ Quyết. Vụt roi quát thét mấy hồi mà vẫn không moi được gì, nó tức mình vung đao chém rơi đầu ngay ông Định.
- TRỜI ĐẤT!
Nhóm Lê Lai bất giác thốt lên, cô Tám phải đưa tay lên miệng nhăn mặt xuỵt cả bọn be bé cái mồm. Thình lình tiếng ngỗng ngoài sân kêu inh ỏi, tức thì có tiếng sắt cứng đập cộp cộp vào cột gỗ, và một tiếng gọi vọng vào làm cho mặt ai nấy đều biến sắc.
- Chủ quán đâu, chủ quán có nhà không?.
- CHẾT!
Lê Lai, Lê Thạch, Thụy Xuân, Văn Xảo đều điếng hồn, toát mồ hôi hột. Cô Tám loay hoay trong thoáng chốc, liền cất giọng thật nhỏ.
- Tụi bây ôm rương sách theo cô, nhanh lên, đi khẽ thôi.
Vừa dứt câu, cô Tám vơ vội luôn mấy chén nước vối, dẫn cả nhóm lẻn ra cửa sau tiến về phía chuồng ngỗng sát mé nước, nơi đó neo đậu một chiếc thuyền buôn cũ vương vãi lá mục và phân gà. Cô chỉ Lê Lai và Lê Thạch vòng ra sau chuồng ngỗng, chỗ ấy có mấy tấm lưới rách, đống sọt tre nát cùng rác rến lá mục bẩn thỉu gom lại thành ụ to. Hai thanh niên nhăn mặt, nằm áp sát thân xuống nền đất bùn toàn cứt ngỗng, kéo lưới và sọt nát lá mục phủ kín người. Đoạn, cô thoăn thoắt mở khoang thuyền cho Thụy Xuân ôm rương sách chui vào trong. Bầy ngỗng trong sân vẫn kêu nhặng, ở ngoài cổng thì tiếng gõ chan chát vào cột gỗ càng lúc càng thô bạo gấp gáp hơn.
- Cô Tám, cô làm gì trong nhà thế, lâu quá con mới về thăm cô đây.
Một tiếng gọi vọng vào, Thụy Xuân vừa chui được thân người xuống, đầu còn nhô khỏi khoang thuyền, liền khựng người lại, nhăn mặt nhìn cô Tám hốt hoảng. Cô Tám nhíu mày, ấn đầu Thụy Xuân xuống khoang rồi nhẹ đóng nắp khoang lại, tung lên một tấm lưới nát cùng mấy sọt tre rách rưới bùn sình.
- Ơi! Chờ cô một tí, cô đang dọn chuồng ngỗng.
Tung một nắm cám ra sân, bầy ngỗng và gà ùa đến mổ, cô Tám và Văn Xảo rửa vội tay chân bên mé nước, rồi hớt hải chạy ra mở cổng.
- Ô! Thằng nhỏ nào đây, cô Tám?
Trước mặt cô Tám, một tên thư lại có dáng nguồi ốm cao ngồi vắt vẻo trên con ngựa thồ nhỏ thó, mặc chiếc áo viên lĩnh khuy vải thắt nút tròn xoe chỉnh tề. Mặt hắn nhọn hoắt như chuột chù, cặp mắt cú vọ ti hí, ria thầy đồ loe nghoe vểnh ra hai bên, theo sau có hai tên thổ binh áo vải chân đất, tay cầm chùy ngắn.
- A! Thằng Kỷ, mày lên huyện làm quan hơn năm trời không về, tưởng quên cô Tám này rồi chứ.
Cô Tám đon đả chào hỏi, rồi đưa tay xoa xao đầu Văn Xảo bên cạnh.
- Thằng này cháu cô ở làng bên, mấy nay trở trời, mẹ nó sợ cô bệnh nên sai nó mang thuốc sang thăm nom ấy mà.
- Thằng này trông sáng dạ đấy, mày biết chữ nghĩa gì không, thằng nhỏ?
Tên thư lại hất hàm về phía Văn Xảo.
- Dạ! Em… Không biết.
Văn Xảo ngượng nghịu đáp, toét miệng cười một kiểu ngờ nghệch.
- Ha! Tưởng mẹ mày gửi mày về đây học nhà cụ đồ Quyết chứ.
Nghe đến tên cụ đồ Quyết, Văn Xảo sững người một nhịp, nhưng ngay lập tức lấy lại vẻ ngờ nghệch. Dứt câu, tên kia không thèm hỏi han gì, đủng đỉnh đánh ngựa đi tơn tơn thẳng vào sân nhà cô Tám, theo sau là hai tên thổ binh. Hắn bước vào nhà, chiễm chệ ngồi lên chiếc chõng kê trong nhà mà khi nãy bọn Lê Lai vừa ngồi.
- Nước vối vương vãi thế này, cô Tám?
- Thằng Sọt khi nãy đánh đổ ra đấy, cháu cô vụng lắm, con chớ trách nó tội nghiệp.
Cô Tám cười gượng, tay mang theo ấm nước và mấy chiếc chén đặt lên chõng, rót nước mời tên Kỷ và hai tên thổ binh. Nhấp một ngụm nước vối, Kỷ chép miệng nói với cô Tám một giọng lạnh tanh.
- Cô biết chuyện thầy con rồi chứ, cô nhỉ?
- Sớm nay cô mới biết, mấy lão nông làm ruộng ghé uống nước vối kể cô nghe, sao… cụ đồ Quyết lại ra nông nỗi này, hở con?
- Thầy con mu muội, cô ạ, nghe lời thằng Lê Lai, không chịu giao cấm thư cho triều đình. À, từ qua đến nay, thằng đó có dắt cái Xuân ghé lại đây không?
Nhắc đến tên Lê Lai, giọng tên Kỷ bất giác nghe hằn học hơn.
- Mấy ngày nay cô không thấy chúng nó ghé cô uống nước, cô còn đang tính vào làng hỏi thăm sự tình đây.
- Thằng chó đó! Nó luôn mồm xúi quẩy thầy và em Xuân giấu nhẹm sách cấm, nên mới mắc phải tai vạ này. Không biết nó đã dắt em Xuân đi biệt tăm tận đâu, cô mà che giấu chúng nó, là phải tội chết đấy.
Tên Kỷ tức tối, đập mạnh tay xuống chõng. Khẽ nhăn mặt một tí, hắn lại quắc mắt liếc ra sau cô Tám, hất hàm, lập tức hai tên thổ binh chia nhau ra, lùng sục khắp căn nhà.
- Cô nào có giấu diếm gì, cớ sao lại lục tung nhà cô lên vậy?
Văn Xảo có vẻ sợ sệt, đứng khúm núm nép sau cô Tám.
- Đây là thủ tục của quan trên, cô Tám thông cảm cho con.
Hai tên thổ binh tiến ra sân, tiếp tục lùng sục khắp ngóc ngách. Tên Kỷ ngồi trong nhà, vừa uống nước vối vừa hỏi han cô Tám.
- Thằng đấy… dắt theo cả cái Xuân, hở con?
- Đúng cô ạ! Con mà lùng bắt được nó nộp cho quan trên, nó bị chém đầu là cái chắc.
- Thế… cái Xuân nguy quá, con bé nào có biết gì!
- Em Xuân ngây thơ quá, nghe lời thằng đó xằng bậy. Con có thể lo được cho em Xuân thoát tội, còn thằng kia, con không tự tay băm nhừ nó ra đã là phước đức.
Tên Kỷ cứ hễ nghe nhắc đến Lê Lai là y như rằng, một cục tức lại ứ nghẹn trong cổ họng hắn. Nâng chén nước vối uống ực một phát, bỗng nghe tiếng ngỗng kêu vang ngoài sân, kèm theo đó là mấy tiếng ỐI! ỐI! của hai tên thổ binh.
Tên Kỷ tức mình dằn mạnh chén nước xuống chõng, hùng hổ bước ra, thấy hai tên thổ binh đang bị vài con ngỗng vươn cổ đuổi quanh sân.
- Chúng mày làm cái trò gì vậy?
- Dạ! Ngỗng dữ quá, nó đuổi cắn em.
- Quất cho nó một chùy.
- Nó chạy nhanh quá, em đuổi không kịp.
Tên Kỷ bực mình, lia cặp mắt cú vọ nhìn khắp mảnh sân sình lầy, cám gạo vương vãi, ngỗng gà cạc kếu cục tác inh ỏi. Một cơn gió sông thổi qua, cuộn mùi bùn non trộn lẫn phân chuồng xông thẳng vào mũi tên Kỷ, làm hắn bất thần nhăn mặt, ọe khan một tiếng.
- Dọn lại cái quán đi cô ạ, hôi quá.
- Thông cảm cho cô, nhà nuôi gà ngỗng, bạ đâu ỵ đó vương vãi khắp sân, cô dọn không xuể.
Nhìn quanh quẩn một thoáng nữa, mấy ngày liền mưa dầm, nắng ráo chưa lâu làm mặt sân ven sông bùn sình nhão nhoét, trông đến phía chuồng ngỗng và chiếc thuyền cũ, lưới rách sọt nát, lá mục chất đống, mùi hôi cứ cuốn theo gió phảng phất trong không khí.
- Thôi, con có việc về huyện, ít hôm lại ghé thăm cô uống nước nhé.
- Con đi vội thế, trời đang trưa nắng, hay con nghỉ lại ăn cơm, chiều mát hãy đi, cô làm gà đãi con và mấy chú lính nhé.
- Thôi cô ạ, việc quan gấp gáp, con không tiện nghỉ lại. Cô giữ sức khỏe nhé.
Tạm biệt vài câu qua loa với cô Tám, tên Kỷ nhảy tót lên con ngựa thồ, khoát tay hiệu hai tên thổ binh cùng rời đi. Cưỡi ngựa đủng đỉnh tiến ra cổng đi một quãng, tên Kỷ còn nói với lại.
- Thằng cháu cô trông sáng dạ, nếu cô muốn, cứ gửi nó lên huyện theo học con.
- Không cần đâu con ạ, thằng này ngô nghê, cứ để nó ở nhà còn cày ruộng chăm lo cho cha mẹ nó nữa.
Hai cô cháu đứng ở cổng, trông mãi cho đến khi bóng dáng thằng Kỷ và hai tên lính khuất dạng trên con đường đất. Chắc chắn rằng bọn chúng không vòng trở lại, cô Tám mới thở phảo, bước vội vào trong sân gọi nhóm Lê Lai trở ra.
- Hai đứa mày nhảy ùm xuống sông tắm rửa đi, cái Xuân thì vào đây cô đun nước, nhanh cô lấy áo khác cho thay.
Cả bọn vâng lời cô Tám, tắm táp thoắt chốc cho bay hết mùi, sau đó lục tục thay đồ mới, rồi lại tụ tập ngồi trên chiếc chõng tre trong nhà cô.
- Áo này của… Bác Tám hở cô?
Khoác lên mình chiếc áo cũ đã sờn vai, Lê Thạch vô tình hỏi bâng quơ một câu.
- Ừ, cô vẫn giữ lại đồ đạc của bác.
Cô Tám đáp giọng đượm buồn khi nhắc về người chồng quá cố. Bọn Lê Lai lặng người, nhác thấy án thờ giản dị kê giữa nhà cô đã nguội lạnh, không ai bảo ai, cả bốn người đều lặng lẽ tiến đến, đốt cho bác Tám một nén nhang.
- Rồi… mấy đứa bây liệu tính gì chưa?
- Dạ… con và Xuân định sẽ về Lam Sơn, nương nhờ nhà chú cháu Lê Thạch bạn con đây.
- Lam Sơn… họ Lê… có phải nhà ông Lê hiền sĩ, hào trưởng vùng Lam Sơn?
- Cô Tám cũng biết Chú Ba con?
Lê Thạch ngạc nhiên hỏi.
- Cô nghe cánh lái buôn ghé đây chè nước chuyện gẫu với nhau thôi, nghe đâu ông ấy có nhiều ruộng nương, thường hay chiêu mộ gia khách về cày ruộng.
- Dạ! Vả lại… nơi ấy miền sơn cước, nếu có bất trắc, chúng con có thể lánh tạm vào núi một thời gian, rừng núi hiểm trở, giặc Ngô sẽ khó mà bắt được.
- Chúng mày tính vác rương sách… đi bộ về đó à?
- Dạ, vác rương cấm thư đi giữa thanh thiên bạch nhật thì lộ quá. Ban sáng chúng con ghé đây, trước là để thăm cô chào từ biệt, kế nữa chúng con muốn mượn cô cặp đòn gánh và mấy thứ đồ buôn bán lặt vặt. Con sẽ chia sách ra, chất lên gánh giả làm lái buôn, băng đường rừng mà đi, ngộ nhỡ có bị lính tuần kiểm hạch hỏi, chúng con sẽ liệu đường mà tính.
- Rồi khi lính tuần nó bắt được, chúng mày tính đào hố giữa rừng chôn sách à?
Cô Tám cười nhẹ, buông lời châm chọc.
- Cùng lắm thì con vặn cổ bọn nó thôi cô Tám, giữa rừng mà, ai hay cho được!
Thạch cười khà lên đáp lại.
- Mày nói hay quá nhỉ? Mà thôi, bắt cái Xuân cháu tao gánh sách cuốc bộ băng rừng với chúng mày thì tội quá, hay mấy đứa bây ra đằng bến nước, dọn dẹp lại chiếc thuyền buôn của cô, rồi dong buồm mà đi đường sông. Trong khum có một khoang mật, cứ chất sách vào đó rồi giả lái buôn xuôi dòng mà đi là xong cả, độ ba bốn ngày là cặp vào đất Lam Sơn.
- Cô… cô nói thật chứ… cô Tám?
Cả Lê Lai, Lê Thạch và Thụy Xuân đều tròn mắt ngỡ ngàng nhìn cô Tám.
- Từ khi bác nhà mất, cô cũng không còn đi buôn nữa. Căn nhà này chính do cụ đồ Quyết vời mấy cậu học trò và trai làng ra phụ cô dựng nên, nay cái Xuân và mấy đứa bây có việc cần kíp, cô tiếc gì chiếc thuyền cũ mà không giúp được tụi bây?
Bọn Lê Lai, Lê Thạch, Thụy Xuân, Văn Xảo mừng rỡ, rối rít cảm ơn cô Tám. Cô vỗ vai từng người, rồi giục màu chóng ra dọn dẹp chiếc thuyền cũ.
- Văn Xảo, con ra đứng trông cho các anh đi con, phòng bọn thằng Kỷ đột nhiên quay lại. À! Cái Xuân… đến đây cô bảo này.
Văn Xảo dạ ran rồi phóng vút ra, Xuân cũng định chạy theo hai anh, nghe cô Tám gọi mới quay lại, ngồi lên chõng tre.
- Cô cũng ngoài bốn mươi rồi, không con cái gì, nay… nếu con không chê, cô nhận con làm con gái nuôi, nhé. Sau này khi đã qua buổn loạn ly, con có muốn tìm một mái nhà bình yên, sống vui hưởng ngày tháng, thì dắt díu chồng con về đây, hủ hỉ với cô cho vui tuổi xế chiều, nhé con.
Cô Tám ôm vai Thụy Xuân cười hiền, cất một giọng trầm ấm, làm cho Thụy Xuân không thể kiềm lòng được, nước mắt lại lăn dài trên đôi má đào ửng hồng.
- Dạ… Mẹ! Con cũng không còn bà con họ hàng gì, sau này… khi đất nước không còn binh đao… nhất định… con sẽ dắt anh Lai về đây sum vầy với mẹ.
Cô Tám ôm Thụy Xuân vào lòng, hôn lên mái tóc phảng phất hương bồ kết, nước mắt ấm nóng đã lăn dài từng giọt nhỏ xuống trán cô bé.
- Con gái ta, người ta ưng cái bụng chưa mà đòi dắt về! Có thằng Lai làm rể, còn có con gái cưng ở cùng, mẹ còn mong gì hơn được nữa.
Nước mắt ấy… khác xa những giọt nước mắt chua xót giữa đêm rừng hôm trước. Ôm nhau thủ thỉ một lúc, cô Tám đưa tay chậm nhẹ hai mắt Thụy Xuân, giục cô bé ra bến nước trông chừng cho cả bọn.
Văn Xảo đứng trước cổng, tay ôm một con gà vuốt ve trông quanh, thấy Thụy Xuân ra thì hí hửng, có người buôn chuyện cho đỡ buồn ngủ. Hai thanh niên đằng bến nước, hì hục kỳ cọ một lúc, quệt mồ hôi đứng thẳng dậy vươn mình, vỗ vai nhau rồi chạy ra cổng gọi hai chị em vào cùng ngắm nhìn thành quả.
Chiếc thuyền buôn cũ kỹ, được cọ rửa sạch sẽ, dần lấy lại hình hài tinh tươm của chuỗi ngày còn cưỡi sóng băng sông. Đó là một chiếc thuyền mành hai cột buồm loại nhỏ, dài hơn ba mươi thước, có hai mái chèo, căng lên chiếc buồm vải ố màu hình cánh dơi vừa được giặt sạch. Khum thuyền rộng, có cửa sổ đón gió, chăng màn và lợp mái che trông thích lắm, có thể nằm đủ cả một gia đình nhỏ.
Nhóm người thích thú cười tít mắt, chợt nghe giọng cô Tám từ nhà sau bước ra, trên tay khệ nệ bưng theo một nồi cơm lớn bốc khói, hông phải dắt một dây cá khô, bên còn lại đeo lủng lẳng một túi gạo.
- Bấy nhiêu đây đủ cho mấy đứa bây ăn mấy ngày đường, chuyện của bây gấp rút quá tao không có kịp làm gà đãi tiệc chia tay, ăn đỡ cơm trắng với khô nhen mấy đứa.
Cả đám dạ ran, mấy cô cháu ngồi quây quần lại với nhau cùng ăn cơm với cá khô ngay trên chiếc thuyền mới dọn. Và được vài đũa cơm, bỗng cô Tám như sực nhớ ra điều gì, liền quay qua Văn Xảo hỏi.
- Thế cu Xảo cũng theo các anh về Lam Sơn phỏng?
- Dạ… Không! Con định về Nghệ An với cha mẹ.
- Trời đất! Từ đây về đó phải hơn chục ngày đường, sao mà mày đi nổi, rồi giấy thông lộ đâu mà đi?
Cô Tám ngạc nhiên tròn xoe mắt.
- Dạ! Con sẽ lên một thuyền buôn nào đó xin chân phụ việc, ngày trước… con từ quê lên đây, cũng đi như thế.
- Giặc dã giờ loạn lạc lắm con ạ, mày cứ ở đây một hai hôm, cô có người quen, xin giấy thông lộ cho mà đi. Ấy chết! Còn chúng mày nữa, rồi giấy thông lộ đâu mà đi hở các con? Giặc Ngô nó lập trạm tuần ti dọc các nhánh sông lớn, không khéo là chết đấy.
Nhắc tới giấy thông lộ, cô Tám mới nhớ ra một việc tối quan trọng. Cả bọn cũng sững mất vài nhịp.
- Hay chúng mày cũng ở lại đây, mai cô tìm cách lấy giấy thông lộ cho đi.
- Dạ thôi cô ạ, con cảm ơn cô đã có lòng, nhưng ban nãy giặc vào nhà cô lùng sụng kinh quá, con sợ…
- Chứ để tụi bây đi, tao sợ cả lũ lại bị gô cổ về nha môn.
Cô Tám đặt chén cơm xuống, thở dài thườn thượt.
- Không sao đâu mẹ, trước là có chỗ giấu được rương sách trong khoang mật. Cùng lắm cứ để bọn giặc lên lục soát, chắc gì đã tìm ra. Vả lại, hai anh bôn ba giang hồ cũng đã quen, chúng con sẽ liệu được cách mồm mép cho qua chuyện thôi mà, mẹ đừng lo quá.
Hai gã thanh niên và cậu học trò Văn Xảo nghe Thụy Xuân gọi cô Tám là mẹ, liền há hốc mồm ngạc nhiên. Lúc này cô bé mới toét miệng cười, kể lại sự việc đã nhận cô Tám là mẹ nuôi. Cô Tám cũng gượng một nụ cười cho bọn trẻ yên lòng, nhưng chính cô lại không giấu được nỗi lo lắng qua nụ cười ấy, bất chợt, Lê Thạch đột nhiên lên tiếng.
- Cô Tám, cô giúp tụi con như vậy, ơn này con rất cảm kích. Con không có gì ngoài chút quà mọn, mong cô…
Chưa kịp dứt câu, cô Tám đã xen ngang.
- Thôi quà cáp gì bây ơi, là người Việt với nhau, vả lại cô cũng chịu ơn cụ đồ Quyết, nay con gái cô phải tai ương, cô xá gì chút của nải mà không giúp được tụi bây. Mà này, một tên công tử bỏ nhà đi lang bạt kỳ hồ như chú mày, có quà cáp gì mà định móc ra cho cô cơ chứ?
Nhác thấy Lê Thạch đút tay vào túi đeo hông, cô Tám mới thuận miệng trêu chọc. Thạch chỉ cười gượng gạo, tay móc trong túi ra ba nén vàng sáng choang đưa cho cô Tám.
- TRỜI!!
Cả bốn khuôn miệng đều đồng thanh thốt lên.
- Thôi thôi, chiếc thuyền nát này có gì mà phải vàng ròng dữ vậy, mày cất đấy đi, để dọc đường có chuyện mà còn đút lót giặc Ngô nữa.
- Con còn nhiều…
- Thôi thôi, cất vào, ở đây thì cô cần gì vàng bạc chứ, sân nhà có rau, mé sông có cá, tiền nước đổi gạo, vàng bạc làm gì cho trộm cắp dòm ngó hở con.
- Ấy! Vậy còn chiếc thuyền của cô, nhỡ giặc Ngô quay lại…
- Sao đâu, cô bảo chiều nay có lão ngư đắm thuyền dạt về đây, cô thương tình biếu quách cho ông ấy là xong, con thuyền cũ nát này ai mà để ý.
Vừa chuyện gẫu đôi câu, thỉnh thoảng lại trông về phía cổng. Đàn ngỗng nhà vẫn im ắng quanh sân, nằm vểnh đuôi thong thả phơi nắng chiều.
- Thôi! Gần giấc chạng vạng rồi đấy, chúng mày dong thuyền đưa con gái cô đi đi, chọn một nhánh sông vắng mà thả neo, ngộ nhỡ sớm mai giặc Ngô nó lại mò đến đây thì dở.
Mặt trời xế chiều hắt những tia nắng vàng nhẹ phủ lên mặt sông vắng lấp lánh theo từng nhịp sóng.
- Còn cu Xảo thì cứ ở đây, chuyện của con không gấp gáp gì, khi nào con muốn đi thì cô chuẩn bị đồ đạc cho con lên đường về quê.
Cô Tám xoa đầu Văn Xảo. Lúc này, Lê Lai mới bịn rịn tiến đến ngồi cạnh, nói những lời từ biệt cuối cùng với cậu học trò Văn Xảo. Anh ta vỗ vỗ lên vai cậu học trò, mắt đã có vẻ ướt ướt:
- Hẹn gặp lại, chú em của anh, sau này đất nước yên ổn, anh sẽ tìm gặp lại chú em để còn nghe mày để hàn huyên về những chuyến đi.
Văn Xảo nắm chặt tay ông anh trong giang hồ, dù chả bà con ruột thịt gì, nhưng dưới những chiếc lều chõng bên nhà cụ đồ, họ coi nhau như ruột thịt, và đó như một gia đình nhỏ, sung túc mà bao con người thời đó hằng mơ ước vậy.
- Em dù có đi đâu cũng là người Nam thôi anh ạ, cha mẹ em muốn xuôi về nam thì em theo, nhưng lo cho ông bà yên ổn an cư, lúc đó… em sẽ quay lại tìm gặp các anh, rồi cũng phải tới lúc, người Việt mình đứng dậy, đánh đuổi giặc Ngô, kế thừa hào khí Sát Thát của Trần Triều xưa chứ.
Lê Lai phì cười vỗ vai cậu trẻ. Lê Thạch đang ngồi buông thõng chân xuống mạn thuyền, mắt nhìn bâng quơ ra sông, miệng thì nhai nhai nghịch nghịch một que cây nhỏ. Hóng tới đoạn Văn Xảo khảng khái, chợt chậc lưỡi nhếch miệng ra điều khen cái khí khái đó cũng ra dáng bậc hào kiệt thiên hạ phết đấy. Ấy thế mà cả bọn đâu có ngờ được, cậu bé Phạm Văn Xảo sau này, cũng là một nhân vật kiệt hiệt chẳng kém gì hai ông anh đây vậy.
- Cô Tám, chú con có nhiều người thủ túc, đi buôn dọc các nhánh sông, khi nào cập bến Lam Sơn, con sẽ nhờ người ghé lại đây báo tin cho cô hay.
Thạch ngoái đầu nói với cô Tám, cô gật đầu cười hiền, ra hiệu cho Văn Xảo cùng cả bọn vần những thứ hàng hóa mà cô đã chuẩn bị chất vào khoang, trông không khác gì một nhóm lái buôn sống trên sông nước cả.
Khói lam chiều hắt nhẹ lên màu vàng của nắng, xuyên qua những tán cây trơ cành tạo thành những hình thù kỳ ảo trong không gian. Đoạn tiễn biệt đã xong, cả bọn Lê Lai lục tục thu xếp lên đường tiếp tục cuộc hành trình. Chống sào đẩy chiếc thuyền ra xa, vẫy tay chào nhau những lời chào cuối cùng. Hai cô cháu đứng lại nơi bến nước, nhìn chiếc thuyền dong buồm khuất dần trong ánh tà dương. Bầu không khí ẩm đặc và mờ sương của vùng cao đất Bắc, giữa tiết trời thu đầu tháng tám dần nuốt chửng lấy bến nước nơi họ vừa rời đi, lạnh lùng như cách thời gian cứ nhẹ nhàng trôi tới dù biết tương lai vô định có lẽ sẽ không đáp lại những lời hẹn ước ấy.