Chương 2 Tìm lại lối đi giữa cù lao
“Mày nghĩ tụi mình tìm được việc làm ở đây không Trà Giang?” Bảo Hân vừa hỏi vừa bốc nắm cốm gạo bỏ vào miệng, kéo Trà Giang ra khỏi những suy nghĩ mông lung.
“Tao hy vọng vậy.” Trà Giang trả lời qua tiếng rè rè của radio. Mối quan tâm hàng đầu của cô là thoát khỏi lão quản lý kiêm chủ nhà hàng hách dịch đó, gột rửa đầu óc để tính toán xem những ngày sắp tới nên làm gì.
Ngược lại, Bảo Hân coi đây là cơ hội cho kỳ nghỉ hè ba tháng miễn phí. Dù thế nào, Trà Giang cũng mong có một khởi đầu mới tại vùng đất Chợ Lách này.
Khi xe vào đến địa phận thị trấn, Bảo Hân tắt đài, nhìn chăm chú ra cửa sổ. Hai bên đường, dừa mọc san sát, tàu lá đan xen nhau tạo thành mái vòm che bóng mát rượi. Ánh nắng chiếu xuyên qua kẽ lá, rơi xuống mặt đường thành những đốm sáng nhảy nhót.
“Bao lâu rồi mày mới quay lại đây?”
Trà Giang nuốt nước miếng, gạt đi hình ảnh căn nhà cũ của ông ngoại ra khỏi đầu. Chút nữa thôi là phải đối mặt rồi.
“Mười năm.” Cô đáp.
“Lâu dữ vậy trời.” Làm bạn với Trà Giang nhiều năm, nghe cô bạn thường xuyên kể về gia đình, Bảo Hân hiểu rõ tình cảm thiêng liêng quý giá của bạn mình dành cho ông ngoại nên giọng cô lộ rõ vẻ cảm thông.
“Ừm.” Trà Giang ngắn gọn, lòng đầy ưu tư. Cô không tìm được lời nào nhẹ nhõm hơn để tiếp chuyện, nỗi đau phải đối mặt với nơi mà không có ông ngoại hay ngồi uống trà trước hiên cứ đè nặng lên tim cô như tảng đá.
“Sao mày lại chọn về đây trong khi mày có thể đi đến bất cứ nơi nào khác để lập nghiệp?”
Trà Giang quay qua nhìn ánh mắt thấu hiểu của Bảo Hân rồi lại tập trung vào khung cảnh ngoài cửa sổ, cố tìm một lời giải thích khi chính cô cũng thấy mơ hồ. “Tao muốn tìm lại cảm giác bình yên.”
“À, vậy thì đúng chỗ rồi đó.” Bảo Hân huơ tay ra ngoài cửa sổ, mặt nước xanh biếc của dòng Hàm Luông như nằm trong tầm với, một chiếc tàu du lịch lớn đang từ từ cập bến vào mạn sông.
Tới nơi, hai cô gái bước xuống, đi bộ men theo những cung đường nhỏ, xuyên qua dòng người đông đúc len lỏi giữa vườn cây ăn trái trĩu quả rồi đi qua những khu chợ ven sông sầm uất, hàng quán xen lẫn những dải đất ngập mặn bao la và bầu trời xanh ngắt. Nước sông đỏ nặng phù sa, lững lờ cuốn trôi những cụm lục bình trổ hoa tím ngắt. Họ băng qua cây cầu nhỏ uốn lượn để sang bên kia sông, rẽ vào con đường mòn quanh co dẫn tới ngôi nhà gỗ nhỏ của ông Khoa.
Men theo vùng đất bãi bồi, từ xa Trà Giang đã thấp thoáng thấy căn nhà lợp mái lá đơn sơ nằm ngay bên bờ sông. Đằng sau, phía trước cô chẳng có gì ngoài đường chân trời thẳng tắp. Chả Giò hình như cảm nhận được gió chiều mát mẻ nên thò đầu ra ngoài, ngắm nhìn hàng dừa nước đung đưa, đôi tai của nó bay phấp phới trong gió.
Đến nơi, cô dừng bước, nhìn mãi về phía căn nhà đong đầy hồi ức. Cổng rào phủ kín dây leo, màu rêu xanh thẫm. Cánh cổng gỗ cũ kỹ ngày nào giờ đã xập xệ như một người già đang cố bám trụ lấy ký ức.
“Tao vào nhà một mình trước, mày đợi ngoài này nha." Trà Giang quay sang nói với Bảo Hân. Chả Giò thì tung tăng chạy qua những bụi cỏ cao, sướng rơn vì cuối cùng cũng được ra khỏi cái ba lô chật ních mà còn nóng bức.
"Ừm. Để tao dẫn Chả Giò đi dạo loanh quanh chơi.”
Trà Giang ôm siết cô bạn thân một cái. “Cảm ơn mày.”
Đoạn, tay cầm phong bì, cô đẩy cổng rào. Vừa chạm vào then cài rỉ sét, những thước phim nhòe mờ về những ngày hè chạy chân trần trên sân đất hiện ra sống động như mới hôm qua.
Cô chậm rãi bước lên từng bậc tam cấp cho đến khi đứng ở hàng hiên nhìn ra mặt nước trong vắt. Hai chiếc ghế bành cũ kỹ mà cô và ông Khoa thường ngồi trong những ngày khó khăn nhất sau khi ba mẹ mất vẫn còn đó, một cái bị ném sang bên, còn một cái thì lật ngửa.
Trà Giang không hiểu nổi làm sao hai chiếc ghế này lại trụ vững qua bao mùa mưa bão suốt ngần ấy năm. Cô mở phong bì, tay lướt qua mấy món đồ bên trong rồi lấy ra chiếc chìa khóa đồng quen thuộc, tra vào ổ. Cô vặn nắm cửa, đẩy vào. Mạng nhện phủ xuống, bụi bay tứ tung. Đây là căn nhà mà ông Khoa đã để lại cho cô trong di chúc - tài sản duy nhất mà ông có, ngoài chiếc ghe chài ông đã bán lại cho người hàng xóm trước khi mất.
Vừa nhìn thấy không gian bên trong, một làn sóng cảm xúc chợt ùa về. Mọi thứ trong nhà vẫn nằm đúng vị trí của nó, như thể thời gian đã bị đóng băng vào cái ngày cô rời đi. Trà Giang vuốt tay lên chiếc trường kỷ bằng da bạc màu, để lại những dấu vân tay trên lớp bụi mờ. Những tia nắng xuyên qua khe cửa gỗ, rọi thẳng vào bàn thờ, làm rực lên những hạt bụi li ti đang nhảy múa trong không trung, thứ ánh sáng duy nhất le lói trong căn nhà vắng bóng người.
Con xin lỗi vì bây giờ mới quay về. Trà Giang thầm thì, giọng nghẹn ngào.
Mấy miếng gỗ dưới sàn nhà kêu cót két. Trà Giang tựa người vào bàn ăn, đặt phong bì xuống, vẫn chưa đủ can đảm để xem hết những thứ còn lại ở bên trong. Cô đã giữ chiếc phong bì này kể từ ngày đám tang ba mẹ nhưng chưa bao giờ thấy lòng mình yên ổn để mở ra. Cổ họng đắng nghét, cô khép mi lại, để cho tiếng cười đùa và tiếng chén đũa lanh canh lấp đầy lỗ tai.
“Ba đã dạy con Giang làm mấy món này đấy.” Cô như nghe thấy tiếng ông Khoa nói với mẹ mình bằng giọng miền Tây thủ thỉ. Khi ấy, cô lên mười. Ông chống khuỷu tay lên bàn đầy ắp đồ ăn thơm phức. "Con bé thông minh, học nhanh lắm. Không chừng sau này sẽ trở thành đầu bếp cũng nên."
“Ngon thật đó." Mẹ cô gắp miếng cá chiên, tấm tắc khen. Trong ký ức của Trà Giang, mẹ cô luôn là người phụ nữ trẻ trung, xinh đẹp như ngày nào. "Món này là món gì đây con gái?"
“Cá rô chiên giòn đó mẹ. Ăn với nước mắm tỏi ớt là hết sẩy.” Trà Giang lúc nhỏ vênh mặt trả lời, tự hào lắm lắm. "Mẹ thấy con có giỏi không?"
“Giỏi nhưng mà nếu không có ông ngoại truyền hết bí kíp thì con… chưa được giỏi lắm." Mẹ cô vừa cười vừa trêu làm cô xụ mặt xuống.
Ông Khoa cười sảng khoái, nhìn âu yếm đứa cháu nội có thiên phú nấu ăn. Ông và Trà Giang có một sợi dây gắn kết đặc biệt, khác hẳn với những thành viên khác trong nhà. “Con bé Giang sau này chắc không cần chồng đâu vì từ nhỏ nó đã tự lập rồi nhưng nếu nó muốn lấy chồng, ba hy vọng nó sẽ tìm được một chàng trai chân thành."
Giọt lệ rơi ra từ khóe mi, Trà Giang khịt mũi, trở về thực tại. Khi ba mẹ qua đời, cảnh sát đến gõ cửa, cô nhớ mình đã cuộn tròn như quả bóng trên ghế sofa trong khi hai vị cảnh sát kia bàn bạc xem nên gọi cho ai vì nhà cô không còn ai nữa.
Lúc đó cô đã gào lên “Gọi cho ông ngoại con đi.”, nước mắt chảy ròng ròng trên má. Ông Khoa có mặt, ông từ Chợ Lách lên thành phố ngay trong đêm đó, đón cô về vùng đất này. Để xoa dịu vết thương trong tâm hồn cô gái nhỏ, ông ngoại dạy cô nấu ăn. Đó là nguồn cơn của biết bao kỷ niệm tuyệt vời trước khi ba mẹ mất, đến nỗi việc nấu ăn đã dìu dắt cô vượt qua nỗi đau. Trà Giang nhìn quanh căn nhà trống trải rồi nhìn chiếc ghế vải ông ngoại thường ngồi xem tivi mỗi tối, nỗi cô đơn dịu dàng mà tàn nhẫn bủa vây lấy cô.
Dù mười năm qua, cô đã cố gắng khoác lên mình vẻ ngoài cứng cỏi của người thành thị nhưng khi đứng ở nơi này, cô vẫn mãi là đứa cháu nhỏ lạc lõng, khao khát tiếng gọi thân thương từ gian bếp phía sau. Nước mắt không báo trước cứ thế thi nhau trào ra, nóng hổi, rơi xuống nền gạch lạnh lẽo, đánh dấu ngày trở về của kẻ đi lạc sau một thập kỷ xa quê.
Ông Khoa đã dạy cô đủ thứ trong những năm tháng thiếu niên. Từ việc móc mồi sống vào lưỡi câu cho tới việc canh chừng lửa củi sao cho thật đượm rồi gia giảm từng muỗng muối, thìa đường để nồi cá kho tộ đậm đà đúng chuẩn miền Tây theo bí quyết riêng của ông.
Và ông còn dạy cô cách nhìn người. “Đừng tìm một người để chăm sóc cho con mà hãy tìm một người thấy được giá trị của con, một người biết rõ con sẽ thực hiện được ước mơ trước khi con tự mình nhận ra điều đó.” Ngặt nỗi, chỉ có ông Khoa là người duy nhất thấy được điều đó ở cô, chẳng ai có thể so sánh được với tiêu chuẩn quá cao mà ông đã đặt ra.
Trong phút chốc, Trà Giang tự hỏi mình quay lại đây để làm gì. Cô vẫn chưa sẵn sàng, thậm chí là sau mười năm. Có ích gì khi tự giày vò mình trong những ký ức đau buồn này? ông ngoại đã mất rồi.
Sâu thẳm bên trong, cô biết lý do thực sự mình quay về là vì, khi không còn ba mẹ, cô cần ông ngoại ngay lúc này. Suốt bao năm qua, Trà Giang chưa bao giờ tìm thấy lối đi cho mình. Cô yêu nghệ thuật, vẽ vời, nấu nướng, ca hát nhưng không có cái nào trong số đó cô biết cách dùng để kiếm sống cả.
Khi lão chủ nhà hàng hắc ám mắng nhiếc cô thậm tệ, tối về cô đã nức nở trên giường, cầu nguyện ông ngoại có thể nghe thấy. Ông luôn làm cô cảm thấy mình đặc biệt, dù cho cả thế giới nói điều ngược lại. Cô hy vọng được ở gần ông, để ông dẫn dắt, chỉ cho cô biết mình nên làm gì, vì từ lúc nào cô đã mất phương hướng rồi.
Bước tới bồn rửa chén, cô vặn vòi nước, rửa tay, cười nhạo bản thân. “Làm sao mà mình trở thành đầu bếp ở nơi chốn hẻo lánh này được chứ?”
Nếu thành thật với bản thân, cô biết ở Sài Gòn có nhiều cơ hội hơn nhiều. Nơi đó có hàng tá trường ẩm thực, cô sẽ tìm hiểu về các khoản trợ cấp hay săn học bổng nhưng cô lại chọn về thị trấn Chợ Lách. Cô nghĩ gì khi có ý định xây dựng cuộc sống mới tại đây? Chính bản thân cô còn không biết.
Trà Giang đi qua phòng khách, nhìn vùng đất hoang sơ bát ngát trước mặt qua ô cửa sổ, thấy Chả Giò đang chạy nhảy trên bờ sông. Bảo Hân thì cầm giày trên tay, đôi chân trần ngâm dưới nước.
Dòng sông Hàm Luông xưa kia từng gắn liền với ký ức hồn nhiên của những năm mùa hè về thăm nội. Nhưng thời gian đã khoác lên dòng sông một vẻ thâm trầm khác biệt, trở thành điểm tựa an yên, bao dung đón lấy những tâm sự không lời và vỗ về cô bằng thứ ngôn ngữ của sóng nước mênh mang.
Trà Giang bước ra ngoài sân, lập tức cảm nhận được cái nắng gắt gao đang đổ lửa xuống vai khiến mồ hôi lấm tấm trên làn da. Rồi từ phía sông, cơn gió nồng nàn vị phù sa thổi tới, mơn man và mát rượi. Gió tràn qua rặng dừa, mang theo hơi nước mát lành lướt nhẹ trên gò má, xua tan oi nồng.
Trà Giang dựng chiếc ghế bành bị lật ngửa dậy, đặt nó ở giữa sân rồi ngồi xuống, tựa lưng ra sau, nhắm mắt lại để khỏi phải nghĩ đến việc dọn dẹp nhà cửa. Cô hít hà mùi hương đặc trưng hòa quyện giữa vị mặn của nước sông và mùi gỗ trầm hương cũ kỹ của ngôi nhà cổ. Thứ hương vị thời gian ấy vừa chạm đến khứu giác đã trở thành liều thuốc nhiệm màu, nhẹ nhàng vỗ về tâm trí rối bời, mệt nhoài của cô sau những năm tháng tha phương. Hai tay cô nắm chặt lấy thành ghế như thể điều đó sẽ cứu cô khỏi việc chết đuối trong những lựa chọn của cuộc đời, cô đẩy nhẹ chân, để nhịp đưa của chiếc ghế ru lòng mình lại.
Tiếng sủa của Chả Giò cắt ngang khoảnh khắc chiêm nghiệm khiến cô mở mắt. Bộ lông của nó ướt sũng, chạy thục mạng từ phía bến sông lên nhà, Bảo Hân chạy theo phía sau.
“Mày sao rồi?” Cô hỏi khi đến chỗ Trà Giang.
Chả Giò phóng thẳng lên bậc tam cấp, rũ lông làm nước bắn tung tóe lên sàn gỗ cũ kỹ của hàng hiên.
“Tao ổn.” Trà Giang trả lời, không muốn làm bạn mình mất vui vì những rắc rối của riêng cô. Sau đó cả hai mang hành lý vẫn còn để ngoài sân vào nhà, đặt lên tấm thảm ở phòng khách. Cửa sổ mở toang, quạt bật lên mà ngôi nhà vẫn còn nóng hầm hập.
“Mày có thấy như chúng ta đang quay ngược thời gian không?” Trà Giang hỏi Bảo Hân, đúng lúc Chả Giò nhảy phóc lên trường kỷ, làm bụi bay mù mịt khiến cả hai phải ho sặc sụa. Chú chó nhảy xuống, hắt xì liên tục.
Bảo Hân đi quanh nhà, lật lật một trong những tờ tạp chí ố vàng rồi đặt lại chỗ cũ, săm soi cái hũ thủy tinh đựng đầy lưỡi câu đặt trên bàn trà. “Ở đây cứ như những năm 1975 vậy.”
Cô cầm miếng lót ly bằng kim loại mà ông Khoa luôn dùng để đặt đồ uống lên, lật qua lật lại trong tay, làm bụi rơi vương vãi trên mặt bàn.