Chương Hai Mươi Mốt
hăm chín tết, năm Ất Tỵ
Gia Hinh chưa bao giờ cảm thấy thế giới yên tĩnh đến mức này. Cứ như gài kín bông gòn vào cả hai tai ấy.
Cơn đau ở tai phải gọi nó thức dậy. Sau khi mở được hai con mắt nhắm tịt, thằng bé thấy Diễm Dương ngồi dựa vào đầu giường, đôi tay chị nắm chặt bàn tay ướt mồ hôi của nó đặt trong lòng mình. Hình như chị đang ngủ.
Sao chị lại ngủ ở đây? Cơn đau này từ đâu mà tới?
Gia Hinh không thể tự trả lời những câu hỏi đó, bèn khều nhẹ vào lòng bàn tay Diễm Dương. Chị gục đầu sang một bên, nhíu mày, rồi mới mở mắt.
Sự vui mừng vỡ òa trên gương mặt chị khi thấy thằng bé đã tỉnh. Đôi mắt sưng đỏ của chị tuôn lệ, nhưng môi chị cười tươi. Chị ôm lấy đứa em, cười nói gì đó, còn chạy ra ngoài gọi các anh khác vào. Họ ùa sang phòng Gia Hinh ngay lập tức dù còn chưa mặc y phục được chỉnh tề – anh Vũ Ninh trọng lễ nghĩa kia mặc nguyên áo ngủ sang thăm nó, mếu máo như cũng khóc được vài chập rồi. Thảm nhất là anh Chân Định, bám rít lấy thằng bé mà bù lu bù loa. Cả bảy anh chị của nó tề tựu trước giường bệnh, ai cũng xúc động.
Suốt thời gian đó, Gia Hinh chẳng thể nghe được một chút động tĩnh nào.
Diễm Dương xoa đầu nó, bắt đầu lo lắng trước vẻ ngơ ngác của thằng bé. Nó thấy chị quay sang nói gì đó với Nhật Nam. Tỏa Phong là người tiến đến trước, anh búng tay bên hai tai của thằng bé. Chỉ khi anh búng tay bên chỗ tai trái, Gia Hinh mới phản ứng một chút, lại không rõ là vì cảm nhận được gió thổi vào hay thật sự nghe được.
Ngồi ghé lên giường, Chu Diên chậm rãi viết chữ lên lòng bàn tay nó, hỏi có phải là nó không nghe thấy không.
Thằng bé gật đầu.
Sự yên tĩnh bắt đầu làm nó sợ. Vẻ mặt kinh hãi của các anh chị còn làm nó thấy tệ hơn. Gia Hinh lên tiếng:
“Em… bị điếc hẳn rồi ạ?”
May mắn là không. Tình trạng điếc đặc của nó chỉ kéo dài tầm một canh giờ. Sau đó tai trái của nó đã dần lấy lại được thính giác. Các anh chị khi đó mới thở phào. Một ông ngự y lớn tuổi nó quen mặt – nó thường xuyên đổ bệnh hơn hẳn các anh chị mà – đến tái khám cho nó. Ông cho nó uống thuốc rồi bảo nó tĩnh dưỡng. Tới trưa, tai trái của Gia Hinh đã hồi phục hoàn toàn, nhưng tai phải thì còn ù ù.
“Ơn trời, em không sao là tốt rồi.” Hoài Hoan chùi nước mắt, “Khổ thân… tết nhất rồi còn…”
“Hinh, sao em lại đi xuống chỗ bến cảng đấy làm gì?” Tỏa Phong hỏi, “Anh tưởng em đi sang bến cảng phía nam?”
“Em không nhớ.” Thằng bé lắc đầu, “Em chẳng biết tại sao mình lại ở đó nữa.”
Vũ Ninh nhắc nó:
“Em có hẹn với cô thợ thủ công.”
Thế mà nó nghệt mặt ra – cô thợ nào?
Căn phòng thoáng chốc chìm trong im lặng chết chóc, làm Gia Hinh tưởng mình bị điếc trở lại. Thằng bé bèn lấy ngón trỏ chọc cái mõm cứng của con két đậu trên vai Chân Định, làm nó vẫy cánh kêu oai oái, lúc đó nó mới yên tâm.
“Sao thế ạ?”
Diễm Dương mỉm cười:
“Không có gì. Em nghỉ đi, nhé, ngủ cho lại sức rồi tối nay chúng ta cùng canh nồi bánh chưng đón giao thừa.”
“...Vâng ạ.” Gia Hinh rụt rè gật đầu, “Em… em xin lỗi. Em lại làm phiền các anh chị rồi. Chắc mọi người lo lắng lắm.”
“Lo lắng cho mày…” Nhật Nam búng lên trán thằng bé, “Là công việc toàn thời gian của các anh chị mà. Nhưng nếu mày bắt tụi tao tăng ca nhiều quá thì liệu hồn đấy.”
Ngoài miệng thì nói cho Gia Hinh nghỉ ngơi vậy thôi, chứ chẳng đứa nào muốn rời khỏi phòng, để thằng bé một mình cả. Chính nó cũng ám ảnh từ cơn điếc tạm thời hồi sáng nên không chịu được sự yên lặng. Mắt mở không lên rồi mà nó vẫn đòi Chân Định ngồi lại – các anh chị khác người thì bận công vụ, người thì phải chuẩn bị cho tiệc cúng giao thừa. Anh Phong trở lại bến cảng để giám sát công trình, anh Diên phải lo phần lễ nhạc, Hoài Hoan kéo Nhật Nam theo tới chỗ tập dợt buổi duyệt binh đón năm mới, Vũ Ninh phụ việc sắp xếp bố trí đàn tế trời. Diễm Dương, tuy chưa chính thức làm lễ sách phong, sẽ chủ trì các nghi thức tối nay.
Chân Định gợi lại chuyện cô thợ thủ công kia mấy lần, đinh ninh rằng cô ta đã cố ý hãm hại thằng bé. Gia Hinh nhớ mang máng rằng trong các thợ thủ công thường đến Quốc Tử Giám có một cô bé trạc tuổi nó, nhưng nó cũng chỉ mới nói chuyện với cô ta có một lần duy nhất vào ngày đầu tiên trở lại hoàng cung, sau đó cô nhờ người chuyển lời đã làm xong chiếc lọng bướm mà thằng bé thích nên nó mới đi tìm cô.
“Cơ mà…”
“Hửm? Em nhớ lại được gì rồi?”
“Em không tìm ra cô ấy.” Thằng bé nhún vai, “Em đến cảng nam trước, không tìm được nên sang thử cảng đông, cũng không thấy ai bày hàng ở đó cả.”
“Vậy tại sao em lại ở dưới chỗ bãi cát?”
“Em ở trên bờ, đứng gần quá nên mới ngã xuống.”
Vẻ mặt Chân Định vẫn bán tín bán nghi. Đồng thời, cậu không có thói quen nghi ngờ Gia Hinh. Trong mắt cậu, đứa em này tài giỏi hơn cậu, học môn gì cũng xuất sắc, lại luôn được các anh chị yêu mến, chẳng khác nào một viên ngọc quý làm người ta muốn nâng niu cả. Cậu gần như phát điên khi nghĩ có kẻ xấu dám làm hại thằng bé, nhưng đó chỉ là phỏng đoán thôi; lúc đó cậu chắc chắn bao nhiêu thì giờ đây nghe Gia Hinh tự mình kể lại những gì đã xảy ra, mối nghi ngờ đó cũng phải lung lay.
Suy cho cùng, tai nạn bất ngờ vẫn tốt hơn là bị ác ý nhắm đến chứ.
Gia Hinh nhìn hàng chân mày nhíu lại của cậu từ từ giãn ra, rồi sự căng thẳng bị đập tan bởi một nụ cười vô tư, thì tảng đá trong lòng cũng bớt nặng nề đi. Thằng bé hùa theo người anh áp út nói chuyện phiếm cho đến khi không gượng nổi nữa mà phải chìm vào giấc ngủ. Trước khi mất hẳn ý thức, nó cảm giác được cậu dém chăn lại cho mình.
Trong mơ, một cánh bướm xanh chập chờn trước mắt Gia Hinh. Đó là cánh bướm đẹp nhất nó từng thấy. Nhưng dù thằng bé có cố gắng đến đâu thì cũng không thể níu kéo nổi – sinh vật ấy luôn tìm được cách vuột khỏi kẽ tay của nó. Mà ngay cả khi nó chỉ đứng im để chiêm ngưỡng từ xa, cánh bướm vẫn bay đi ngày một xa.
Lúc được đánh thức, thằng bé đã khóc ướt cả gối.
Người gọi nó là Chu Diên. Mái tóc dài còn ẩm của y, chắc là mới gội đầu xong, cọ qua mặt Gia Hinh lúc y lau nước mắt cho nó. Tay y có vết chai do lâu năm chơi đàn làm thằng bé thấy nhột. Y lo lắng hỏi có phải tai đau nên khóc không, nó cũng nhận bừa, chứ không biết làm sao giải thích được giấc mộng khi nãy.
“Mấy giờ rồi ạ?”
“Gần giờ cơm. Mọi người đang tắm rửa, đợi các hạ sang ăn tiệc tất niên. Em có muốn tham gia không?”
“Có ạ.” Nó than thở, “Nằm nữa chắc em người em mốc luôn quá.”
Người anh thứ giúp nó thay bộ y phục dính mồ hôi ra rồi mặc áo mới cho nó. Tay chân Gia Hinh còn mỏi nhừ vì lâu ngày chưa vận động, ngồi thừ ra để y chăm sóc như chăm em bé. Mãi đến khi uống hết chén thuốc vừa sắc xong của ông ngự y nó mới đỡ hơn được chút. Chu Diên cam đoan nó ăn xong bữa tối là sẽ khỏe hẳn.
Phò mã thấy trong người không khỏe từ trưa nên mọi chuyện cúng tế đều do Diễm Dương lo liệu. Xuống nhà, thấy chị nằm co lại trong góc phản, Gia Hinh biết chị đã mệt lắm rồi. Các anh em khác cũng thấp giọng trò chuyện sợ làm phiền chị. Gia Hinh dừng lại trên ánh mắt Nhật Nam lén nhìn Diễm Dương – hơi lưu luyến, có phần xót xa – một lúc trước khi nó hỏi cả phòng chừng nào mới có cơm ăn.
Vũ Ninh ngồi xa cái phản nhất, không buồn ngước lên khỏi ván cờ đang chơi dở với Tỏa Phong, nói:
“Các hạ chưa đến mà ăn cái gì?”
“Có khi nào các hạ mệt quá nên đi nằm rồi không?” Hoài Hoan đặt giả thuyết – anh với Chân Định đã bắt đầu tấn công đống đồ ăn vặt trên bàn rồi.
Diễm Dương lên tiếng, hóa ra chị chưa ngủ:
“Lúc nãy các hạ còn đang bận sắp xếp cho thương nhân Túc Mộc về quê, chắc chưa xong ngay được đâu.”
“Thế mình cứ ăn trước vậy.” Tỏa Phong hờ hững nói, “Đứa nào đại diện đi sang báo một tiếng là được rồi.”
“Cái anh này!” Vũ Ninh phản đối ngay lập tức, “Sao làm vậy được!”
Anh cả cong môi:
“Đang trên đà thua chú mày nên anh muốn rút lui ấy mà. Nể mặt nhau tí đi.”
Gia Hinh giơ tay:
“Để em đi cho!”
“Nói thật đấy à?” Nhật Nam tròn mắt, “Bình thường thấy các hạ là câm như hến cơ mà.”
Chân Định nói:
“Hay để anh đi cho. Em mới ốm dậy thôi mà.”
“Em đâu thể sợ các hạ suốt đời được.” Thằng út lấy giọng vui tươi, “Với cả nằm bẹp dí mấy ngày trời, em cũng chịu hết nổi rồi.”
Gượng ngồi dậy, Diễm Dương nhéo má thằng bé. Chị dặn nó nhớ mặc áo choàng, đêm rồi, sương rơi lạnh, để bị cảm nữa thì khổ thân.
Nghe nói phò mã còn ở thư phòng, Gia Hinh bèn nhắm hướng đó mà đi. Khắp các hành lang được treo đèn lồng mừng năm mới nên sáng rực như ban ngày. Màu sắc sặc sỡ hắt lên gương mặt tái nhợt của thằng bé. Càng tới gần thư phòng, người càng thưa thớt, lên đến trước thư phòng thì chẳng có lấy một người gác cổng hay cung nhân nào đứng hầu. Trong phòng tối om, chỉ có lão thái giám đang dọn dẹp giấy mực trên bàn.
Bốn mắt giao nhau, Gia Hinh hồn nhiên hỏi:
“Các hạ về nghỉ rồi đã ạ?”
Phát âm lẫn ngữ pháp của nó còn bập bẹ, chỉ đủ xài – nó giống Tỏa Phong, giỏi nghe hiểu hơn là giao tiếp – nhưng đối với người mà tiếng Túc Mộc là ngôn ngữ mẹ đẻ thì có lẽ nghe hơi gượng gạo. Lão thái giám thở dài với ý phê bình, miễn cưỡng gật đầu.
Gia Hinh không “đày đọa” lão bằng khả năng ngoại ngữ tệ hại của mình nữa, cúi đầu chào rồi rời đi.
Đáng lẽ thằng bé cứ về lại thôi, nhưng nó đi sang tẩm điện, nghĩ bụng nếu phò mã còn chưa ngủ thì hỏi thăm một tiếng, cũng coi như trọn đạo làm con.
Trước khi gặp vụ tai nạn ở bến cảng, thằng bé vẫn nghĩ kiếp sống này là vô tận. Nó đã luôn được nghe các anh chị nói rằng nó còn nhỏ thế nào, rằng “khi lớn em sẽ hiểu” – nó vĩnh viễn là một đứa trẻ trong mắt họ. Những muộn phiền của cuộc sống, tương lai phía trước… chưa từng là điều thằng bé cần bận tâm. Thế rồi Tử Thần đến ngay trước ngõ và khiến nó phải tự nghĩ lại về cái gọi là sự tồn tại của mình: nó ở đây để làm gì? nó có sứ mệnh gì? có phải là cái “vận mệnh huy hoàng” mà phò mã nói từ lúc các Quốc Tử còn bé rồi Diễm Dương tin răm rắp đấy không? hay là ông Tạo ban cho nó sự sống với một mục đích gì khác?
Mối băn khoăn bị phóng đại, những thứ nó coi là hiển nhiên bỗng trở nên vô cùng quý giá. Có lẽ người ta biết trân trọng sinh mạng hơn khi bắt đầu nhận thức được sự mong manh của nó. Gia Hinh chưa bao giờ thấy yêu mến các anh chị đến vậy, và nó nghĩ, những gì mình có được bây giờ đều là do phò mã ban cho. Đúng thật nó là máu mủ của vợ chồng Trí Dũng tướng quân, và nhờ có lòng thương của hoàng hậu mới được đưa vào hoàng cung nuôi dưỡng, nhưng sau đó, phò mã đã chọn nó – dù là vì bất cứ lý do chính trị gì đó đi chăng nữa, nó vẫn nợ người tất cả những thứ tốt đẹp mà nó đang có.
Mấy năm qua thằng bé sợ hãi phò mã như một kiểu… bản năng rất ngớ ngẩn. Nhưng giờ nó đã lý trí hơn rồi. Nó tin mình có thể khắc phục phản xạ của cơ thể để thật sự quý mến người.
Nghĩ ngợi lung tung một hồi, nó đã tới được trước tẩm điện của phò mã. Nơi đây cũng không có kẻ hầu hay thị vệ. Cất bước rón rén vì không muốn vô tình đánh thức người, nếu người đã ngủ, Gia Hinh nghĩ người cố tình giữ tẩm điện vắng vẻ. Diễm Dương nói lão thái giám có lần tâm sự với chị là giấc ngủ của người khá nông, dễ bị căng thẳng, thậm chí nếu bị đánh thức bất ngờ thì sẽ còn gắt gỏng.
Vậy nên lúc thằng bé đến trước cửa tẩm thất, phượng sàng cách rèm vài bước chân, nghe thấy tiếng lẩm bẩm, nó cũng chỉ nghĩ là người nói mớ. Thế là không được đón tất niên cùng người rồi. Nghĩ mà tiếc hùi hụi, Gia Hinh toan quay đầu trở ra, thì bỗng dưng một lời nói nghiến vào tai nó.
“...xin bệ hạ cứ yên nghỉ nơi chín suối, thần sẽ đảm bảo giang sơn này vẫn là giang sơn của hậu duệ Hỏa Thần.” Liền theo đó là một tiếng cười nhẹ trào phúng, “Dù điều này có nghe nực cười đến mấy.”
Bước chân của nó đông cứng. Trước khi Gia Hinh kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra – phò mã đang nói chuyện với ai? – người đã tiếp tục nói. Tấm rèm sa mỏng khẽ hắt bóng người đang cúi đầu, một cuộn tranh trải ra đặt trên đùi, dường như người đang vuốt ve bức họa ấy.
“Năm đó tuyết lạnh chốn biên thùy, ngài ban cho thần một hơi ấm, nói chúng ta đồng bệnh tương liên, muốn kết mối giao hảo tri âm. Thần khi đó ngây thơ, thế mà cho là thật. Nhưng tiếng lòng của bệ hạ tựa lửa cháy âm ỉ dưới đống tro tàn, đến người bên gối còn không nghe thấy nổi, thần có tài đức gì mà được sẻ chia?” Phò mã cảm thán, khẽ mỉm cười vu vơ, “Về điểm này, con trai Khai Quốc Công rất giống ngài đấy. Đôi lúc thần nhìn nó cứ như được thấy cố nhân, xúc động không kìm nổi nước mắt. Thần còn hồ đồ nghĩ, nếu thằng bé thật sự là giọt máu của ngài, có phải… thần đã không cần mưu tính nhiều thế này?”
Mưu tính? Phò mã đang nói về chuyện tranh giành ngôi vị trữ quân dạo này sao?
Gia Hinh tuy là đứa nhỏ nhất, cũng chưa từng được tiếp xúc chuyện triều chính ở ngoài sách vở, nhưng bản tính nhạy cảm đã cho nó biết giữa Tỏa Phong và Diễm Dương đang tồn tại một bức tường thành. Trưởng tử không được kế vị, lại để người con gái duy nhất lên thay, nghe có vẻ cũng hợp tình hợp lý – luật pháp Tân Lang ưu tiên con gái thừa kế hơn, chỉ các gia đình có tước vị thì lúc tập tước mới mặc định giao cho con đầu lòng – thực chất lại phạm vào điều cấm kỵ “phế trưởng lập ấu”, là gốc rễ của biết bao họa vong quốc.
Nhưng suy cho cùng, luật con đầu lòng tập tước cũng xuất phát từ việc hoàng thất nhiều đời không sinh được con gái mà chỉ có con trai. Nếu cung đình có bóng quần thoa thì chưa chắc gì nam nhi đã được quyền lợi như bây giờ. Sự thật mất lòng thôi.
“Sao bệ hạ lại nhìn thần như vậy?” Giọng phò mã rầu rĩ, “Thần có lỗi với bệ hạ, chẳng lẽ bệ hạ thì không có lỗi với thần sao? Đừng nói là ngài bị ép buộc bởi thế lực tâm linh gì đó. Ngay từ đầu ngài tiếp cận thần, ngài đã tính toán tất cả rồi. Ngỏ ý kết bạn với thần, để thần không còn cảnh giác với ngài nữa, rồi dụ dỗ ép buộc thần – một hoàng tử, còn là trưởng tử – sang ở rể cho nước khác! Ngài nói ngài muốn tốt cho thần, nhưng có thật vậy không? Hay bệ hạ chỉ đang lừa mình dối người để che đậy cho trái tim độc địa của ngài!”
Những lời cuối, phò mã mất kiểm soát mà quát lớn. Gia Hinh hoảng sợ vội chạy đi núp ra sau cột nhà. Phò mã hất tung tấm rèm, bước đến trước chậu than, giơ cuộn tranh kia ra. Mép giấy lụa bắt lửa. Tựa như cảnh tượng con tằm gặm lá dâu, ngọn lửa bào mòn dần bức chân dung một thanh niên tuấn tú với đôi mắt sáng ngời và khóe môi cong nhẹ. Tóc y dài, buộc nửa phần trên với sợi dây cột màu đỏ. Y vận một bộ áo đỏ rực mà Gia Hinh chỉ được thấy vào những buổi tế trời. Người này chính là đức vua của Tân Lang.
Phong cách của bức họa này lại hơi khác so với những chân dung hoàng gia bình thường, mà giống nét vẽ của anh Tỏa Phong hơn. Gia Hinh nhớ lúc còn bé, các anh chị em còn ở gần bên phò mã, người đã đích thân dạy anh vẽ.
Khung cảnh ấy in sâu trong trí óc thằng bé. Bốn chữ “phụ từ tử hiếu” chắc cũng chỉ đến vậy mà thôi.
Tại sao phò mã lại tức giận đến mức phải đốt đi bức chân dung này?
Phò mã lạnh lùng nhìn gương mặt đức vua bị lửa đỏ hủy hoại. Người buông tay, cả bức tranh rơi xuống chậu than, bùng lửa lên kêu lách tách.
“Sinh ra từ lửa, lại bị chính lửa tiêu diệt. Bệ hạ có thấy nực cười không?” Phò mã thì thầm như thể bức tranh ấy sẽ nghe được mình, “Thần ra nông nỗi này là vì bản chất thần hèn hạ độc ác, nhưng bệ hạ cũng không rũ bỏ được hết trách nhiệm đâu.
“Bao năm qua thần nuôi nấng yêu thương Diễm Dương, cô bé là con của thần, chứ không dính dáng gì đến ngài cả. Ngoài miệng cứ ra rả câu ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng, chứ nếu ngài nhìn cô bé lớn thêm vài tuổi, cũng bắt đầu bị giằng xé giữa huyết mạch á thần và thiên tính ma thuật của phụ nữ, ngài sẽ đối xử với cô bé y hệt như ngài đã làm với công chúa em ngài mà thôi – dè chừng, nghi kỵ, hắt hủi. Dòng dõi Hỏa Thần các người làm thần thấy kinh tởm.
“Bệ hạ à bệ hạ.” Người nấc lên, “Buông tha cho thần đi. Siêu thoát, đầu thai, làm thần tiên gì đó đi…
“Xin ngài… đừng giày vò thần nữa…”
⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆
Lần đầu tiên trong đời Gia Hinh nghĩ mình bị ngu.
Không, thật đấy. Nó chẳng hiểu nổi nửa chữ mà phò mã lẩm bẩm với bản thân nãy giờ. Thằng bé nghĩ mình nghe lầm rồi. Cớ gì mà phò mã phải buông lời độc địa đến vậy với đức vua cơ chứ? Lúc nào người cũng bảo bệ hạ là ân nhân của mình mà!
Phò mã thất thần một lúc mới lững thững trở về phượng sàng. Tấm rèm buông sau lưng người, nến bị thổi tắt, bóng lưng người cũng chìm vào đêm đen. Gia Hinh co cứng sau cột nhà không dám động đậy. Những gì thằng bé vừa nghe được… thật kinh khủng, nhưng một phần nhỏ trong nó thấy tội nghiệp phò mã. Nó biết người vẫn chưa thể ngủ ngay được. Rón rén như một tên trộm, nó bò ra khỏi tẩm thất, chỉnh lại y phục cho ngay ngắn, quan trọng nhất là lau hết mồ hôi đi, rồi nó giả vờ gõ cửa. Thằng bé hạ thấp giọng, vừa đủ lớn để nghe nếu phò mã trong phòng còn thức và đủ nhỏ để không đánh thức người, nếu người đã ngủ:
“Các hạ nghỉ ngơi chưa ạ?”
Lời hồi đáp đến khá nhanh, ngữ điệu của phò mã hơi bất ngờ:
“Hinh đấy hả con? Vào đây.”
Khi thằng bé tiến vào, phò mã đi ra thắp nến lên. Gia Hinh chưa bao giờ tự mình chủ động tìm người thế này cả. Lúc nào gặp, nó cũng cúi đầu, trốn chui trốn nhủi sau lưng các anh chị khác, thậm chí còn không dám nói chuyện với phò mã. Người bối rối với thái độ của thằng bé đến nỗi mấy lần hỏi thăm các Quốc Tử rằng có phải mình đã làm gì sai, dọa Gia Hinh sợ không, mà sao nó lại như thế.
Thấy nó đến, người vừa ngạc nhiên vừa vui mừng.
“Con còn mệt không?” Phò mã quan tâm hỏi han, “Ta nghe nói con bị giảm thính lực, có đau lắm không con?”
“Con đỡ nhiều rồi ạ, xin các hạ đừng lo.” Gia Hinh nói, “Con mời các hạ sang ăn cơm tất niên cùng tụi con ạ.”
“Ôi, ta mệt quá nên quên mất… Mấy giờ rồi?”
“Giữa giờ Tuất ạ.” Thằng bé đáp.
“Muộn thế cơ à?” Người thở dài, thất vọng về bản thân, “Ta thay áo rồi sang ngay. Con về trước bảo mọi người cứ ăn trước đi – nhất là cái Dương đấy, vất vả cả ngày rồi, đừng để đói lả ra rồi lại đau dạ dày.”
“Các anh chị dọn cơm rồi ạ. Con muốn đi cùng các hạ về cung.”
Phò mã cài nút áo viên lĩnh, nhìn thằng bé mà cười:
“Ốm dậy là thành người khác thế này! Nào, ta với con đi thôi.”
Gia Hinh cũng cười. Trái tim nó đập khẽ, nếu không phải vì trời đã tối và đèn lồng trên hành lang rất chói, nó nghĩ các hạ đã nhận ra gương mặt tái mét kỳ lạ của mình rồi. Thằng bé vẫn chưa tiêu hóa hết được những gì vừa xảy ra. Thái độ của phò mã đã khác hẳn. Cứ như cảnh tượng người phát điên nói nhảm lúc nãy chỉ là nó tự tưởng tượng ra vậy. Đi cạnh người, nó vẫn cảm thấy căng thẳng. Những cảm xúc như kính nể hay sợ hãi không thể dễ dàng thay đổi chỉ trong một khoảnh khắc.
Có lẽ phò mã biết nó đang căng thẳng. Người đưa tay xoa đầu đứa con trai đứng chưa đến vai mình, kéo nó lại gần. Cơ thể nó hơi cứng, hơi thở cũng run lên.
“Con sợ ta đến vậy à?”
“D…dạ? Không ạ!”
“Nhảy dựng lên rồi còn bảo không sợ…” Người bật cười, “Hinh, con có biết người Tân Lang không thường đặt tên cho con trai không? Tương tự, ở Túc Mộc, nữ nhi ít khi có tên đàng hoàng, mà chỉ xưng hô bằng họ và thứ tự lớn bé trong nhà. Các con thì khác, bệ hạ từng nói với ta, các con gọi nhau bằng tên mẹ mình. Con có nhớ tên của mẹ con không?”
“Mẹ con… Mẹ con tên là…” Gia Hinh chật vật mãi cũng không nhớ lại được – bình thường nó ít khi nghĩ tới mẹ; dù cũng thật khó để tưởng tượng ra một đấng sinh thành chưa từng hiện diện trong cuộc đời mình, nó vẫn thấy xấu hổ về bản thân, “Con không biết ạ. Không… không có ai nói cho con.”
Từ nhỏ nó đã cảm giác đó không phải là một điều nên hỏi.
“Điều đó không quan trọng. Con có tên của riêng con rồi.” Phò mã nói, “Gia Hinh, một chữ có nghĩa là ‘tốt đẹp’, một chữ có nghĩa là ‘hương thơm’. Ta mong con có thể trở thành người lương thiện, tốt bụng, làm được vài chuyện có ích cho đời, để hậu thế nhớ đến.”
Thằng bé gượng cười:
“Con cảm ơn tấm lòng của các hạ.”
“Các anh chị của con đều rất xuất sắc.” Thần sắc người bỗng trở nên nghiêm túc, “Qua mùng ba tháng giêng, Diễm Dương không chỉ là một người chị của con nữa, mà sẽ trở thành chúa công của con, người chủ con phải dốc hết sức để phò tá. Đừng phụ lòng chị, cũng đừng phụ lòng ta.”
Gia Hinh vẫn chưa dám ngước lên nhìn mặt người, lặng lẽ gật đầu.