Chương Hai Mươi
Sau khi thảm án Kỷ Sửu xảy ra và phò mã lao vào cuộc Săn Phù Thủy để truy tìm ả Vấn Thánh Sư đã chạy trốn, lão thái giám với tư cách thân tín của người đã được mời sang Tân Lang để giúp đỡ; từ ấy, lão chưa từng trở về quê dù chỉ một lần. Tuy nhiên dù là trang phục, lễ nghi, tiếng nói hay sinh hoạt của lão đều giữ nguyên nền nếp của hoàng cung Túc Mộc. Giữa những tấm áo gấm đơn sắc nhã nhặn, chỉ riêng mình lão là mặc vải hoa sặc sỡ, trên người lão lúc nào cũng có mùi thơm nồng nặc từ đủ các loại hoa cỏ thảo dược. Đối lập một cách kệch cỡm với bộ y phục ấy là hàm râu bạc phơ dài chạm đất khiến lão có vẻ mặt của ông tiên trên trời. Lão già lắm rồi, Diễm Dương không biết rõ cụ thể lão bao nhiêu tuổi, chỉ nghe kể lão đã hầu hạ phò mã từ khi người vừa được sinh ra, và trước đó nữa cũng từng hầu hạ hoàng hậu quá cố, mẹ ruột của phò mã.
Với sự tín nhiệm gần như tuyệt đối của phò mã, lão thái giám rất có tiếng nói trong việc triều chính, đặc biệt là đối với đoàn lính áo gấm trắng từ cuộc Săn Phù Thủy. Mới dạo tết hạ nguyên vừa rồi, phò mã ốm nặng, lão hạ lệnh lục soát nhà và hành hình một phù thủy mà lão tin rằng đã yểm bùa trù ẻo người, cũng chính lão thay mặt phò mã xử lý công vụ, giữ chắc vị thế của người giữa lúc các thế lực khác lăm le trỗi dậy.
Lão đi vào thư phòng từ cửa sau. Diễm Dương nhận lấy khay trà từ tay lão, dâng cho phò mã. Người cười cảm ơn chị, rồi bảo lão thái giám kéo ghế cho chị ngồi. Lúc bấy giờ chị mới thả lỏng một chút dù trong lòng vẫn nặng nề. Lão thái giám đứng ngay cạnh chị, hai người cách phò mã một cái bàn, lão cất giọng ồm ồm của mình mà nói:
“Một chuyến hải trình phá vỡ lệ cũ suốt hai mươi năm trời, vừa có thể mua chuộc thương nhân và các quý tộc chống lưng cho họ, vừa lập uy cho con trai bà ta trong triều đình, vừa ép chúng ta buộc phải tiếp đón đoàn thuyền buôn này. Nếu không có vụ nổ làm lớn chuyện này lên, e rằng chúng ta chỉ có nước ngậm bồ hòn làm ngọt, mai sau phe cánh của bà ta hô mưa gọi gió thế nào, chúng ta cũng phải nghe theo.”
“Đúng vậy. Ta nhiếp chính đất nước này nhiều năm, nhằm vào Tân Lang cũng tức là đang cố tình làm khó ta.” Phò mã tự trào, “Bao lâu rồi… bà ta vẫn chưa muốn buông tha ta.”
“Các hạ…”
Diễm Dương dợm nói, nhưng lão thái giám lên tiếng:
“Cảnh tượng khi nãy có vẻ như là Quốc Tử Phong lấn át Giám Quốc Quân, thực chất lợi nhiều hơn hại.” Lão giải thích, “Đầu tiên, người Túc Mộc vốn đã trọng nam khinh nữ, lũ người kia còn chỉ là thương nhân lái buôn chứ không phải văn sĩ quý tộc biết lễ nghĩa, nếu ngài tự xưng là kế tự của phò mã và đưa kim bài ra thì cũng chưa chắc chúng đã chịu tôn trọng; Quốc Tử Phong ra uy với chúng là cách tốt nhất để trấn áp sự hỗn loạn ở đó. Thứ hai, Quốc Tử Phong ra mặt tranh cãi, ngài chỉ đóng vai trò phiên dịch, mai sau ai có ý kiến gì về cách giải quyết chuyện này thì cũng nhắm tới một mình ngài ấy mà thôi. Thứ ba, để cho Quốc Tử Phong và phe cánh của ngài ấy chiếm ưu thế lần này, họ sẽ mất cảnh giác với Giám Quốc Quân, tạm thời dù hai bên có tranh chấp quyền lực cũng không vội hành động.”
“Ta hiểu rồi.” Diễm Dương đáp, “Cảm ơn công công đã chỉ điểm.”
“Con đừng nên nghĩ xấu về Phong quá. Ta nghĩ nó thật lòng giúp đỡ con đấy – nếu nó rắp tâm hãm hại con, thì việc gì ách giữa đàng mang vào cổ, cứ để con tự sinh tự diệt, chết đứng ở đó chẳng phải hơn sao?”
Nghe phò mã nói, lão thái giám thở dài:
“Điện hạ cứ mềm lòng như vậy.”
Lão vẫn gọi phò mã là điện hạ như lúc người còn là hoàng tử ở quê nhà Túc Mộc. Bị lão chê trách, phò mã chỉ cười trừ, rồi cho Diễm Dương lui.
“Lần sau…” Chị hít sâu, nói, “Lần sau con sẽ không để người thất vọng nữa, thưa các hạ.”
“Ta tin con sẽ làm được.” Người gật đầu, “Nghỉ ngơi đi, con gái.”
⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆
Dù cho phò mã có tốn công an ủi đến mấy, tâm trạng Diễm Dương vẫn không tốt lên được chút nào. Vụ lùm xùm này ở bến cảng phía đông đến tai các viên quan trên triều, họ đều đồng loạt dâng tấu đề nghị dời lễ sách phong của Giám Quốc Quân lại một thời gian, lấy những cái cớ không thể từ chối được như trấn an lòng dân, tu sửa công trình bị phá hoại, và nhất là tìm ra hung thủ đã sắp đặt vụ nổ này, cho các thương buôn người Túc Mộc một lời giải thích đàng hoàng.
Vì việc quy hoạch và xây dựng khu vực phía đông kinh thành mấy năm nay đã luôn thuộc quyền quản lý của Tỏa Phong, anh tiện tay nhận luôn các chức trách này. Diễm Dương cũng căn dặn người ở đó sắp xếp phòng ốc đàng hoàng cho vợ con của các thương nhân. Riêng chuyện hung thủ, Chân Định khăng khăng muốn cùng tham gia điều tra với anh.
Nghe cậu nói vậy, Diễm Dương không khỏi nghi ngờ liệu cậu sẽ làm được trò trống gì. Nhưng chị biết cậu là người lo lắng cho Gia Hinh nhất, cũng vô cùng tức giận khi đứa em thân thiết của mình bị kẻ xấu gài bẫy.
“Đâu thể tự dưng mà Gia Hinh lại đi xuống chỗ bãi cát đúng lúc thuyền Túc Mộc cập bến! Với cả, việc em ấy xuất hiện ở bến cảng phía đông cũng kỳ quái hết sức, đáng lẽ nó phải ở cảng nam mới đúng!”
Chân Định tin chắc rằng cô thợ thủ công hẹn thằng bé ra có vấn đề, xin trở lại bến cảng để tìm – nếu cả hai quả thực chỉ bị ngộ thương thì phải thấy xác cô ta ở đó, còn nếu không, cô ta là đối tượng tình nghi số một.
Diễm Dương nhìn ánh mắt tóe lửa của Chân Định, đành đồng ý cho cậu đi. Chị nhờ Hoài Hoan đồng hành với cậu. Hai người đó đi rồi, Tỏa Phong bận việc, Chu Diên với Vũ Ninh vẫn chưa trở về từ bộ Lễ, cung điện chỉ còn có Diễm Dương cùng Nhật Nam và các vị ngự y chữa trị cho Gia Hinh. Thằng bé đã được cấp cứu kịp thời rồi đưa ngay về cung, nhưng đến giờ, hoàng hôn dần buông xuống, vẫn chưa thấy nó tỉnh lại. Sốt ruột, Nhật Nam chẳng thể ngồi yên, cứ đi tới đi lui, chậc lưỡi liên hồi. Gặp cung nữ hay bà vú nào chạy xuống nhà anh cũng kéo lại hỏi thăm. Câu trả lời của họ đều giống nhau – chưa có gì tiến triển cả, Quốc Tử Hinh còn đang hôn mê, hơi thở lẫn mạch đập đều rất yếu.
“Tụi con lên thăm em được không u?” Diễm Dương cũng đứng dậy, hỏi bà vú của Gia Hinh.
Bà thở dài:
“Lên làm gì cho vướng tay vướng chân các thầy?”
“Nhưng tụi con lo lắm.” Nhật Nam nói, “Cho tụi con nhìn một cái thôi, u ơi…”
Chưa kịp dứt câu, trên lầu đã vọng xuống một tiếng gào thảng thốt. Khó mà tưởng tượng được đó là âm thanh của con người, chứ đừng nói là được phát ra từ đứa em út luôn ăn nói nhỏ nhẹ mà họ quen biết nhiều năm nay. Cả người Diễm Dương run rẩy, rồi không phí thêm giây phút nào nữa, chị chạy thẳng lên cầu thang, với Nhật Nam ở ngay phía sau. Trên hành lang là tận ba nồi thuốc đang tỏa khói. Các bà vú và cung nữ đứng lẫn vào nhau, chị phải đẩy họ ra để lấy đường. Cửa phòng Gia Hinh mở toang. Tận ba, bốn vị ngự y quây quanh giường thằng bé. Khi Diễm Dương và Nhật Nam đến gần, nó đang giãy giụa, hai mắt trợn lên trắng dã, bọt trắng trào ngược dính trên mép. Miệng nó há to nhưng chẳng hít vào được chút không khí nào, mà chỉ bật ra những tiếng thét gào làm người khác lạnh sống lưng.
“Hinh!” Diễm Dương lao tới, ôm chặt lấy cơ thể gầy yếu của đứa em út vào lòng, “Hinh ơi, chị xin em…”
Không chịu nổi cảnh hai chị em nức nở, Nhật Nam quay sang các ông ngự y, sốt sắng hỏi:
“Sao lại ra nông nỗi này?”
“Thưa Quốc Tử… chúng thần không biết.” Một người hoang mang nói, “Quốc Tử Hinh đến quá gần vụ nổ nên phần tai bị tổn thương nặng, nhưng ngoài ra không có thương tích gì khác. Bỗng dưng… bỗng dưng ngài ấy động kinh thế này…”
“Các thầy đều là lang trung xuất sắc nhất cái đất Tân Lang này nên mới được chọn vào ngự y viện, vậy mà giờ các thầy nói bỗng dưng với ta à?” Nhật Nam nổi giận, cổ hằn vết gân.
“Thưa, không phải chúng thần không biết, mà… là không biết giải thích thế nào…”
“Nói.” Diễm Dương đanh giọng ra lệnh.
Vị ngự y lớn tuổi nhất đan tay đặt trước bụng, kính cẩn thưa:
“Bẩm Giám Quốc Quân, trước đây lão hủ từng gặp trường hợp giống Quốc Tử Hinh vậy: đột nhiên bất tỉnh, không ai chạm vào cũng giãy lên như cá mắc cạn, kêu gào mất kiểm soát, hoảng loạn cùng cực. Các thợ săn thường bị như vậy.”
“Vì sao?”
“Các thợ săn ấy không săn gà, khỉ, hươu nai, mà được thuê để đi săn hổ – loài hổ tinh ăn thịt người – bởi người nhà của nạn nhân xấu số, hoặc các trưởng lão trong những ngôi làng thường bị hổ tinh quấy phá. Người bị hổ ăn thịt không được siêu thoát, mà linh hồn kẹt lại chốn dương gian, trở thành ma trành, làm tay sai cho hổ tinh, dụ dỗ người sống vào miệng hổ. Giả sử chúa công của bầy ma trành này chết già hay bị ông hổ khác giết thì còn đỡ, chứ nếu hổ tinh chết dưới tay con người, thì chúng sẽ đợi lúc linh thức, hay còn gọi là Tam Hồn, của thợ săn suy yếu nhất để trả thù. Triệu chứng lúc bị ma nhập của họ giống hệt Quốc Tử Hinh lúc này.”
Diễm Dương vẫn ôm chặt Gia Hinh, mồ hôi và nước mắt của thằng bé thấm ướt vai áo, chị nói:
“Dạo trước ta có săn được một con hổ tinh, nhưng người kết liễu mạng sống của nó là Quốc Tử Nam, tại sao Quốc Tử Hinh lại là người bị ma trành nhắm đến?”
“Lão hủ xin hỏi, Quốc Tử Nam đã dùng vũ khí gì?”
Nhật Nam trả lời:
“Ta cho con súc sinh đấy một viên kẹo đồng.”
“Hóa ra là vậy.” Ông ngự y ấy nói, “Uy lực của đạn dược rất khủng khiếp. Đừng nói yêu ma quỷ quái, ngay cả á thần nếu trúng đạn e rằng cũng không qua khỏi. Bầy ma trành của con hổ tinh ấy không dám trả thù Quốc Tử Nam, nên đã đeo bám lấy người khác.”
Kiệt sức không còn giãy giụa nổi nữa, cơ thể Gia Hinh xụi lơ trong lòng Diễm Dương, lệ ứa ra trên khóe mắt, hừ hừ rên rỉ trong cổ họng. Chị đặt nó nằm xuống giường, dém chăn cho nó, chính mình cũng bật khóc từ khi nào không hay.
“Tại sao không phải là ta?” Diễm Dương lẩm bẩm, “Tội nghiệt ta gây ra, sao lại đổ lên em ta?”
“Dương…”
Trước mặt người ngoài, anh không thể nói hết câu. Tất nhiên chúng không dám đụng tới huyết thống của Hỏa Thần, cũng không có khả năng làm điều đó. Gia Hinh là lựa chọn duy nhất của chúng.
Nhưng từ đó đến nay đã hơn nửa tháng trôi qua rồi, sao giờ này ma trành mới trở lại trả thù?
“Ông nhắc tới Tam Hồn.” Nhật Nam nhìn thẳng vào mắt lão, “Tam Hồn là gì?”
“Thưa Quốc Tử, phò mã đã ban lệnh cấm nhắc tới những chuyện tâm linh này, lão hủ không thể tùy tiện giải thích cho ngài được. Nhưng có một điều lão hủ chắc chắn… đó là đã có sự nhúng tay của... phù thủy.”
Bàn tay của Gia Hinh, vẫn cuộn chặt từ lúc được mang về từ bến cảng đến giờ, vì mệt mỏi mà thả ra – giữa những ngón tay của nó là một chiếc khuyên tai đá mắt mèo.
⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆
Ngọn lửa đang thiêu đốt mười con thuyền buôn Túc Mộc thật kỳ lạ. Nó cháy rực rỡ ngay cả trên mặt biển, tạt bao nhiêu nước vào cũng không ăn nhằm gì, cắt đứt những tia hy vọng cuối cùng của các thương nhân là đợi lửa tắt sẽ lên tìm món gì còn nguyên vẹn. Họ chỉ có thể ngó trân trân cảnh tượng toàn bộ gia sản của mình bị lửa đỏ nuốt chửng.
Mãi đến giữa đêm lửa mới tắt. Tro bụi theo cơn sóng biển kéo đi, nằm lại dưới lòng đại dương. Đúng như dự đoán, các Quốc Tử không tìm thấy bất cứ dấu vết nào của cô thợ thủ công đã hẹn Gia Hinh đến đây. Chúng đã xới tung bãi cát này lên mà vẫn chẳng có lấy một dấu chân, sợi tóc, hay xác của cô ta. Hoài Hoan và Chân Định cam đoan vụ này chính là mưu ma chước quỷ mà cô ta đã bày ra – chính cô ta chứ không ai khác, vừa sắp xếp vụ nổ này, vừa hãm hại Gia Hinh.
Mà nhắm tới Gia Hinh cũng chính là đang nhắm tới các Quốc Tử, nói cách khác là nhắm vào phò mã.
Hai anh em kia vội vã trở về cung để báo tin lại cho Diễm Dương, còn Tỏa Phong vẫn phải ở lại giám sát công trình. Khi Chu Diên tới tìm anh, trời đã gần bình minh rồi. Đuốc vẫn thắp sáng rực cả bến cảng, tiếng các người thợ thi công ầm ĩ cả một góc kinh thành.
Thấy y đến thăm là đôi mắt mệt mỏi của anh sáng rỡ.
“Anh không biết lạnh là gì à?” Chu Diên cau mày, đắp cho anh tấm áo choàng lót lông gấu, “Phơi người ngay cửa biển, gió thổi rét thế này…”
Dẫn y sang chỗ đống lửa đứng cho ấm, Tỏa Phong nói:
“Thế này thấm vào đâu! Ở quê tớ, mùa đông lạnh gấp mấy lần, sương mù giăng kín thung lũng, chẳng muốn bước ra khỏi nhà, còn có tuyết nữa. Kinh thành mấy năm chưa có tuyết rồi nhỉ.”
“Kinh thành là đồng bằng mà.” Chu Diên xuôi theo anh, “Tôi ở đây từ lúc mới sinh ra mà số lần được thấy tuyết cũng đếm trên đầu ngón tay, dưới quê thì khỏi phải nói – quanh năm ấm áp, mỗi tội nắng mưa hơi thất thường.”
“Diên.” Anh nắm tay y, “Ở nhà sao rồi?”
Vị cầm sư thở dài:
“Cái Dương khóc sưng cả mắt, mấy đứa khác cũng chẳng khá hơn, tôi khuyên được tụi nó đi ngủ hết rồi mới có thời gian chạy ra đây với anh. Các ông ngự y bảo thằng Hinh đứng gần vụ nổ quá, may thì thính lực suy yếu, xui thì điếc hẳn. Đã vậy còn bị…” Y xích lại gần Tỏa Phong, nói nhỏ đến nỗi âm thanh như hòa vào tiếng sóng rì rào, “Bị ma trành quấy phá. ”
“Ma trành à?”
“Anh gốc là người vùng núi, chắc biết rõ mấy cái này hơn tôi. Tôi chỉ nghe thằng Nam bảo ông ngự y nói ma trành là thuộc hạ của hổ tinh, sẽ trả thù trở lại người đã giết ông chủ của chúng. Nhưng sao lại trút lên người thằng Hinh?”
“Thằng Nam dùng súng đạn để kết liễu con hổ, chắc là chúng sợ.”
“Còn cái Dương?” Chu Diên siết tay anh, “Chẳng lẽ em ấy đúng là…”
Tỏa Phong mím môi, gật đầu.
“Ngày xưa cha tớ đi săn hổ cùng đức vua, ngài tẩm dầu vào đầu mũi tên rồi đốt Lửa Thiêng của hoàng thất lên đó, không mang súng cũng không bị gì cả. Các linh hồn và thần linh kiêng dè á thần.”
“Ôi trời đất...” Đầu y choáng váng, “Vậy là các hạ đã che giấu chuyện này suốt từng đấy năm? Vì sao? Sợ tàn dư của phe cánh phù thủy trả thù?”
Nghe vậy, Tỏa Phong bỗng khựng lại.
“Diên này…”
“Ơi?”
Chu Diên đáp, nhưng mãi không thấy anh nói tiếp. Tỏa Phong thở ngày một nặng nề. Y chau mày, trái tim trong lồng ngực run lên. Vẫn giữ nguyên tư thế đứng sát bên nhau như vậy, Chu Diên đưa tay đỡ bên má anh, ngón cái của y chạm nhẹ lên vết bỏng tím bầm, đôi mắt y mở lớn hoang mang. Ngay sau đó, Tỏa Phong đẩy y ra, gập người nôn khan. Chu Diên gọi lớn tên Tỏa Phong, vội vàng vuốt lưng cho anh. Anh níu y khi y định chạy đi kêu người đến giúp. Họ ngã khụy xuống đất.
“Tôi van anh, anh đừng làm tôi sợ! Có chuyện gì vậy?”
Tỏa Phong gằn giọng:
“Làm sao đã giết người rồi mà còn không biết mình đã bỏ sót? Làm sao nhẫn nhịn được suốt mười năm trời không trả thù? Trừ phi cô ta chẳng hề giết người, cũng chẳng có thù hằn gì để trả!”
Chu Diên hiểu ý ngay lập tức, thều thào:
“Hoàng nữ sống sót không phải vì may mắn?”
“Tớ nghi ngờ bao lâu nay rồi… Quả nhiên hắn đã tính toán chuyện này, hắn dàn dựng tất cả!” Anh nghiến răng, mắt long lên, “Chính hắn là hung thủ đứng sau thảm án năm Kỷ Sửu rồi vu oan giá họa cho các phù thủy Chúc Thiên Các! Không chừng hắn cũng chính là người đẩy cha của chúng ta vào chỗ chết đề phòng hậu hoạn!”
“Anh nói nhỏ thôi!” Y xuýt xoa, “Vậy tại sao hắn phải giữ mạng cho hoàng nữ?”
“Lúc hắn triệu tập đoàn lính áo gấm trắng tiến hành cuộc Săn Phù Thủy, quan viên ở các địa phương hỗ trợ hắn hết mình, triều đình cũng nghe hắn răm rắp. Ngoại trừ khả năng hắn đã mua chuộc họ từ trước, lỡ như còn một lý do khác, đó là hắn đã tiết lộ cho họ việc hoàng nữ còn sống và cam kết sẽ bảo vệ huyết mạch Hỏa Thần? Cậu có nhớ hồi đó triều đình rất phản đối việc hắn thu nhận chúng ta rồi gọi là Quốc Tử không? Giờ tớ nghĩ, họ không chỉ e ngại việc hậu duệ Thất Đẩu Tướng được nuôi dạy bởi một người ngoại bang dị quốc lại còn là con rể của hoàng thất, họ còn sợ chúng ta sẽ trở thành mối nguy hại cho người thừa kế chân chính của ngai vàng này – hoàng nữ Diễm Dương.” Tỏa Phong cười khẩy, “Họ không hề lo xa. Mấy năm qua phò mã chẳng hề đào tạo cái Dương làm người trị quốc, rốt cuộc hắn vẫn không thoát ra nổi tư tưởng trọng nam của Túc Mộc, tớ lại được lợi.”
“Giờ đây hắn thấy anh tạo dựng được phe cánh của mình, lo sợ không kiểm soát được anh, nên mới chuyển sang nâng đỡ cái Dương?” Chu Diên lẩm bẩm, rồi y kéo anh đứng dậy, lại hỏi tiếp, “Cái Dương có biết chuyện này chưa?”
“Con hổ tinh kia chắc chắn là bị trọng thương bởi Lửa Thiêng trước khi thằng Nam nã đạn kết liễu nó. Cái Dương phải biết rồi – nhưng dù có biết, em ấy cũng chưa chắc đã vội vàng nói ra.”
“Dương cũng giống hắn, dè chừng thế lực của anh. Không chừng em ấy đã biết vụ mặt dây chuyền hổ phách kia là do anh cố tình gài bẫy rồi.” Y chậc lưỡi, “Tôi nói anh thế nào? Mấy trò mèo đấy sớm muộn gì cũng làm rạn nứt tình anh em!”
“Lỗi của tớ.”
“Giờ anh tính thế nào?”
Tỏa Phong trầm mặc nghĩ ngợi một lúc. Rồi anh đỡ tay sau lưng Chu Diên, cúi sát bên tai y, nói ra dự định của mình.