Chương Mười Chín
Diễm Dương gần như gào lên, nhưng cơ thể ấy không nhúc nhích. Khoảng cách từ bãi cát lên bến tàu tận mười sáu thước, chị chẳng buồn chớp mắt, đu người qua lan can nhảy xuống ngay. Chị chạy thẳng đến bên đứa em, ôm ngang thằng bé dậy. Vừa nhìn thấy gương mặt của nó là tay chị run lên không kiểm soát được. Làn da thằng bé vốn tái nhợt vì những cơn bệnh kéo dài nhiều năm, nay vàng vọt, môi xám xịt, mắt thì nhắm nghiền. Bàn tay phải của nó cuộn chặt. Máu trào từ lỗ tai nó dính bê bết lên tóc, chảy xuống thấm đỏ cả cổ áo trắng. Chị không cảm nhận được mạch đập của nó.
Chẳng phải sáng nay nó có hẹn với cô thợ thủ công nào đó sao? Đáng lẽ giờ nó đang phải ở bến cảng phía nam chứ? Thương tích trên người nó là do đứng quá gần vụ nổ hay còn nguyên nhân khác? Cô thợ thủ công kia có bị dính vào không? Cô ta đâu?
Đầu óc Diễm Dương choáng ngợp bởi những câu hỏi. Chị nghe tiếng Hoài Hoan gọi tên mình, và hàng chục đôi chân đang tiến bước về phía này, gõ rầm rầm trên nền đất. Diễm Dương bế ngang Gia Hinh lên, để đầu thằng bé dựa trên vai mình, rồi mang nó trở lên bến tàu.
“Gọi lang trung ngay!” Chị quát lớn khi đặt thằng bé xuống đất lần nữa, “Mau!”
“Nó ở đâu ra vậy!”
Hoài Hoan khụy xuống cạnh Gia Hinh, trên người còn nguyên bộ áo da chống lửa, đan tay lại chuẩn bị ép tim cho nó. Diễm Dương vội lùi ra chừa chỗ cho anh, vẫn chưa đủ yên tâm, chị xuýt xoa:
“Anh coi chừng làm gãy xương sườn thằng bé!”
“Tôi biết lượng sức mà, cô em yên tâm.” Hoài Hoan đáp ngay, rồi bàn tay đặt trên trái tim Gia Hinh bỗng khựng lại, anh liếm môi hỏi, “Tôi vẫn có thể gọi như vậy chứ?”
Không hề do dự, Diễm Dương gật đầu, cam đoan:
“Sẽ không có gì thay đổi giữa chúng ta cả.”
Nhưng khi đưa mắt sang đoàn người vừa đến: Nhật Nam, đội cứu hỏa – họ nhanh chóng vào vị trí để xử lý đám cháy – và Tỏa Phong, người chị cố tình muốn kéo tới đây, chị cảm giác mình vừa nói dối một cách trắng trợn.
Suốt những năm họ chung sống, Diễm Dương đã luôn tin tưởng Tỏa Phong như một người anh cả ruột thịt. Ở anh toát ra một phong thái làm người khác muốn tín nhiệm và giao phó mọi thứ. Đến vết phỏng trên mặt anh cũng không thể làm chị e ngại. Dường như anh không thể làm bất cứ thứ gì sai trái. Có lẽ đó là lý do Chu Diên ái mộ anh. Có lẽ đó là lý do khiến đầu chị ong ong khi nó bị buộc phải chấp nhận hiện thực, rằng anh và chị đang đứng ở hai bên chiến tuyến. Rằng giờ đây, mà cũng không chừng là đã được định sẵn từ rất lâu về trước rồi, họ phải đối đầu với nhau.
“Lang trung!” Chị tiến về phía họ, cố giữ giọng bình tĩnh, “Có ai đi gọi chưa?”
“Có một đội y tế ở đây.” Nhật Nam đáp ngay, “Ba người bị thương – phỏng ngoài da, ngạt hơi và bị cột thuyền gãy đập trúng.”
Liếc thoáng qua tấm kim bài đeo trước ngực chị, rồi làm như không có chuyện gì, Tỏa Phong cau mày hỏi:
“Sao vậy?”
“Gia Hinh.” Diễm Dương nói ngắn gọn, “Anh tự sang mà xem. Em đi trấn an người Túc Mộc.”
Chị là người duy nhất có thể nói ngoại ngữ thành thạo ở đây, nên anh không có ý kiến gì cả. Anh dẫn một vị ngự y sang phía Hoài Hoan và Gia Hinh. Nhật Nam ném cho họ một ánh mắt lo lắng rồi theo sát sau Diễm Dương khi chị đến gần các thương buôn người Túc Mộc. Các anh lính canh tuần đã di tản họ vào tá túc trong vọng lâu, tiếng xì xồ bất mãn ầm ĩ giữa bốn bức tường. Những người bị thương – đều là lính canh tuần của Tân Lang – được xếp nằm trong cái lán dựng lên vội vã ngay cạnh đó.
“Đừng sợ.” Diễm Dương cúi xuống, cố gắng cười với một cặp mẹ con người Túc Mộc ngồi nép ngay cạnh cửa ra vào – đứa bé chỉ mới có vài tuần tuổi, còn người mẹ dường như còn nhỏ hơn cả chị, “Mọi người đã an toàn rồi.”
“Có thật không?” Cô gái trẻ thì thầm, môi run lên vì sợ hãi, “Các ông ấy có vẻ rất tức giận. Chúng tôi sẽ không được cho ăn nếu họ tức giận. Ông chủ của tôi đã không vui từ khi tôi sinh đứa bé này ngay giữa biển khơi rồi – đáng lẽ sau khi cập bến tôi mới lâm bồn, nhưng năm nay khởi hành quá sớm... Ông nói tiếng khóc của nó làm phiền giấc ngủ của ông.”
Ngay trong lúc mẹ nó nói, đứa bé bắt đầu ê a khóc.
Hầu hết những người vợ mà các thương nhân Túc Mộc dẫn theo đều rất trẻ – Diễm Dương không chắc bao nhiêu là vợ, bao nhiêu là thiếp thất, còn bao nhiêu là nàng hầu. Chuyến hải trình từ Túc Mộc sang Tân Lang chẳng mất nhiều thời gian cho lắm, nhưng điều kiện sinh hoạt trên những chiếc thuyền buôn thì không thể gọi là lý tưởng. Phần lớn không gian phải được dành cho hàng hóa. Mỗi năm chỉ có một dịp đặc biệt này để giao thương với Tân Lang nên họ cố gắng chất hàng càng nhiều càng tốt. Chính các ông chủ cũng phải chịu đựng khoang tàu chật hẹp. Những cô gái mà họ dẫn theo dành cho quãng thời gian tầm ba, bốn tháng lưu trú lại đất khách quê người để làm ăn – nơi mà chắc chắn không có người đàn bà nào chịu bán cho họ dù chỉ một đêm xuân.
Diễm Dương hứa:
“Ta sẽ đảm bảo các chị được thoải mái nhất có thể.”
Đội trưởng hai đội lính tuần của bến cảng phía đông và nam đến nghênh đón Diễm Dương. Chị hỏi họ tình hình. Phía Túc Mộc không có ai gặp nguy hiểm, dân thường Tân Lang gần đó cũng được sơ tán kịp thời. Đội cứu hỏa đang tích cực dập lửa, có điều e rằng thiệt hại về hàng hóa là không thể tránh khỏi.
“Các anh vất vả rồi.” Chị gật đầu với họ, “Vụ nổ xảy ra thế nào?”
“Bẩm Giám Quốc Quân, hạ quan… cũng không rõ.” Đội trưởng cảng đông ấp úng, “Chắc phải đợi lửa tắt rồi đội cứu hỏa khám nghiệm hiện trường ạ.”
Nhật Nam tiếp lời:
“Đoàn thuyền buôn vừa cập bến là phát nổ ngay, chắc chắn là có người canh thời gian rồi gài bẫy. Nhưng tôi đoán chúng ta có cùng một câu hỏi lớn hơn, Giám Quốc Quân, tại sao thuyền buôn Túc Mộc lại đến đây lúc này?”
“Hỏi là biết thôi.” Diễm Dương nói, nhìn sang phía các thương buôn.
Đoàn thương buôn Túc Mộc, gồm mười người tất cả, đang đứng tụm lại ở một góc, vừa khua tay múa chân vừa thì thầm một cách nóng giận với nhau.
“Im lặng!” Nhật Nam gầm át cả giọng họ.
Chị tròn mắt nhìn anh. Chậc lưỡi, anh nói nhỏ:
“Em luôn lầm bầm câu này mỗi khi tụi tôi ồn ào mà, tôi đoán nó cũng có tác dụng.”
Quả thật, tiếng bàn tán bị dập tắt ngay. Các thương nhân quay lại ngó đám Diễm Dương, một người đàn ông béo mập có bộ ria mép cong vút đứng ra, có vẻ là đoàn trưởng. Ông ta chẳng thèm ngó tới Diễm Dương mà nhìn thẳng Nhật Nam, phẫn nộ quát:
“Người Tân Lang ám sát chúng tôi!”
Đồng hương của ông ta lập tức hùa theo. Diễm Dương dịch lại câu đó cho những gương mặt bối rối đứng cạnh mình, rồi chị lên tiếng:
“Không ai ám sát các ông cả. Hai mươi năm qua các ông đến buôn bán, Tân Lang luôn tiếp đón các ông với lễ nghĩa chỉn chu, chưa bao giờ có ý khinh suất. Sự việc hôm nay chỉ là chuyện không may. Mong các ông có thể thông cảm.”
“Thông cảm?” Ông ta tức giận nói, “Cô nói nghe nhẹ nhàng quá! Mười con thuyền! Đấy là cả gia sản của chúng tôi! Nhiều người phải bán nhà bán đất mới mua được một con thuyền, rồi còn hàng hóa nữa! Tân Lang phải đền bù cho tổn thất này!”
Diễm Dương cau mày, vừa toan phản bác thì đã nghe tiếng Tỏa Phong cười khẩy lúc anh tiến vào:
“Tôi có nghe nhầm không? Đền bù? Chúng tôi chưa bắt các ông bồi thường, các ông đã tự viết giấy nợ rồi đem tới bắt chúng tôi trả à?”
“Anh kia, anh nói gì đấy?” Gã thương nhân người Túc Mộc nhăn mặt, không hiểu tiếng nhưng ông ta biết giọng điệu của anh không hề thiện chí; nhìn thấy vết bỏng tím bầm trên mặt anh, ông ta tỏ ra hơi chần chừ.
“Dương, em giúp anh nhé?” Anh nắm nhẹ bắp tay chị, đứng chắn ở phía trước, “Tôi nói các ông ăn cắp còn la làng!”
Một nửa tâm trí của chị vẫn còn mắc kẹt ở những người phụ nữ trẻ với đôi mắt mở to kinh hãi. Chị dịch lại, và vọng lâu vỡ òa như thể họ vừa hạ chiến thư khiêu khích nước láng giềng.
Ngôn ngữ là một dạng kỹ năng kỳ lạ mà mỗi người lại vô tình tìm ra thế mạnh của mình ở những mảng khác nhau. Tỏa Phong không thể phát âm được tiếng Túc Mộc, nhưng trình độ nghe hiểu của anh lại xuất sắc. Anh không cần đợi Diễm Dương dịch lại – mà thật lòng chị cũng không muốn – những lời lẽ cộc cằn mà các thương nhân Túc Mộc nói để phản đối điều anh vừa thốt ra.
Anh lại nhìn sang Diễm Dương, đợi chị gật đầu rồi, anh nói tiếp:
“Đức vua của chúng tôi và đức vua của các ông đã thỏa thuận rằng mỗi năm, một lần duy nhất, thuyền buôn Túc Mộc có thể cập bến cảng tại phía đông kinh thành Tân Lang, sau tết thượng nguyên. Bây giờ còn chưa tới giao thừa! Không lẽ các ông vừa nghiên cứu đóng được một con tàu vượt đại dương thần tốc, đến nơi sớm hơn nửa tháng trời? Nếu vậy chúng tôi xin kính cẩn nghiêng mình học hỏi. Nhưng tôi biết đó không phải lý do chính đáng cho sự có mặt của các ông trên lãnh thổ nước tôi ngày hôm nay.”
Bộ râu của thương nhân Túc Mộc nọ run lên. Ông ta đốp chát ngay sau khi hiểu anh nói gì:
“Tôi không biết anh đang xàm ngôn gì ở đây! Sự thật rành rành là tàu của chúng tôi đã phát nổ ngay khi cập bến – rõ ràng, người Tân Lang đã mưu tính để hãm hại!”
“Hãm hại! Nghe ông nói kìa. Chúng tôi thậm chí còn không biết các ông sẽ đến vào hôm nay, làm sao mưu tính gì được? Sự thật rành rành ở đây là các ông đã làm trái thỏa thuận linh thiêng giữa hai nước!”
Diễm Dương thuật lại với anh rằng các thương buôn này được đảm bảo là người Tân Lang biết có sự thay đổi về thời gian thuyền cập bến. Anh bình thản nói:
“Nhớ kỹ lại xem những năm trước các ông đến, chúng tôi tiếp đãi các ông như thế nào? Có phải là cử sẵn thuyền nhỏ bơi ra nghênh đón, rồi mở cửa bến cảng, các thương buôn người Tân Lang đứng chờ sẵn, phía vọng lâu còn bắn pháo hoa chúc tụng không? Có phải là đích thân phò mã – hoàng tử của các ông – đến chào mừng không? Thậm chí hôm nay, dù hoàn toàn bị động và bất ngờ, Quốc Tử của chúng tôi vẫn kéo cờ lên để tỏ thiện ý. Tân Lang tuy vắng bóng thiên tử gần mười bảy năm nay nhưng lễ nghĩa vẫn luôn chu toàn, nếu thật sự được thông báo thì dù có gấp rút đến mấy cũng không thể sơ sài như vậy, chứ đừng nói là cài thuốc nổ đốt thuyền các ông.”
Diễm Dương phiên dịch xong thì nói thêm:
“Không biết là các ông được ai đảm bảo mà dám tự tin như vậy? Sao ta nghe nói là đức vua của quý quốc đang ốm nặng, không thể lên triều? Giờ đến việc thay đổi giờ giấc một sự kiện hệ trọng thế này cũng đến lượt nhị hoàng tử của các ông quyết định rồi à? Thánh chỉ đâu? Ấn vàng đâu?”
Không ai đưa ra được chiếu chỉ. Tất cả chỉ tin vào một lời nói miệng mà dong buồm bôn ba vượt biển đến đây.
“Quả nhiên thượng bất chính hạ tắc loạn.” Anh nhếch mép, “Chính mình làm sai còn đi nạt nộ người khác hòng cả vú lấp miệng em. Bảo các ông ăn cắp còn la làng chẳng sai chút nào, có khi còn hơi nhẹ.”
“Em không dịch câu đó đâu.” Chị nói, “Dễ mất hòa khí quá.”
Tỏa Phong nhún vai:
“Thế dịch câu này đi vậy – chúng ta sẽ cho họ hai lựa chọn: một, ở lại đây ăn tết nguyên đán, sáng mồng ba trở lại Túc Mộc, chúng ta cũng sẽ cho họ một lời giải thích đàng hoàng về sự cố cháy thuyền trưa nay; hai, nếu họ làm lớn chuyện này lên, tiếp tục cáo buộc người Tân Lang cố tình dàn xếp vụ nổ để hãm hại thương nhân Túc Mộc làm mất hòa khí hai nước, thì chúng ta xử họ tội xâm phạm hải giới.”
Chị truyền đạt lời anh cho các thương buôn. Vốn đã bị Tỏa Phong và Diễm Dương vạch trần, họ lấm lét ngó nhau trong sự thấp thỏm, á khẩu chưa biết nói sao. Hóa ra trong số này có người biết thừa không có thánh chỉ, có người chẳng hay biết gì mà nghe người khác dụ dỗ đi theo, giờ sự thật bị phơi bày, tất cả đều lúng túng.
Một gã cao kều tiến lên trước:
“Giải thích? Chỉ giải thích không thôi à? Các người phải bồi thường cho chúng tôi toàn bộ hàng hóa trên thuyền! Đó là sinh kế của chúng tôi trong cả năm đấy!”
“Đúng vậy! Đúng vậy!”
“Phải đền!”
Diễm Dương nghe mà bật cười:
“Sinh kế? Cả năm? Làm ơn, các ông nào phải hạng lái thương dồn hết gia tài vào chuyến tàu này! Các ông đều có quan hệ thân thiết với quý tộc, nói không chừng còn là họ hàng với hoàng hậu Túc Mộc, mới giành được một vị trí trong đoàn thuyền sang giao thương với Tân Lang chúng tôi.”
“Đã biết quý nhân của chúng tôi rồi mà còn…”
“Chưa nói liệu thế lực chống lưng cho các ông có biết đến việc này hay không, chỉ riêng tội xâm phạm hải giới cũng đủ biến các ông từ hoàng thân quốc thích thành hải tặc rồi! Hành hình hải tặc thì không cần thưa gửi ai hết, treo cổ là xong chuyện!”
Tỏa Phong níu áo cô, thì thầm:
“Hòa khí, Dương, hòa khí…”
“Các ông chọn đi.” Chị quắc mắt, giọng đanh lại, “Tết nhất đến nơi rồi.”
Các thương nhân Túc Mộc ham tài, còn ham sống hơn, nên đành chấp nhận phương án đầu tiên phía Tân Lang đưa ra. Diễm Dương đích thân dặn dò đãi ngộ cho họ, đặc biệt là hai mẹ con lúc nãy chị nói chuyện. Lúc chị quay lại gặp, cô ta hỏi chị là ai, sao lại có tiếng nói như vậy – đây là lần đầu cô đến Tân Lang, ở quê cô, việc phụ nữ chen ngang lúc cánh đàn ông đang bàn bạc là chuyện không tưởng.
Diễm Dương nói:
“Ta là Giám Quốc Quân – con kế tự của hoàng tử cả của các chị.”
“Giám Quốc Quân!” Cô ta thốt lên, cúi thấp người hành lễ, rồi bối rối nói, “Thiếp thân thất lễ, mong được lượng thứ… Nhưng lúc nãy thiếp thân cứ ngỡ ngài là thầy thông ngôn…”
Nụ cười cứng đờ trên môi chị.
⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆
“Đáng lẽ ta phải dặn con. Người đại diện quốc thể không bao giờ nên phát ngôn bằng ngôn ngữ của đối phương – dù họ có thông thạo thứ tiếng đó đến mức nào đi chăng nữa.”
“...Nhưng chính người kể cho con, thưa các hạ, rằng đức vua đã nói tiếng Túc Mộc với người.”
Phò mã cười khổ:
“Con gái, sao con phải tranh cãi với ta? Ta đâu có đặt ra quy định đó!”
Gò má Diễm Dương nóng lên thấy rõ, còn trong mắt chị là những giọt lệ chực trào ra. Cảm giác xấu hổ thiêu đốt chị. Đáng lẽ mọi chuyện đã không thành ra nông nỗi này – chị đến nơi ngay khi vụ nổ mới vừa xảy ra, kim bài Giám Quốc Quân trước ngực, tất cả mọi người tại đó nghe theo mệnh lệnh của chị, và chị đã đảm bảo hạn chế thương vong ở mức tối thiểu. Khi chị nhắc Nhật Nam đi gọi đội cứu hỏa phía đông kinh thành, anh hiểu ngay chị muốn dẫn cả Tỏa Phong tới. Diễm Dương đã sắp xếp mọi thứ để anh ta phải chứng kiến uy phong của Giám Quốc Quân.
Một sân khấu hoàn hảo bị hủy hoại chỉ bằng sự tự mãn của chính chị. Anh đã nắm thóp được chị ngay khi chị muốn đi trấn an người Túc Mộc rồi – khả năng nói ngoại ngữ thành thạo luôn là điều khiến chị tự hào, và anh biết thừa chị sẽ không kiềm chế được mà thể hiện bản lĩnh đó. Chắc chắn anh đã nghe tiếng chị từ bên ngoài vọng lâu nên mới bước vào hiên ngang như vậy. Còn chị thì ngu ngốc đến nỗi răm rắp làm theo lời anh, chẳng khác nào một con bò bị dắt vào lò mổ mà cứ tưởng sắp được ăn cỏ non.
Tỏa Phong biết nguyên tắc bất thành văn này từ đầu. Bảo sao chẳng bao giờ anh cố gắng hoàn thiện phát âm tiếng Túc Mộc của bản thân. Anh sẽ luôn có thầy thông ngôn đi cùng để giúp phiên dịch, vậy tại sao phải mất công tự nói thật chuẩn?
Trong khi đó bao nhiêu năm qua mục tiêu của Diễm Dương lại chính là trở thành thầy thông ngôn đó.
“Con có lỗi với người, thưa các hạ. Người tin tưởng con đến vậy mà con lại…”
Người cắt lời chị:
“Ta tin tưởng con có thể giải quyết chuyện này và sự thật là chuyện này đã được giải quyết. Kết quả cuối cùng mới là quan trọng.” Phò mã ngả người dựa ra sau, nói, “Con cũng đã nhanh nhạy tìm ra được lý do thật sự cho việc thuyền buôn Túc Mộc kéo đến sớm hơn nửa tháng trời: phụ vương ta ngã bệnh không gượng dậy nổi, em trai ta là một thằng ngu ngốc vô công rồi nghề, người đứng sau vụ này chỉ có thể là kế hậu tìm cách thao túng việc triều chính.”
Người tạm dừng lại khi nghe tiếng bước chân rất nhẹ cùng âm thanh vo ve của loài ong mật. Diễm Dương cũng nhận ra. Chị quen thuộc với chúng vô cùng – tất cả các Quốc Tử đều biết đó là báo hiệu cho sự xuất hiện của lão thái giám.