Chương Mười Lăm
Yến tiệc cung đình nào cũng giống nhau: trước hết là những lời chúc tụng của khách khứa, rồi phò mã đáp lại vài lời; sau đó thì chư hầu và quan lại dâng quà, phò mã ban thưởng hoàn lễ; người tung kẻ hứng như vậy mãi gần cả canh giờ mới bắt đầu vào tiệc. Đồ ăn được dâng lên, rượu rót đầy ly, chẳng ai ngồi yên chỗ của mình mà bắt đầu đi kính rượu. Lại một buổi xã giao mệt bở hơi tai.
Diễm Dương uống cạn ly thứ ba, mặt đã hơi đỏ. Xem ra hồi nãy bôi bớt phấn má đi là quyết định đúng đắn. Đến ly thứ tư, chị không dám uống nữa, nhân lúc mọi người ngửa cổ uống thì lén hất rượu ra sau lưng.
“Chúc mừng năm mới.” Chị cười với hai cô tiểu thư trước mặt mình, những đôi mắt ấy lấp lánh, nhìn chị với vẻ ngưỡng mộ.
Họ gật đầu chào nhau. Diễm Dương vừa quay lưng lại đã thấy ba người nữa đang nâng sẵn ly, một người còn cầm theo bình rượu, tiến đến rót cho chị.
Cố nâng gò má lên, chị niềm nở chào hỏi. Trong nhóm người này có bà thị lang bộ Hình mới nhậm chức. Bà này độ tứ tuần, tóc cắt ngắn trên vai, mặc nguyên quan phục đến dự tiệc. Diễm Dương hỏi có phải bà đi thẳng đến đây không.
Bà thị lang thở dài:
“Tất nhiên rồi, thưa Quốc Tử. Ông thị lang tiền nhiệm bị cách chức đột ngột quá, chưa kịp bàn giao gì, tôi phải tự mày mò…”
“Hẳn thị lang vất vả lắm.” Diễm Dương chạm nhẹ ly rượu của hai người với nhau.
Hai người cùng uống, rồi bà nói:
“Bộ Hình bây giờ trăm công nghìn việc, giá mà có quý nhân đến giúp đỡ thì không còn gì hơn. Nghe nói Quốc Tử vẫn chưa được phân công tác, hay là thử cân nhắc bộ Hình…”
“Ấy, sao được!” Người bên cạnh xen vào, là một vị thuộc bộ Hộ, “Quốc Tử liêm chính nghiêm minh, dũng cảm hiếu thảo, đáng lẽ nên vào bộ Hộ, giữ một chức tuần diêm ngự sử…”
Lại một người nói:
“Hôm đấy Quốc Tử thay các hạ tế trời, cúng Hỏa Thần, oai phong lẫm liệt, chắc chắn sẽ hợp với bộ Lễ chúng tôi…”
Các vị ấy mỗi người một lý lẽ, chẳng mấy chốc đã lời qua tiếng lại, không ai chịu ai. Chính Diễm Dương cũng không xen vào nổi. Chị chỉ sợ họ làm lớn chuyện lên, kinh động phò mã, ép người vào thế khó.
Một cánh tay choàng qua vai chị, người đó đưa một ly rượu ra mời hai vị kia, cắt đứt cuộc tranh cãi:
“Các vị hỏi nhầm người rồi, chúng tôi làm gì được quyết. Chi bằng tâu thẳng các hạ thì hơn. Mà tâu với các hạ, không chừng mất cả chì lẫn chài.”
“Ý Quốc Tử là…”
Tỏa Phong cạn ly, cười cười:
“Biết đâu các hạ không có ý định cho cô em này rời khỏi cung thì sao?”
Vỡ lẽ, các vị kia không nói gì nữa. Họ khách sáo mấy lời rồi cũng đi sang bàn khác. Tỏa Phong nháy mắt với Diễm Dương, chị thì căng thẳng không dám ngước nhìn anh.
“Đáng lẽ phải là anh.”
“Hửm?”
Diễm Dương hít sâu, khó khăn nói:
“Lệ Tân Lang ta là con trưởng thừa kế. Anh mới nên là người đứng trên đàn tế thần hôm đó…”
“Biết sao được bây giờ.” Anh giả vờ thở dài, “Có lẽ cái số anh nó hẩm hiu.”
“...”
Tỏa Phong phì cười, ôm vai Diễm Dương dẫn chị đi:
“Anh đùa thôi. Quả thật, lúc đầu anh cũng có nghĩ đến chuyện này, nhưng giờ mới thấy đúng là ảo tưởng. Tế bái Hỏa Thần vốn là việc của hoàng thất; anh lại là hậu duệ của Khai Quốc Công. Nếu anh mạo muội làm thay, há chẳng phải tuyên bố cho cả thiên hạ rằng dòng dõi Khai Quốc Công sẽ lên ngôi vương? Chu Diên hay Hoài Hoan, Nhật Nam đều vậy thôi.”
“Cho dù thế…”
Hai anh em đi một lúc đã tới sau bức bình phong ở cuối sảnh, nơi các vũ công đứng đợi đến lượt vào diễn. Chu Diên cũng đang ngồi một bên để chỉnh dây đàn. Buổi cung yến nào anh cũng dâng lên một khúc nhạc. Khi anh xuất hiện nghĩa là đã đến lúc mọi người phải về chỗ. Những năm gần đây, sau buổi diễn của anh, phò mã sẽ chính thức ban thưởng cho vị Quốc Tử hoàn thành nghi lễ trưởng thành, và tuyên bố người đó sẽ nhậm chức ở bộ nào.
Diễm Dương ước gì có thể nhảy cóc thời gian đến đó luôn.
“Vinh dự quá!” Chu Diên bị Tỏa Phong khều má, giật mình nên ngước lên, “Sao tôi được các vị đại nhân đến thăm thế này?”
“Tớ thấy cái Dương sắp gục đến nơi rồi nên dẫn em nó ra ngoài hóng gió.”
“Mới được bao lâu đâu mà đã say? Sắp lên chức rồi mà tửu lượng còn kém vậy là không được đâu nhé.”
“Các anh chỉ biết trêu em.” Diễm Dương hừ giọng.
Tỏa Phong mách:
“Mai mốt nhắm chừng uống hết nổi rồi thì đi tìm Vũ Ninh, bảo nó đỡ cho. Thằng đấy nghìn chén không say.”
“Đừng có xúi bậy em nó chứ. Thằng Ninh đứng đấy thì ai dám uống!” Chu Diên cười khúc khích, mắt vẫn dán vào cây đàn, ngón tay lướt trên sợi tơ, “Hôm nay quá chén, hôm sau bị nó chỉ mặt điểm tên ngay giữa buổi chầu sáng là lũ bợm rượu.”
“Nước trong quá không có cá. Dạy mãi mà nó không nghe, còn chửi ngược lại cả tớ.”
“Mấy năm nữa là nó tự biết khôn ra thôi, anh đừng lo.” Vị cầm sư ôn tồn nói, “Hai anh em đi đâu thì đi đi, đừng làm phiền tôi nữa.”
Vẫn bá vai Diễm Dương, dẫn chị rời khỏi sảnh tiệc, Tỏa Phong lầm bầm:
“Người gì mà lạnh lùng… Thằng Ninh bây giờ là một tay anh Diên của mấy đứa dạy đấy chứ đâu.”
Họ tạm quên đi những thứ phù hoa đằng sau lưng, tựa lan can trò chuyện. Nói về các anh em xong rồi thì bàn việc nước. Diễm Dương hỏi anh về lũ lụt ở phía nam và những tên quan lại vô trách nhiệm ở đó.
Tỏa Phong nhún vai, nói rằng trung ương Tân Lang đã bỏ bê vùng đất đó từ lâu rồi – thiên tai nhiều, không trồng trọt buôn bán gì được, chẳng góp được bao nhiêu tiền vào quốc khố nên chẳng bao nhiêu đời vua thèm quan tâm. Quan lại bị phái đến đó cũng chỉ muốn làm qua loa cho hết nhiệm kỳ.
Vốn đó là đất phong của Định Quốc Công, tức gia đình Chu Diên, nhưng nhiều đời thế tử cho tước vị quốc công đều bị giữ lại trong kinh, nên dần dần cũng bỏ bê quê hương mình.
“Ngẫm ra… tình cảnh của chúng ta bây giờ chẳng khác mấy.” Lúc anh nói, vết sẹo trên mặt anh nhăn lại.
“Anh có nhớ gia đình không?”
“Anh chẳng nhớ gì nữa rồi.”
“Em xin lỗi.”
“Có gì đâu. Cha anh mất sớm, mẹ anh cũng qua đời… Mấy đứa khác đều vậy cả mà.” Anh lắc đầu, “Dù hay nói tụi anh là hậu duệ của ai đó, thực chất chẳng có nơi nào khác để về nữa.”
Mím môi, Diễm Dương ngó anh, nói:
“Chúng ta có nhau mà.”
“Đúng vậy.” Tỏa Phong cười, đưa tay xoa đầu chị, “Anh với Diên vẫn thường bảo nhau… thật may là có chúng ta. Hôm đi săn, sương mù dày đặc, thằng Hinh đi lạc, em lại tự ý chạy đi, tim anh như muốn rớt ra ngoài.”
“...Anh định chì chiết vụ này tới cuối đời hay sao thế?”
“Chắc vài năm nữa thôi. Có chuyện này anh muốn hỏi, Dương à. Con hổ tinh đã trụi lông, nhưng da nó có dấu vết bị cháy. Em có giấu anh cái gì không, Dương?”
Trước sự chất vấn đột ngột, chị không phản ứng kịp, mặt tái đi trông thấy. Anh thì vẫn đặt tay bên tai chị. Anh cao hơn chị rất nhiều, giờ tầm mắt họ ngang nhau vì anh đã cúi xuống. Diễm Dương có thể thấy từng thớ cơ trên mặt anh run lên theo nhịp thở.
Chị lắc đầu.
“Chắc cuối năm thời tiết khô hanh, sét đánh xuống cháy rừng, lửa xém vào lông con hổ cũng nên.”
Rõ ràng là anh không tin. Nhưng anh không truy hỏi thêm nữa. Anh đứng thẳng dậy, quay sang chậu hoa gần đó, xua một con ong mật đang đậu trên cánh hoa nhài rồi ngắt bông hoa ấy khỏi cành.
Anh cài hoa lên tóc Diễm Dương.
“Tỉnh rượu rồi đấy. Đi vào thôi nhỉ? Chắc cũng gần đến lượt Diên diễn.”
“Không thể bỏ qua tiết mục ấy được.”
Diễm Dương khoác tay anh trở vào sảnh tiệc. Trên đường, họ lại phải nâng ly với vài vị quan nữa, lúc ngồi xuống chỗ thì cũng vừa đúng lúc Chu Diên ôm cây đàn bầu của anh ra giữa sảnh.
Nhìn sang phía đối diện, Diễm Dương nhận ra có một ghế trống.
⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆
Gia Hinh đã không ở đó để nghe tiết mục của Chu Diên. Thằng bé chuồn ra ngoài từ đầu bữa tiệc rồi.
Nó và Chân Định là hai đứa duy nhất chưa được phép uống rượu, nhưng đó không phải lý do duy nhất để tất cả mọi người ở bữa tiệc phớt lờ chúng. Các anh Phong, Diên, Hoan, Nam được “săn đón” vì họ là hậu duệ của bốn vị khai quốc công thần; nếu phò mã không nhận nuôi họ, họ vẫn sẽ được tôn kính gọi bằng “thế tử”. Và chị Diễm Dương là người con gái duy nhất, các tiểu thư ngưỡng mộ chị, đám công tử để ý chị – Nhật Nam từng cho mấy tên khiếm nhã này một trận ngay đêm ba mươi hồi năm ngoái. Nhưng đám Ninh, Định và Hinh tuy có tiếng là con trai của Thất Đẩu Tướng, thật ra họ chẳng có tước vị gì, càng không sở hữu gia tài gì đáng thừa kế. Cha anh Ninh, Đức Uy tướng quân, trước đây là thuộc hạ của Khai Quốc Công. Cha của Chân Định còn từng dẫn đầu phản quân. Cha Gia Hinh thì chỉ là một thư sinh mồ côi, tình cờ hộ giá đức vua trên đường vi hành mới được phong thái bảo; lúc thằng bé ra đời, song thân đều đã mất, nó được hoàng hậu rủ lòng thương mang vào cung nuôi. Nhưng nó còn chưa dứt sữa thì thảm án Kỷ Sửu đã xảy ra rồi.
Sau nghi thức trưởng thành của mình, Vũ Ninh bước vào quan trường, tính tình cứng nhắc làm mích lòng nhiều người, nhưng cũng khiến không ít người kính nể. Giờ anh cũng được kính rượu rồi. Hai đứa út thì cứ ngồi một chỗ tấn công đống mồi nhắm.
Ít ra Chân Định còn có con chim két bầu bạn – con chim này có bộ lông vũ xanh lá đẹp mắt, biết nhại tiếng người. Anh thường để nó đậu ở chỗ đông người rồi gọi nó về, nó sẽ nhái giọng họ cho anh tiêu khiển. Mọi khi Gia Hinh vẫn chơi cùng anh. Dù sao thì sức khỏe của thằng bé cũng không cho phép nó uống rượu. Nhưng hôm nay, ngay khi nó vừa ngồi xuống, đã có cung nữ nói thầm vào tai nó.
“Có một người thợ thủ công cầu kiến Quốc Tử.”
Nó đứng dậy ngay, nói với Chân Định là nó đi vệ sinh, rồi đi theo cung nữ nọ. Chẳng ai buồn để ý đến thằng bé. Phò mã còn đang bận uống với mấy lão thượng thư. Cô ta dẫn nó đến một cái chòi nhỏ nằm sâu trong ngự hoa viên rồi lui xuống.
“Chị!”
Nó reo lên ngay khi thấy cô bé ấy – cô gái tóc ngắn ngang vai với đôi mắt đẹp hơn bất cứ ngọc ngà châu báu nào nó từng thấy, cùng một đôi khuyên bằng đá mắt mèo mà lần trước, để được trò chuyện với cô thêm vài giây, nó đã nói bừa rằng nó cũng muốn xỏ lỗ tai. Rồ thật. Nhưng nó đoán có một số người xứng đáng để những kẻ bình thường tình nguyện trở nên điên dại.
Cô gái cúi đầu hành lễ với Gia Hinh. Cô mặc một tấm áo choàng đen phủ kín từ đầu đến chân, trời đang lạnh mà. Gia Hinh thấy cô mang theo một chiếc lồng đèn.
“Lần trước chúng ta đã biết tuổi nhau rồi, thưa Quốc Tử.”
“À, phải.” Gia Hinh đỏ mặt, “Xin lỗi, thói quen… Ờm, sao bồ lại ở đây?”
Nó ra hiệu cho cô bé ngồi xuống lan can, nó cũng ngồi bên cạnh. Cô đặt lồng đèn ở giữa họ, không phải những cái hình con cá con rồng đang treo lủng lẳng trên đầu, mà là một cái lồng đèn hình chữ nhật bọc bằng giấy trắng tinh.
“Dân nữ biết sự xuất hiện của mình đêm nay rất đường đột, nhưng dân nữ có việc gấp muốn xin Quốc Tử giúp đỡ… Miễn là không làm phiền Quốc Tử.”
“Tất nhiên là không rồi! Mình cũng muốn báo đáp bồ vì đã giúp mình lần trước đây. Bồ cần gì xin cứ nói, mình sẽ cố gắng.”
Cô bé thở phào:
“Hôm qua dân nữ vào cung, lúc trở về thì phát hiện đã để quên khăn tay. Vốn cũng chẳng phải vật gì quý giá, nhưng đó là di vật của gia từ. Xin Quốc Tử cho phép dân nữ tìm lại.”
“Chuyện này thì dễ thôi. Để mình sai người đi tìm cho bồ.”
“Không cần làm phiền đến người khác đâu ạ, dân nữ tự mình tìm là được.”
“Vậy mình dẫn bồ đi.”
Gia Hinh cầm lồng đèn dẫn đường, hai người cùng trở về nơi ở của các Quốc Tử. Lúc trước nơi đây là đông cung, chỉ thuộc về thái tử sẽ kế thừa đại thống. Sau này phò mã dọn ra để cho cả tám đứa trẻ vào sinh sống. Vừa đi, nó vừa tía lia kể với cô bé:
“Hồi nhỏ mình cũng được nuôi trong cung, nhưng là ở điện phụ của cung hoàng hậu. Chị Dương thì ở chính điện. Mình còn nhớ hồi bé tò mò, biết có người ở đó thì hay lẻn sang tìm cách ngó chị ấy một cái, mà chưa bao giờ thành công hết. Các bà vú nuôi chị ấy là người Túc Mộc, nên chắc cũng dạy dỗ chị ấy như thiên kim khuê các ở bên đó – không ra khỏi cửa lớn, không tới gần cửa phụ, kiểu kiểu vậy.”
“Gì ạ?”
Gia Hinh nhận ra nó vừa nói tiếng Túc Mộc. Thằng bé không thành thạo ngôn ngữ này như Diễm Dương, người có thể nói lưu loát như tiếng mẹ đẻ, mà nó chỉ có thể lặp lại mấy câu thành ngữ thôi. Tụi nó dành hẳn mười ngày mỗi tháng để học về phong thổ và văn hóa nước láng giềng.
“Ý tức là bên họ không cho phép con gái ra khỏi phòng.”
Đến trước cung điện, nó dẫn người thợ thủ công vào gian nhà chính, nơi chiều hôm trước họ đã ngồi nói chuyện. Gia Hinh châm đèn dầu, còn cô bé lấy chiếc đèn lồng trong tay làm nguồn sáng, bắt đầu cúi người tìm khăn tay. Cô bé nói đó là một chiếc khăn lụa màu xanh dương đậm, thêu những ngôi sao nhỏ như dải ngân hà.
“Hay là mình nhờ người tìm cho bồ?”
Gia Hinh gợi ý, nhưng nó không thể tìm được bất cứ ai; các bà vú mất tăm hơi, cung nữ cũng chẳng thấy đâu.
Khi nó trở về, cô bé vẫn đang tìm. Nó bèn tìm cùng cô. Thằng bé giở tấm chiếu trên phản gỗ lên, cúi xuống nhìn dưới gầm. Vẫn không thấy, nó nhấc cái mâm đựng tách uống trà, rồi tìm khắp bàn. Một lúc sau, cô bé reo lên:
“Tìm thấy rồi!”
Nhìn cô bé cười xán lạn, ánh lửa nhỏ chiếu sáng nửa gương mặt bầu bĩnh cùng đôi mắt đẹp. Gia Hinh đỡ cô bé đứng dậy, trong lòng thế mà hơi tiêng tiếc. Tìm thấy khăn rồi nghĩa là cô sắp phải về. Nó cũng nên trở về bữa tiệc – mọi người sẽ chú ý nếu lúc anh Chu Diên lên tấu nhạc rồi mà chỗ ngồi của nó còn trống.
“Cảm ơn Quốc Tử nhiều lắm.” Cô bé ôm chiếc khăn trước ngực, rưng rưng, “Dân nữ mồ côi sớm, chưa kịp trả ơn sinh thành dưỡng dục, nay còn làm mất cái khăn đó thì trời đất bất dung…”
“Linh hồn lệnh từ trên trời sẽ hiểu tấm lòng của bồ.” Gia Hinh chân thành nói, “Bồ không vội về chứ? Mình mời bồ một tách trà và vài miếng bánh cốm được không?”
Nó tìm chủ đề để trò chuyện với người bạn mới quen – cô vẫn nhất quyết không tiết lộ tên của mình, những thứ khác thì cô thoải mái. So với hôm qua, thằng bé thấy cô cởi mở hơn nhiều. Khi nó biết cô có đi học, chúng chuyển sang chủ đề trường lớp, hóa ra là các tư thục cũng đã đưa tiếng Túc Mộc vào chương trình dạy rồi.
“Bồ có phát âm được cái chữ đó không? Cái chữ…”
“Không!” Cô bé vừa lắc đầu vừa cười nắc nẻ, “Dân nữ chịu chết – ôi, còn ngữ pháp…”
“Mình phát điên với nó…”
“Quốc Tử có biết cuốn sách…”
“Đó chính là giáo trình của tụi mình!”
Chúng đua nhau nói. Không ai hoàn thành được câu của mình. Tiếng cười của chúng xôn xao khắp gian nhà tối om với duy nhất hai đốm sáng.
Ôm cái bụng đau quặn vì cười quá nhiều, cô bé đính chính, hụt cả hơi:
“Dân nữ chỉ ngán mỗi cái món ngoại ngữ đấy thôi. Các môn còn lại thì ổn…”
“Vừa đủ qua?”
“Từ điểm ‘bình’ trở lên.” Rồi cô nói với vẻ kiêu ngạo, “Môn toán của dân nữ lúc nào cũng được điểm ‘ưu’.”
“Chúc mừng bồ!” Gia Hinh tươi cười.
“Còn Quốc Tử?”
“Ồ, học lực mình bình thường. Có thể nói là từ khi biết cầm bút viết chữ thì chưa có bài nào không phải điểm ‘ưu’.”
“...” Cô hừ giọng, “Đồ ra vẻ.”
Thằng bé bóc vỏ quýt cho cô gái đang bĩu môi phụng phịu.
“Quốc Tử có phải người học giỏi nhất Quốc Tử Giám không?”
“Nói vậy cũng không hẳn là sai. Nhưng tiếng Túc Mộc thì chị Diễm Dương của tụi mình luôn đứng đầu.”
Cô bé nói:
“Dạo này dân nữ đi đâu cũng nghe thấy người ta kể chuyện Quốc Tử Diễm Dương anh dũng trừ yêu diệt ma, mang thần dược về báo hiếu phò mã.” Vẻ ngưỡng mộ hiện rõ trên nụ cười của cô bé, “Theo dân nữ biết, các Quốc Tử đều là hậu duệ của Thất Đẩu Tướng, trừ ngài ấy. Có người đồn Quốc Tử Dương là con ruột của phò mã và công chúa Xích Anh.”
Gia Hinh nghe vậy bật cười:
“Không phải đâu.”
“Thế…”
“Chị Dương được nuôi trong cung từ bé, các anh cũng từng nghĩ chị hẳn phải là hoàng thân quốc thích. Nhưng hoàng hậu là người từ bi, xứng danh quốc mẫu, từng nhận nuôi rất nhiều cô nhi, mình cũng là một trong số đó. Huống chi, lý do phò mã thu nhận các Quốc Tử, ngoài làm theo lệ cũ – thắt chặt tình cảm giữa hoàng thất và thế tử, đồng thời đảm bảo lòng trung thành của bốn vị quốc công – còn là vì người không có con thừa tự. Nếu đã có chị Dương rồi, sao phải đứng núi này trông núi nọ? Huống chi, công chúa chưa từng sinh nở, đây là sự thật.”
“Phò mã là người Túc Mộc.” Cô bé chỉ ra, “Chẳng phải khi nãy Quốc Tử vừa nói người Túc Mộc không cho phép con gái ra khỏi nhà sao? Có lẽ trong thâm tâm người không nghĩ con gái có thể thừa kế.”
Gia Hinh nheo mắt nhìn cô bé.
Cô thì cụp mắt xuống:
“Dân nữ lỡ lời.”
“Xem ra trong dân gian có rất nhiều… luồng dư luận. Mình không trách bồ, nhưng mong bồ hiểu rằng mình không thích người ta bàn tán về chuyện gia đình mình. Hơn nữa, bồ không nên bàn tán những chuyện này trong cung.” Nó dịu giọng, “Tai mắt có ở khắp mọi nơi. Lần sau hãy mang theo một chiếc túi đựng bột tỏi trộn với giấm.”
“Vâng?”
“Những con ong.” Gia Hinh nói, “Đó là cách lão thái giám bên cạnh phò mã giám sát tụi mình.”
“...Dân nữ đã hiểu.”
“Mình nên quay lại bữa tiệc rồi.” Nó cười, “Đi nào, mình tiễn bồ.”
Cửa sau của cung điện dẫn thẳng ra đường lớn. Lúc nãy người thợ thủ công cũng đã vào bằng cổng này, nhưng cung nữ không dám tự ý cho phép cô vào tìm khăn tay, cô bèn nhờ nàng nói với Gia Hinh một tiếng, rồi để thằng bé dẫn cô đi tìm.
Trước khi chia tay, cô quay lại nói:
“Về chiếc lọng bướm mà Quốc Tử đặt dân nữ làm, dân nữ đã làm xong rồi ạ.”
“Thật không?” Thằng bé thốt lên, đầy bất ngờ, “Mình cứ tưởng phải đợi đến sau tết!”
“Vốn định như vậy, nhưng hóa ra làm lọng bướm dễ hơn dân nữ tưởng tượng. Có điều… đúng là phải ra giêng dân nữ mới lại được vào cung. Hôm nay là tình huống bất đắc dĩ thôi.”
“Bồ không vào cung được thì mình đi tìm bồ vậy. Nhà bồ ở đâu, mình đến lấy.”
“Hăm bảy này dân nữ bày hàng tại bến tàu.” Cô bé cười duyên dáng, “Xin đợi Quốc Tử ở đó.”
“Mình sẽ đến.” Gia Hinh hứa, đưa ngón út ra.
Họ móc ngoéo, rồi cả cô bé lẫn ánh đèn lập lòe từ chiếc đèn lồng biến mất dần vào bóng tối. Gia Hinh quay trở lại bữa tiệc. Nó đến nơi vừa kịp lúc Chu Diên gảy nốt nhạc cuối cùng.