Chương Chín
Lúc họ vừa dọn tới, anh Chu Diên nói, hồi anh còn bé, tòa Quốc Tử Giám khác bây giờ rất nhiều. Khi đó hình như nó còn không được gọi là Quốc Tử Giám umà có một cái tên khác: Chúc Thiên Các.
Tỏa Phong, dưới sự nài nỉ của Gia Hinh, đã vẽ lại nó theo lời mô tả của Chu Diên – vẫn là một tòa nhà cao có hình trụ thôi, nhưng thay vì bảy tầng thì có tới mười hai tầng; sự khác biệt chưa dừng lại ở đó. Nơi bây giờ là thao trường và chuồng ngựa trước đây trồng rất nhiều thảo dược. Trên nóc nhà không phải tượng rồng bay mà là một con phượng hoàng sải cánh. Trước cổng chính có hai bức tượng nửa giống chó nửa giống sư tử. Anh hai nói anh chỉ được nhìn từ bên ngoài thôi. Bên trong Chúc Thiên Các là nơi ở của các phù thủy.
"Không phải tất cả phù thủy." Anh đính chính, "Mà là một số những phù thủy ưu tú nhất Tân Lang. Nơi này từng thuộc về công chúa Xích Anh, ngài và các phù thủy ấy nghiên cứu phép thuật trong dân gian, tại đây."
Gia Hinh mất ngủ mấy đêm liền khi biết nơi nó sắp dành nhiều năm sắp tới để sinh sống và học hành từng là địa bàn của phù thủy – những người phụ nữ với khả năng điều khiển trí óc con người, khiến cho kinh mạch nó tắc nghẽn, có thể hô mưa gọi gió nhấn chìm nó và tạo ra những cơn động đất kinh hoàng; câu chuyện mà phò mã kể cho nó từ trước cả khi nó biết nói, rằng dòng máu hậu duệ Hỏa Thần đã đổ xuống bởi sự phản bội.
Rất nhiều anh em khác của nó cũng không ngủ được. Họ từng ôm chăn gối xuống phòng sinh hoạt chung ở tầng bốn – cả một tầng, bích họa và kệ sách kê sát bức tường vòng cung, bàn trà và trường kỷ kê ở tâm – dựa vào nhau mà ngủ, không chịu đi đâu khác nếu không có nhau. Phải tới hai ba tuần sau các Quốc Tử mới dám về phòng ngủ riêng.
Tầng trệt là nơi tiếp khách và tế lễ mỗi dịp lễ Tết, bày tượng Hỏa Thần. Tầng một là nơi chúng học. Tầng hai có thư viện, hàng chục kệ sách xếp loạn xạ như mê cung, rất nhiều sách tiếng Túc Mộc, nhưng lèo tèo vài cuốn viết bằng chữ Tân Lang, chỉ có tác dụng cho chúng nhận mặt chữ. Tầng ba là nơi chúng ăn uống. Từ tầng năm trở lên mới là nơi nghỉ ngơi. Tầng trên cùng là phòng của hai anh lớn. Tầng sáu, phòng Hoài Hoan, Nhật Nam và Diễm Dương. Vũ Ninh, Chân Định và thằng bé ở tầng năm.
Ánh mắt nó dừng lại ở cửa phòng người chị duy nhất và phòng anh tư ngay bên cạnh. Nếu xếp theo tuổi thì đáng lẽ chị với Vũ Ninh phải đổi cho nhau, nhưng anh năm là người mà chúng đùa rằng song thân của anh hẳn là Quy Củ và Luật Lệ đã không thể chịu nổi sự ồn ào của hai người kia, nên Diễm Dương thế mạng. Chị cũng chẳng khoái gì cảnh ở ngay cạnh phòng Chân Định, người mà theo ý chị là quá sức chểnh mảng và lo ra, lúc học thì đầu óc bay theo bươm bướm và chuồn chuồn ngoài cửa sổ, tới tối về mới lọ mọ giở sách học bù, còn phải phiền người khác giảng lại. Nói đâu xa, thằng út là người thường xuyên chịu trận đây. Nhưng nó nghĩ lý do thật sự là vì chị thích một chút tiếng ồn trong cuộc sống.
Gia Hinh thở dài, trở mình.
Đêm đã khuya và mây mù gần tan cả. Ô kính trên trần nhà dẫn đường cho giọt trăng đổ xuống như dòng thác. Cả một dải ngân hà chảy giữa bầu trời đêm. Gia Hinh nhìn sao trời, cố đánh lạc hướng mình. Đã mấy tháng nay, luôn có một vầng hào quang xuất phát từ phương Bắc sắp vào ngôi phía Nam. Chòm Ngự Nữ cũng phát sáng luôn.
Chẳng liên quan gì sất.
Nó cố thử đi ngủ. Mấy câu hù dọa về phù thủy vẫn còn ong ong trong đầu nó, nên khi một ánh nến chiếu xuống đôi mắt nhắm nghiền của thằng bé, nó giật mình kêu toáng lên. Nhưng đó chỉ là bà vú nuôi của nó thôi. Nó quay sang bên kia, giọng lười biếng:
“U về nghỉ đi, con nằm một lát nữa đã.”
Bà vú cười hiền:
“Tôi cũng biết khuya rồi không nên làm phiền cậu, nhưng vừa nãy ngoài cổng có người gọi, bảo là đến đưa lồng đèn.”
“Mới đó đã làm xong rồi ạ?”.
“Cậu có muốn gặp không?”
“Có chứ ạ.” Thằng bé ngồi bật dậy, cười khì, “Phiền u dẫn người ta lên đây ngồi với con. Dưới tầng trệt lạnh lắm.”
Bà vú cầm nến rời đi, rất nhanh đã trở về, vừa đúng lúc Gia Hinh chỉnh lại đầu tóc áo quần xong. Có hai người đi cùng bà – người thợ làm lồng đèn cho các Quốc Tử nhiều năm nay, và một cô bé lạ mặt nó mới thấy lần đầu. Hai người vái chào Gia Hinh, thằng bé cũng đáp lễ y hệt vậy rồi mời họ ngồi.
Lan San, nó nhớ đó là tên y, cười xòa nói:
“Quốc Tử khách sáo quá. Khuya thế này rồi thảo dân mới đến bái phỏng, có làm phiền Quốc Tử không?”
“Không phiền đâu, em cũng chưa ngủ.” Gia Hinh rót trà nóng cho hai người, tò mò nghía cô bé mới gặp một cái, rồi cảm giác vậy hơi bất lịch sự, nó rút ánh mắt về.
Nhưng một ánh mắt đó là đủ để nó nhớ rõ dung mạo của cô bé. Trông cô trạc tuổi nó, mặt tròn như trăng rằm, nước da hơi ngăm, dáng người khỏe mạnh. Tóc cô bé cắt ngắn ngang cằm. Cô bé có cách đi đứng thanh thoát và nhẹ nhàng như bay. Đặc biệt nhất là đôi mắt của cô bé – tròn và thao láo, mang màu nâu rất nhạt, pha chút xanh lá cây, rất gần với thứ màu nước mà anh Tỏa Phong thường dùng để vẽ tranh, lại còn là trạng thái loãng nhất.
Lan San đưa một cái lồng đèn mới cho Gia Hinh. Nó đã yêu cầu một cái lồng đèn kéo quân và bảo y vẽ một câu truyện cho mình. Bất cứ truyện gì, nó nói, em muốn nghe truyện dân gian. Y đã làm đúng như vậy. Mắt nó sáng rỡ khi cầm lồng đèn trong tay, những hình thù trên thân đèn bắt đầu chuyển động. Có chín khung tổng cộng.
“Truyện kể về gì thế ạ?”
Trong sự bất ngờ của thằng bé, người trả lời là cô bé lạ mặt. Cô bắt đầu bằng một câu hỏi ngược lại:
“Quốc Tử có biết thế gian này được tạo lập như thế nào không?”
Gia Hinh hơi sững sờ, lần này ngó cô bé lâu hơn một chút mới lại nhìn về lồng đèn. Cô bé kéo chiếc đèn về giữa cái bàn, đi sang ngồi cạnh Gia Hinh, bắt đầu kể:
“Đầu tiên có hư vô. Từ cái không có ấy sinh ra Hỗn Mang. Theo đó, năm vị thần lần lượt xuất hiện. Vị đầu tiên là Hỏa Thần. Ngài ra đời giữa trung tâm của Hỗn Mang, nóng rực và sáng chói. Ngài làm tan chảy một phần của Hỗn Mang rồi gom lại thành một thể. Từ đó có vị thần thứ hai, Thổ Thần. Ngài tự bẻ gãy xương cốt chính mình để tạo nên những rặng núi, đồng bằng và hang động.”
Khung hình đầu tiên là cảnh tượng núi non hùng vĩ, khoáng vật dưới lòng đất và sông hồ biển cả.
“Kim Thần là vị thứ ba, một cặp sinh đôi, nhưng kẻ lớn hơn thì vỡ vụn và tự chôn vùi mình trong lòng đất, còn kẻ nhỏ hơn thì ôm lấy Thổ Thần, ngăn cách trần thế với Hỗn Mang. Đứa em đấy tiếp tục cho ra đời Thủy Thần. Ngài trút mưa xuống trần gian, lấp đầy phần trũng của mặt đất, và như đại diện cho ý chí người em, thấm qua lòng Thổ Thần để đến gặp những bản thể vụn vặt của người anh.”
Gia Hinh mỉm cười thích thú. Dường như cả thế giới bên ngoài đã dừng lại – nó không còn đau đáu chuyện không vui nữa, mà chìm đắm trong câu truyện của cô bé.
“Khi Thủy Thần tưới đẫm Thổ Thần, một vị thần cuối cùng bắt đầu manh nha thành hình, nhưng ngài là một ca sinh khó.” Họ chuyển sang khung hình thứ hai, “Kể cả khi đã có sự giúp sức của Kim Thần, vị thần này vẫn ở mãi dưới da thịt Thổ Thần, không chịu nhúc nhích. Ngài ở trong bụng mẹ lâu đến nỗi đã có nguy cơ chết yểu. Thổ Thần vẫn không thể chịu đựng thêm được nữa. Ngài viện tới Hỏa Thần. Hỏa Thần hóa thân thành mặt trời. Thế giới bắt đầu với một mặt trời duy nhất.”
Khung hình thứ ba là một bức tranh tuyệt đẹp. Những dãy núi cao là thứ đầu tiên được soi sáng. Tia nắng rực rỡ trượt theo sườn núi để đến vùng đồng bằng, rồi tiếp tục chảy xuống mặt hồ. Ở đó, ánh sáng được đẩy ngược trở lại lên bầu trời hỗn mang, vén ra một khoảng thiên thanh đầy mây và gió.
“Khi trần gian được sưởi ấm, Mộc Thần chào đời. Ngài đội đất mẹ vươn thẳng lên trời. Ngài trở thành những dải cỏ non êm ái. Ngài phủ khắp đồi trọc với sắc xanh của mình.”
Rồi đến khung hình thứ tư: năm vị thần nhìn xuống trần gian.
“Khi đã tề tựu đông đủ, các vị thần bắt đầu đi theo một quy luật, mà ở đó Hỏa Thần là người đứng đầu. Sắc lá đổi màu theo ánh sáng của mặt trời. Khi mặt trời rực rỡ thì trăm hoa khoe hương. Lúc ánh nắng nhạt đi thì cây cũng trút lá. Tiết trời trở lạnh rồi lại ấm lên. Một năm bốn mùa cứ vậy mà luân chuyển. Những mùa lũ và hạn cũng nhịp nhàng.”
Bỗng dưng, giọng kể du dương của cô bé trở nên nghiêm trọng. Khung hình thứ năm cũng tối tăm hơn hẳn:
“Hỗn Mang đã không thể chấp nhận cái guồng khuôn mẫu đó. Bản chất nó muốn phá vỡ sự cân bằng này bằng mọi cách. Nhưng năm vị thần đã trở nên quá mạnh mẽ, hoàn toàn nằm ngoài quyền năng của Hỗn Mang. Nó quyết định tạo ra những con vật đầu tiên. Những loài cá bơi lội làm nhiễu loạn nhịp chảy êm ái của sông hồ. Các con thú và côn trùng sống bằng cách đục đẽo thân cây và ăn lá. Cánh chim muông quấy rối bung dòng khí lưu. Khi Hỗn Mang đang cơn đắc thắng, nó giật mình nhận ra chúng chẳng thể thay đổi gì mấy, ngược lại, chúng còn hòa vào quy luật của năm vị thần. Những con không biết cách thích nghi không sống được lâu. Da thịt và xương cốt chúng lại được Thổ Thần ôm lấy.”
Gia Hinh nhận ra mình đang nín thở. Cô bé nghỉ lâu đến nỗi nó phải ngước lên nhìn – cô bé đang uống trà cho nhuận giọng. Bốn mắt chạm nhau, thằng bé vội cúi đầu.
Giọng kể sau đó của cô bé mang theo tiếng cười nhẹ:
“Hỗn Mang vò đầu bứt tai. Nó phải nghĩ ra một cách khác. Lần này nó cần tạo ra một sinh vật cao cấp hơn, có lý trí và suy nghĩ như các vị thần, nhưng cần phải có vẻ ngoài yếu đuối để họ không cảnh giác. Sinh vật này sẽ sống đủ lâu để nằm lòng quy luật mà các thần đặt ra, thậm chí có khả năng phá vỡ chúng. Có điều, Hỗn Mang không có khả năng tự mình tạo ra một sinh vật sống có đầy đủ trí tuệ và hoàn thiện về cơ thể. Vậy nên nó tạo ra hai thế lực trước tiên: mười hai bà mụ để nặn hình hài, tam hồn thất phách để quản tri giác.”
Khung hình thứ sáu vô cùng sôi động, muông thú ở lẫn với những con người bé tí, vui vẻ, sôi động.
“Những con người đầu tiên ra đời. Họ đã làm đúng cái điều mà Hỗn Mang kỳ vọng. Thoạt đầu, họ giống như loài vật, họp thành bầy, nhặt quả rơi dưới gốc cây để ăn, họ chưa thể chống chọi lại đói và lạnh. Dần dà họ đã thông minh hơn. Họ buộc đá nhọn vào đầu nhành cây để săn mồi. Họ lột da những con thú có bộ lông ấm áp để khoác lên người. Cùng sự xuất hiện của ánh sáng, bóng tối cũng được sinh ra. Chúng là phần đất bị núi non che khuất khi mặt trời di chuyển trên trời. Chúng là những hang động bị vầng thái dương bỏ quên. Khoảnh khắc mặt trời khuất bóng phía tây là lúc chúng trỗi dậy, bành trướng địa bàn của mình ra khắp mọi nơi. Nhưng những con sông còn giữ lại ánh sáng bên trong lòng chúng. Đến một lúc đã tích tụ đủ, khi cả mặt đất bị xâm chiếm bởi bóng tối, chúng thả tia nắng thu nhặt được cả ngày lên lại bầu trời. Những đốm sáng ấy có hình như một dòng nước uốn lượn. Đó chính là các vì sao. Quốc Tử có nhận ra thiếu mất cái gì không?”
“Dạ?” Gia Hinh ngơ ngác, đầu óc như bị phủ sương, mãi mới xoay sở ra được một đáp án, “...Thiếu mặt trăng.”
Cô bé hài lòng nói:
Đã tới khung hình thứ bảy. Một dòng sông ngân đẹp tuyệt diệu hiện ra, và mặt trăng xuất hiện.
“Dòng sông Chước nằm ngay bên dưới mặt trời lúc chính ngọ, hấp thụ trực diện nguồn sáng mãnh liệt đó, nên ban ngày mặt nước đỏ rực còn ban đêm thì phản chiếu lại một mặt trời thứ hai – mặt trăng. Mặt trăng cũng rót những giọt sáng bàng bạc chảy từ đỉnh núi xuống thung lũng. Nhưng hào quang của nàng dịu dàng hơn hẳn sự mãnh liệt mà vầng thái dương đem lại. Tất cả sinh vật đều đuổi theo mặt trời, mặt trăng thì luôn ở cạnh chúng. Thế giới bắt đầu thay đổi từ đó. Các loài thú bắt đầu đi săn về đêm thay vì buổi sáng. Con người thức lâu hơn để quan sát những chòm sao. Đến các rặng cây cũng vươn mình cao hơn vì muốn tới gần mặt trăng. Bóng tối không còn phải cô độc nữa. Chúng trả ơn mặt trăng bằng cách nhường chỗ cho ánh sáng hiền lành của nàng, thậm chí còn tìm cách để đi lên trời, trở thành phông nền cho nàng và dải ngân hà thêm rạng ngời.”
“Hỏa Thần sẽ không thích chuyện này đâu.” Thằng bé buột miệng bình luận.
Cô bé cũng đồng ý, chuyển sang khung hình thứ tám:
“Điều đó khiến mặt trời ghen tị. Hỏa Thần khống chế ánh sáng của mặt trăng. Nàng không được tái hiện nguyên vẹn hình dạng của mặt trời nữa, mà mỗi ngày chỉ được nhiều thêm một chút; ngài cho phép nàng được toàn vẹn một đêm duy nhất, với điều kiện nàng phải hoàn toàn ẩn mình trong một đêm khác. Nếu làm trái lời, ngài sẽ thu hồi ánh sáng của mình khỏi mặt đất vĩnh viễn. Mặt trăng đành phải chấp nhận.”
Âm lượng giọng của cô bé trở về bình thường – Gia Hinh hơi giật mình, như vừa tỉnh lại từ một giấc mộng vậy:
“Đó, thưa Quốc Tử, là câu chuyện tạo lập thế giới.”
“Chị chưa kể hết.” Gia Hinh chỉ vào khung hình thứ chín, “Còn một đoạn nữa mà.”
Khung hình cuối cùng là những cô gái nhảy múa dưới mặt trăng, giàn tế thần đặt giữa họ. Cô bé tỏ ra ngập ngừng không dám nói tiếp. Lan San, người đã im lặng đợi cô bé kể chuyện nãy giờ, lên tiếng:
“E là thảo dân không có quyền kể nốt, thưa Quốc Tử. Thảo dân chỉ thêm khung đó vào để tôn trọng câu truyện gốc được lưu truyền chốn dân gian khi xưa thôi.”
“Vậy em cũng nên bày tỏ sự tôn trọng bằng cách nghe trọn vẹn câu truyện này!”
“Đã khuya rồi.” Y dợm đứng dậy, khều cô bé đi cùng mình, “Thảo dân nên về để Quốc Tử nghỉ ngơi.”
Gia Hinh vội giữ họ lại, tha thiết nói:
“Sao em ngủ nổi khi không biết cái kết? Làm ơn đi mà!”
“Quốc Tử có biết là phò mã đã ra lệnh cấm lưu truyền một số truyền thuyết trong dân gian không ạ?” Cô bé cắn môi, “Dân nữ sẽ gặp rắc rối… Trừ phi, Quốc Tử hứa sẽ không kể lại cho bất cứ ai.”
Một ngón tay út được chìa ra trước mặt thằng bé. Gia Hinh hơi chần chừ – cậu chưa từng nói chuyện với người khác giới trừ các bà vú và chị Diễm Dương, mà cô bé này thì hoàn toàn khác họ – nhưng rồi nó vẫn móc ngoéo với cô.
Cô bé ngồi lại chỗ cũ, quay khung cuối cùng về phía cậu Quốc Tử:
“Các cô gái loài người khôn ngoan đã nhận ra sự thay đổi trong cơ thể mình gần như khớp với thời gian mà mặt trăng tròn rồi khuyết. Các cô gọi mỗi chu kỳ đó là một tháng. Vào ngày rằm, các cô gái hân hoan nhảy múa hát ca để chào đón nàng trăng trở lại. Lo lắng lòng đố kỵ từ các vị thần, nàng đã mách cho những cô gái đó về sự tồn tại của họ và công lao tạo lập thế giới này. Các cô gái trở về nói với gia đình mình, vậy là loài người thờ cúng thần linh, họ soạn những bài văn tế và khúc hát để ca ngợi công trạng ấy.”
Gia Hinh nuốt khan. Một danh xưng vụt sáng trong đầu nó, đã gần như buột miệng nói ra.
Cố tình không thấy cách Gia Hinh hơi rụt người lại khi nghe thấy, Lan San nối lời:
“Khi nhận được sự tôn sùng, các vị thần trở nên hòa hoãn hơn với loài người. Mặt trăng trở thành trung gian để các thần truyền đạt lời sấm. Kim Thần lần đầu tách núi ra, để lộ vàng bạc và ngọc quý đã cất giấu nhiều năm; Mộc Thần đích thân dạy loài người cách trồng trọt và chú ý mùa màng; từ tháng sáu tới tháng mười một, Thủy Thần dâng nước lên bồi đắp phù sa. Thổ Thần cho phép tất cả những điều đó diễn ra trên cơ thể mình. Nhưng trong số đó, món quà của Hỏa Thần là trọng thể nhất: ngài ban cho loài người một phần của mình – lửa.”
“Chất lượng đời sống của loài người tiến bộ, thế giới xung quanh họ trở nên phức tạp hơn, vậy nên trong lễ cúng tế thần linh cũng bắt đầu xuất hiện các vị thần mới, như Tứ Tượng, Thổ Công và Hà Bá, thêm cả mười hai bà Mụ với Tam Hồn Thất Phách. Năm vị thần sáng lập thế giới dần chìm vào giấc ngủ sâu.” Cô bé nọ nói, “Việc cúng tế được giao cho các cô gái có khả năng kết nối với thần linh, rồi các cô tiếp tục dạy cho con gái mình thờ phụng thần. Họ được gọi là phù thủy.”
“Giờ thì, thưa Quốc Tử, chúng thảo dân thật sự phải về rồi.” Lan San đứng dậy, làm Gia Hinh rùng mình như vừa thức dậy từ một giấc mơ dài, “Chúng thảo dân có thể tin rằng Quốc Tử sẽ giữ đúng lời hứa chứ?”
Thằng bé nuốt khan, nó gật đầu.
⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆
Khi Lan San đứng nói chuyện với người lái đò, Linh Như nán lại cạnh Gia Hinh.
Con bé đã không chắc việc dẫn nó theo sẽ là một quyết định đúng đắn – lỡ như nó làm hỏng hết mọi thứ thì sao? nếu nó không thể khống chế được nỗi sợ hay cơn giận dữ trong lòng mình? hay giả sử có ai đó nhận ra họ là phù thủy? – nhưng Lan San là một ngọn núi không thể bị lay chuyển, y đã quyết tâm kéo nó theo. Chiếc lồng đèn kéo quân kỳ công đó được hoàn thành trong vỏn vẹn năm ngày, sau khi con bé gợi ý cho y một con đường đỡ mạo hiểm hơn ý tưởng giết sạch lũ Quốc Tử rồi làm giả thành hỏa hoạn. Y đã vin vào đó rồi nhất quyết nó phải đi cùng.
Vậy là con bé theo y tới đây, kể một câu chuyện mà chỉ cần có người thứ tư nghe được là chúng chắc suất bị ném lên giàn thiêu, buộc phải giả vờ tỏ ra thân thiện với một Quốc Tử.
Nhưng trước khi lún sâu vào chủ đề này, nó còn việc phải làm.
“Quốc Tử hình như đang phiền lòng chuyện gì đó.” Con bé lên tiếng, làm thằng nhóc kia quay sang, sắc nâu nhạt của đôi mắt nó tỏa sáng kể cả trong bóng tối – có lẽ đúng như Lan San nói, nó có một linh hồn thuần khiết, “Là vì câu chuyện lúc nãy sao?”
Gia Hinh lắc đầu:
“Xin chị đừng bận tâm.”
Mím môi, Linh Như tỏ ra áy náy:
“Nếu dân nữ khiến Quốc Tử muộn phiền…”
“Không hề!” Thằng bé thốt lên, “Em thích cách chị kể chuyện lắm. Chỉ là…”
“Quốc Tử có thể nói với dân nữ bất cứ chuyện gì.” Con bé nhún vai, một nụ cười nhẹ nhàng nhoẻn trên đôi môi, “Dân nữ sẽ không kể cho ai khác đâu.”
Gia Hinh nhìn xung quanh – Lan San vẫn đang (cố tình) trò chuyện hăng say với người lái đò (để câu giờ cho Linh Như), bà vú của nó đứng khuất trong nhà, đợi đóng cửa – nó kéo nhẹ khuỷu tay con bé, hai người đứng xích qua một bên. Nó đưa ngón út tay trái lên. Con bé móc ngoéo với nó.
“Thì, chuyện là…”
Thằng bé thuật lại câu chuyện mà Linh Như đã tường tận diễn biến. Nhật Nam và Diễm Dương tranh nhau dẫn đầu lễ hội săn bắn năm nay, thằng con trai muốn săn giao long, còn đứa con gái muốn săn hổ. Kết cục là vừa mới vài canh giờ trước thôi, Nhật Nam đã rút lui. Nhưng trong mắt Gia Hinh thì chuyện vẫn chưa êm xuôi.
Linh Như đã chuẩn bị sẵn những gì nên nói.
Trước vẻ ủ rũ của thằng bé, nó tỏ ra thông cảm. Con bé kể rằng nhà mình có hai đứa em trai, và chúng cãi nhau suốt. Nó nghĩ rằng đó là chuyện bình thường giữa tất cả anh chị em thôi.
“Có một đợt nọ hai đứa ngu đệ của dân nữ giận nhau vì chuyện lông gà vỏ tỏi gì đó, chẳng nhớ nổi nữa. Không ai trong nhà hòa giải được tụi nó cả. Gia phụ bỏ cuộc, gia từ cũng mặc kệ. Lúc đó dân nữ mới nghĩ ra một trò này – dân nữ trốn đi.”
“Trốn đi?” Gia Hinh nhíu mày.
“Đêm nào dân nữ cũng đọc truyện cho chúng nghe trước khi đi ngủ. Nhưng đêm đó, dân nữ cố tình trốn dưới lầu, đằng sau những cái giỏ và vải vụn chất đống trong góc. Chúng đi tìm dân nữ, từ trên gác xuống tới bếp, mà chẳng thấy bóng dáng dân nữ đâu, vậy là chúng khóc lóc ỉ ôi, đổ lỗi cho nhau là tại đứa kia mà dân nữ mới biến mất…”
“...”
“Rồi lúc dân nữ xuất hiện trở lại, chúng quay sang giận dân nữ rồi tự động làm lành với nhau.” Linh Như nhe răng cười, “Đúng là trẻ con, nhỉ?”
Thằng bé lịch sự hỏi thăm:
“Em của chị mấy tuổi?”
“Đứa lớn sáu tuổi, đứa nhỏ bốn tuổi.”
“Thật ạ?”
“Cùng cha khác mẹ.” Nó giải thích, vì Gia Hinh đang lộ rõ vẻ bối rối với khoảng cách tuổi tác hơi xa của chị em nó, “Thân mẫu của dân nữ mất lâu rồi. Gia phụ tái hôn sáu năm trước.”
“Ồ.” Thằng bé áy náy ngó chỗ khác, rồi bồi vào, “Em cũng không có mẹ.”
“Thế thì chúng ta có một điểm chung, nhỉ?”
“Vâng.” Mắt nó sáng lên.
Đúng lúc đó, một cơn cuồng phong thổi qua. Gió tốc đến làm những tấm áo gấm lụa là và vải thô kêu loạt xoạt. Gia Hinh và Linh Như đưa tay che mắt, lúc hạ tay xuống, đầu tóc cả hai rối bù dù chúng vốn đã chẳng hề có nếp. Hai đứa ngó nhau, cùng bật cười.
“Càng khuya càng lạnh đấy, chị về đi ạ.”
“Dân nữ rất tiếc là không giúp được gì cho Quốc Tử…”
“Có chứ!” Gia Hinh vội nói, cùng con bé đi về phía bến thuyền, “Em nghĩ em biết nên làm gì rồi.”
“Vậy dân nữ chúc Quốc Tử sớm được như nguyện.”
“Chị ngủ ngon.”
“Quốc Tử cũng thế.”
Lan San đưa tay ra cho Linh Như vịn để lấy đà lên thuyền. Con thuyền tròng trành trên mặt nước lạnh ngắt và đen ngòm trong buổi đêm khuya. Trên thuyền treo một chiếc đèn đi đường, đó là nguồn sáng duy nhất của họ. Gia Hinh đứng bên bờ vẫy tay chào con bé.
Linh Như ngoái lại, thấy nó nhìn theo tới tận lúc họ cập bờ bên kia của dòng sông Thước.
⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆
Gia Hinh quên béng mất hỏi cô bé lạ mặt kia tên gì rồi.