Chương Tám
tháng chạp, năm Ất Tỵ, Quốc Tử Giám
Dẫn đầu một lễ hội săn bắn là một việc có ý nghĩa rất lớn với các Quốc Tử. Không chỉ đơn giản là săn được con nai hay vài con thỏ rồi xong, mà đó là cơ hội để chứng minh với phò mã và bá quan văn võ rằng chúng đã sẵn sàng cho những thứ lớn lao hơn, thay vì chỉ quanh quẩn trong tòa Quốc Tử Giám này.
Sau khi săn được con voi bốn mươi tuổi đã quấy nhiễu dân chúng lân cận nhiều năm – phá hoại nương rẫy, giẫm đạp gia cầm – Tỏa Phong lập tức được bổ nhiệm vào bộ Công, tham gia công trình tái quy hoạch khu chợ phía đông kinh thành. Ngay năm sau, với chiến tích là con gấu đen nặng gần hai tấn rưỡi, Chu Diên vào bộ Lễ, chủ trì phần tấu nhạc trong các nghi thức quan trọng của hoàng cung. Hoài Hoan săn được con heo rừng khổng lồ, cũng đi học việc ở bộ Binh, nghiên cứu các phái võ thất truyền, chỉnh lý thư tịch về binh pháp. Đến Vũ Ninh, hàng phục được con hồng mã bất trị làm thú cưỡi của mình, giờ cũng đã đến bộ Lại, đề nghị tra xét lại lý lịch và giám sát phẩm hạnh các quan, kịch liệt phản đối người “khiếm khuyết về đạo đức” làm quan trong triều.
Nhưng năm nay có đến hai người cạnh tranh vị trí dẫn đầu trong lễ hội săn bắn. Đầu tiên là Diễm Dương. Theo ý Tỏa Phong thì khó mà nhìn thiếu nữ rực rỡ ấy bây giờ và liên tưởng tới đứa bé gầy nhom, u sầu trầm uất gần mười năm trước, lúc họ gặp nhau lần đầu tiên. Anh cả của các Quốc Tử còn nhớ khi đó cô em này chỉ chịu nói chuyện với phò mã và một đôi lời với mình cùng Chu Diên. Giờ thì Diễm Dương đã lớn thành một thiếu nữ ưu tú, thành tích học thuật luôn đứng đầu, cũng là người duy nhất trong số chúng thành thạo tiếng Túc Mộc.
Còn một người nữa, đó là kẻ bị sao chổi ám suốt hai năm ròng, người đáng lẽ đã phải săn được chiến lợi phẩm của mình từ thuở hồng hoang rồi, mà đến giờ vẫn còn lận đận: Nhật Nam. Năm đầu tiên, đáng lẽ cậu sẽ cùng Hoài Hoan săn một con giao long, nhưng trước ngày đi săn một đêm cậu lại mắc phải bệnh thương hàn nguy kịch, mất mấy tháng trời mới chữa khỏi. Năm sau, cậu lại bị ngã ngựa gãy chân. Tính tình Nhật Nam thì hấp tấp. Cậu không muốn chờ thêm nữa. Quá tam ba bận, cậu cứ nói với Diễm Dương, thuyết phục cô em nhường cho mình lượt năm nay.
Đáng ra cô đã nhường. Diễm Dương chưa bao giờ là một người vô lý, cũng như Nhật Nam không hề thô lỗ tới mức ra oai bắt người khác phải thuận theo mình như một tên ích kỷ. Chúng đã có thể thương lượng được rất dễ dàng. Nếu sức khỏe của phò mã vẫn được an khang.
Thái độ của Diễm Dương thay đổi ngay lập tức.
Cô cố gắng không tỏ ra thô lỗ, cô uyển chuyển từ chối những yêu cầu nói chuyện nghiêm túc của Nhật Nam, cô chần chừ. Nhưng ý định của cô thì đã rõ ràng. Diễm Dương muốn tìm cách chữa bệnh cho phò mã bằng mọi giá – kể cả khi điều đó có nghĩa là tin vào một phương thuốc mê tín dị đoan.
Dịp sinh nhật hồi đầu năm nay, cô nhận được món quà là một sợi dây chuyền, mặt dây chuyền là hổ phách tạo hình đầu hổ.
Hổ phách, trong cả truyền thuyết Tân Lang lẫn Túc Mộc, là một thứ bùa hộ mệnh linh thiêng. Nếu hổ phách được nhuốm trong máu tươi của con hổ dữ từng ăn thịt người thì sẽ trở thành bài thuốc trường sinh. Chính công chúa Xích Anh, người vợ xấu số của phò mã, cũng từng đeo một mặt dây chuyền như vậy bên người, đó là món quà của tiên đế dành cho con gái mình.
Không nghi ngờ gì việc Diễm Dương muốn săn chúa sơn lâm trong dịp lễ hội săn bắn này để làm điều đó, rồi dâng mặt dây chuyền này cho phò mã.
Suy cho cùng, người vẫn là người cha duy nhất của chúng. Diễm Dương sùng bái người, hơn bất cứ anh em nào khác.
Nhưng đó không phải lý do đủ để thuyết phục Nhật Nam.
“Đó là phép phù thủy!” Cậu chất vấn Dương như vậy ở giữa bàn ăn chiều đó, “Cô em thật sự nghĩ phò mã sẽ thấy vui nếu được cứu bởi thứ ma thuật đã giết chết vua và hoàng hậu của đất nước này, giết chết vợ của người?”
Vẻ mặt của Diễm Dương lúc đó lặng lẽ như một mặt hồ vào mùa đông, nhưng dưới khăn trải bàn, tay cô bấu chặt vào lớp áo vải gấm xanh đậm – đồng phục của các Quốc Tử – môi mím chặt.
“Thôi đi, Nam.” Chu Diên nhíu mày, khuyên nhủ, “Có phải chuyện gì nghiêm trọng đâu?”
“Không nghiêm trọng? Phù thủy là giống loài kinh tởm làm ô uế mảnh đất này, vấy bẩn lên lòng bao dung đức độ của hoàng gia! Phò mã dành gần mười sáu năm qua để diệt sạch bóng thế lực đó để trả thù cho gia đình mình, vậy mà giờ nó còn định đi theo con đường tà ma dị giáo này…! Các anh bàng quan vậy thôi sao?”
Tỏa Phong cố tình cao giọng:
“Nam, đừng có nói nữa…”
“Đó là sự thật! Nó còn chẳng buồn phản đối…”
“Tại sao tôi phải phản đối?”
Diễm Dương lên tiếng, chẳng còn vẻ ấm ức gì trên gương mặt thanh tú nữa, mà trái ngược, đôi mắt màu hoàng hôn long lên vì cơn giận dữ, giọng cô đanh lại:
“Anh nói tôi là đứa vô ơn bội nghĩa, đúng chứ? Tôi ghê tởm phù thủy như bất cứ ai trong căn phòng này. Nhưng tình trạng của phò mã bây giờ không còn chỗ cho sự chần chừ nữa rồi – anh có biết bao nhiêu thần y, đại phu, đã đến thăm khám cho người không? Có ai kê được phương thuốc nào hiệu quả chưa? Người lâm cơn nguy kịch, kẻ làm con như tôi lại không thể ở bên giường bệnh chăm sóc ngày đêm… Giờ tôi chỉ có duy nhất một cách này thôi, chính các vị vua của Tân Lang cũng từng làm phép này, tại sao tôi không được thử?”
Từ phía đầu bàn, Tỏa Phong có thể thấy hai đứa út co rúm lại theo từng lời Diễm Dương nói. Vẻ mặt của những đứa lớn hơn cũng chẳng khá khẩm gì hơn. Chu Diên liên tục khều chân anh, bảo anh ngăn cuộc tranh cãi này lại. Hoài Hoan và Vũ Ninh liếc nhau với sự bối rối rõ rệt trên mặt – những điều cô nói đều rất hợp tình hợp lý, nhưng dẫu sao… Đó vẫn là một trò ma thuật.
Bài học đầu tiên của các Quốc Tử khi tới Quốc Tử Giám này là phân biệt ma thuật với tiên thuật. Năng lực thao túng lửa của hoàng thất Tân Lang là thừa kế từ Hỏa Thần, đó là tiên thuật, thứ phép thuật cao quý và thuần khiết nhất trên đời. Còn ma thuật lại là một câu chuyện khác.
“Cái giá của việc dung túng cho ma thuật lộng hành còn chưa đủ rõ với cô em sao? Cô em ngây thơ tới mức tôi thấy tội nghiệp luôn đấy!”
Diễm Dương tức tới nỗi bật cười:
“Anh nên thấy tội nghiệp cho chính mình. Nếu tôi nhường cho anh năm nay, kết quả sẽ là gì nào? Liệu anh có biết anh muốn làm gì không? Anh sống ngày hôm nay y hệt ngày hôm qua, chưa từng nghĩ về tương lai; anh tỏ vẻ nôn nóng muốn đuổi kịp người khác chỉ vì anh không muốn bị coi là thua thiệt thôi, chứ anh nào có mục tiêu hay lý tưởng vĩ đại gì đâu! Các anh lớn đều làm đúng cái mà họ đã luôn hướng tới, tôi cũng sẽ như vậy – còn anh? Anh sẽ chẳng tiến bộ gì hơn cái bộ dạng thảm hại bây giờ đâu. Cố gắng để làm gì nữa?”
Nhật Nam mỉa mai:
“Cô em đọc tôi như một cuốn sách, tôi cũng biết chính xác điều cô em đang nghĩ thôi. Cô em bất chấp như vậy chẳng qua là vì sợ nếu không bấu víu lấy tình cha con với phò mã, cô em sẽ có ngày bị vứt trở lại cái chốn người cứu cô em ra…”
“Nam!”
“Mày điên rồi…”
“Anh có thôi đi không?” Vũ Ninh lớn tiếng hòng át cậu đi.
Cậu vẫn gân cổ nói:
“Cô em sẽ mãi mãi sống trong sự sợ hãi bị bỏ rơi đó thôi! Không có quyền lực nào đủ để cô em thấy yên tâm đến cuối đời hết – đây là một vòng luẩn quẩn, tôi nói cho mà biết, cô em sẽ không bao giờ ngừng đi tìm kiếm quyền lực, và cho dù có được tán thưởng bao nhiêu, hay yêu thương bao nhiêu, cô em cũng sẽ thấy bất mãn. Cái kết của cô em sẽ là, và chỉ có, sự cô độc mà thôi.”
Lời nói không còn tác dụng nữa. Tỏa Phong đẩy ghế dậy, đi sang, kéo ngược Nhật Nam ra sau. Phía bên kia, Chu Diên cũng đang làm điều tương tự, y đứng chắn trước mặt Diễm Dương, đưa lưng về phía anh. Tất cả các Quốc Tử đều đã đứng dậy.
Anh nghe Chu Diên đang an ủi em gái. Nó không đáng đâu. Tỏa Phong nghĩ điều tốt nhất bấy giờ là đánh cho thằng nhãi này một trận rồi cấm cả hai đứa đi săn luôn cho lành.
Cuối cùng, Diễm Dương dụi mắt, bỏ về phòng.
Nhật Nam cũng chạy ra khỏi phòng ăn, Hoài Hoan chạy theo sau cậu.
Đó là đêm duy nhất tòa Quốc Tử Giám chìm trong sự im ắng nặng nề. Chúng chưa từng lớn tiếng thế này bao giờ – lôi hết nỗi đau của đối phương ra rồi nhục mạ nó. Những cuộc tranh cãi trước chỉ quanh quẩn trong chuyện mày ngáy ồn quá tao không ngủ được, hoặc ai lấy đồ ai mà không xin phép.
Tỏa Phong với Chu Diên đưa mắt nhìn nhau, thở dài bất lực.
⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆
Màn đêm tịch mịch.
Tiếng đàn theo gió bắc thổi đến bên tai Tỏa Phong, nghe như lời khóc than lại như thở dài, nhất thời không đoán được, anh chỉ đành kéo rèm cửa sổ lên, nhìn vị cầm sư ngồi bên cái bàn thấp. Bốn mắt ngó nhau, dường như có vô vàn điều muốn nói, lại không cần thốt ra lời nào.
Trước giờ, họ đã luôn là vậy.
Tỏa Phong leo cửa sổ vào, trong phòng tối om, chỉ có ngọn đèn trên bàn là nguồn sáng duy nhất, chiếu rọi gương mặt vị cầm sư nọ. Tóc y đen như màn đêm, màu mắt nhạt tựa giọt trăng, dung mạo đẹp như ngọc quý. Ngón tay thon dài lướt qua dây đàn nguyệt ôm trong lòng, giai điệu là vô vàn tâm sự trút vào những hò xự xang xê cống đó. Chu Diên thấy anh vào phòng mình bằng cách thức lỗ mãng đó cũng không ý kiến gì, rất tự nhiên mà nhích vào một chút, nhường chỗ cho anh. Tỏa Phong ngồi xuống cạnh y.
Vị cầm sư tiếp tục đàn, anh nghiêm túc lắng nghe. Khúc nhạc dừng lại, anh bèn nói:
“Cậu đàn sai rồi.”
Chu Diên thích âm luật, từ bé đã mò đến chỗ các cầm sư trong cung học hỏi, nào sáo trúc nào đàn tranh, nào đàn nhị nào trống cơm, không món nào là không thành thạo. Y biên soạn nhiều điệu nhạc, thường trình diễn trong những buổi lễ tết, cúng tế, nhưng riêng khúc ca vừa nãy, y chỉ đàn cho các anh em nghe. Tỏa Phong đã biết tới khúc nhạc này từ lúc nó mới là những nốt nhạc vô thưởng vô phạt. Nay khác đi dù chỉ một nốt, cũng không lý nào không nhận ra.
Nhưng Chu Diên lắc đầu:
“Không hề.”
“Sao tớ cảm giác nghe khác mọi ngày thế nhỉ?” Tỏa Phong thắc mắc.
Y điềm nhiên đáp:
“Thời thế thay đổi, khúc nhạc này cũng phải sửa lại thôi, thế mới gọi là hợp tình hợp cảnh. Giống như Nhật Nam với Diễm Dương hồi nãy vậy.”
Anh lườm y, rồi quay mặt đi, hừ một tiếng. Chu Diên thì không buồn ngó anh. Y vặn đèn cho sáng lên rồi đặt ngang đàn nguyệt lên bàn, vặn lỏng trục dây rồi tháo hẳn dây ra, thay dây mới vào. Đoạn, y lại ôm đàn vào lòng, đầu ngón tay vê trên dây đàn, lắng nghe âm sắc, theo đó chỉnh độ căng của trục.
Tự dưng Tỏa Phong thấy mỏi mắt, bèn bảo Chu Diên:
“Đừng chỉnh nữa, để sáng mai rồi làm, kẻo hỏng mắt bây giờ.”
“Anh biết là tôi không cần đèn mà.”
“Ừ thì thế…” Anh chồm sang, nhẹ nhàng chạm vào tay y, “Nghe lời tớ một hôm xem nào.”
Vị cầm sư dừng tay, cũng nhìn anh.
“Cậu nghĩ tụi nó giận nhau thật, hay là…”
Tỏa Phong nhắc chuyện hồi nãy, băn khoăn. Cậu thở dài, nói:
“Thằng Nam với cái Dương đều là bọn cứng đầu cả. Chúng nó không phải tôi với anh. Có điều, cũng không thể nói Nhật Nam giận vô cớ được… sao cái Dương lại nghĩ đến chuyện dùng máu tươi của hổ dữ để làm phương thuốc cho phò mã? Đó là phép phù thủy cơ mà.”
Tỏa Phong nhún vai, đáp:
“Có lẽ bằng một cách nào đó… cậu hiểu ý tớ không, con bé vẫn có linh tính với những thứ ma thuật này. Đâu phải tự dưng mà trước giờ chỉ có đàn bà con gái là kế thừa được phép phù thủy.”
“Ý anh là dòng máu Tân Lang định sẵn chúng ta sẽ luôn hướng về điều đó?”
“Ý tớ chính xác là như vậy – tớ không ngại nói điều đó đâu.”
Chu Diên hít một hơi lạnh, bất giác ngó ra ngoài hiên. Nhưng Tỏa Phong đỡ bầu má y kéo về. Cây đàn nguyệt rơi ngang giữa đùi họ. Vị cầm sư khẽ rủ mi, ánh mắt nửa phân vân nửa lo lắng.
“Tớ chưa bao giờ tin rằng cách duy nhất để trả thù cho hoàng thất là tận diệt phù thủy trên mảnh đất này. Cậu biết là cậu cũng nghĩ thế.”
“Anh điên rồi.” Chu Diên rít khẽ, “Lỡ như chúng vẫn còn…”
“Cậu nghĩ lúc nãy tớ ra ban công đứng hóng gió à?” Tỏa Phong bật cười, vỗ vỗ gò má lạnh ngắt của y, “Không sao đâu, tớ xua bọn chúng đi cả rồi.”
Bọn chúng là đôi tai và cặp mắt của các quan Túc Mộc, ẩn trong hình hài của những con ong mật vô hại. Giấm trộn với bột tỏi, rắc quanh nhà, tự khắc chúng sợ mà không dám đến gần. Nhưng trước khi tìm ra bí quyết này, Tỏa Phong với Chu Diên đã phải trả cái giá rất đắt. Y vẫn còn sợ sệt trước cảnh tượng những gì nói ra bị nghe được.
Tòa Quốc Tử Giám là một nơi biệt lập, không có nghĩa là người bên ngoài không biết được sự tình bên trong.
Ít ra ở đây vẫn đỡ hơn hoàng cung. Trong hoàng cung, chẳng có bức tường nào là đủ dày, không một cánh cửa nào là đáng tin cậy. Dù là một lời thì thầm cũng có thể bị phát giác.
Không được phép nhắc về gia đình trước đây. Tò mò về thế thái dân tình là điều cấm kỵ. Nói đỡ cho ma thuật hay phù thủy đồng nghĩa với những hình phạt khắt khe.
Những đứa nhỏ hơn không có đủ ký ức để bép xép, Tỏa Phong với Chu Diên thì khác. Anh đã mười một tuổi khi được đưa vào hoàng cung, y chỉ nhỏ hơn anh một tuổi. Anh còn nhớ mình từng sinh sống giữa những rừng cây hoa ban bát ngát, đồi trải dài đến cuối chân trời, gió lộng mang theo tiếng kèn môi. Còn Chu Diên nói quê y ở vùng sông nước, ở đó người ta không cưỡi ngựa hay đi xe, mà chèo thuyền. Một chiếc thuyền con có thể đi đến bất cứ đâu, có thể chở bất cứ thứ gì.
Khi còn bé, họ chẳng thể nói về điều gì khác ngoài quê hương. Họ biết cha ruột của mình, các vị tướng quân anh dũng, đã qua đời. Mẹ họ vẫn còn sống. Họ đã bị đoạt khỏi vòng tay của người mẹ, đưa đến đây với mỹ danh nghĩa tử, thực chất là con tin.
Phò mã thường xuyên vắng mặt, người đi khắp nơi để thiêu đốt đền miếu và lùng sục đến sợi tóc cuối cùng của giống nòi phù thủy. Trong cung, lão thái giám già nắm hết mọi quyền hành – Tân Lang không có lệ dùng hoạn quan, lão là thân tín được phò mã đem từ Túc Mộc sang. Những đứa nào ngoan ngoãn sẽ được thưởng. Còn bọn “ăn cây táo rào cây sung” như hai người họ thì chỉ có nước bị tống vào phòng tối, với cái bụng đói và cổ họng khô rát, cho đến khi chịu đầu hàng, hứa sẽ ngoan ngoãn ngậm miệng lại vĩnh viễn.
Chu Diên bắt đầu học đàn từ đó. Để trút những nỗi lòng không thể giãi bày. Để gửi gắm thứ tình cảm không được phép tồn tại. Tỏa Phong thì học cách lắng nghe tiếng đàn của y.
Nên họ hiểu Diễm Dương hơn những đứa khác. Họ đã từng là Diễm Dương, đứa trẻ bất lực trong biển chỉ trích và buộc tội ấy. Tỏa Phong còn nhớ phải đến lúc Diễm Dương được đưa đến chỗ họ, phò mã mới ở lại luôn trong cung, và các quan Túc Mộc kia dần im lặng. Những bóng áo gấm trắng tựa hồn ma ấy vắng dần, cho tới một lúc anh giật mình ngước lên và nhận ra họ không còn ở cạnh các Quốc Tử nữa. Họ bị đẩy ra ngoài, nhận thay phò mã cái trách nhiệm tiêu diệt phù thủy, còn người thì thay thế họ.
Gông cùm trên cổ Tỏa Phong với Chu Diên tưởng như đã được gỡ ra, nhưng bên cạnh phò mã vẫn còn một vị phải dè chừng.
Vị này là quân sư đắc lực của phò mã, vốn là thái giám thân cận của người hồi còn là hoàng tử ở Túc Mộc, sau thảm án năm Kỷ Sửu thì được phái sang phò tá. Ông ta nuôi những con ong có thể truyền lại mọi lời nói và chữ viết cho mình. May mắn là chúng không hiểu âm luật, nên hai người vẫn còn một chút hy vọng nhỏ nhoi.
Khúc nhạc Chu Diên vừa đàn là một hy vọng như vậy.
Tỏa Phong áp môi mình bên tóc mai y, lời nói như nài nỉ, tay vòng qua ôm siết lấy vai vị cầm sư:
“Đừng sửa khúc nhạc này. Xin cậu đấy.”
Trong tòa Quốc Tử Giám này, hay đằng sau những bức tường cung điện, âm nhạc của Chu Diên là thứ duy nhất giống với tiếng gió thổi trên đại ngàn mà Tỏa Phong còn nhớ được.
Thời thế có thể thay đổi tùy thích, anh kệ xác nó, nhưng thứ này… Chỉ riêng khúc nhạc này là không thể.
Chu Diên tựa cằm bên vai anh, khẽ gật đầu. Đêm đó, anh ngủ lại phòng y. Mái tóc dài của y thơm một mùi hương bạc hà và vỏ bưởi, xõa tán loạn trên gối, vài lọn tóc rơi gần mũi Tỏa Phong. Anh lặng lẽ hít sâu, bỗng thấy lòng êm ái hơn.
“Anh có tâm sự gì sao?”
Tỏa Phong trở mình, nhìn lên trần nhà tối om.
Người bạn của anh tất nhiên là không hài lòng với sự im lặng đó. Y quay mặt Tỏa Phong sang nhìn mình. Giữa màn đêm, bằng một cách thần kỳ nào đó, đôi mắt nâu của y vẫn lấp lánh sáng. Y lướt mấy ngón tay khẳng khiu thoáng qua những mảng da nham nhở chi chít sẹo lồi trên mặt anh. Tỏa Phong bị chúng sau một tai nạn lúc anh còn nhỏ. Vết thương khiến anh ốm nặng, mà mẹ anh cũng mất sau đó không lâu, anh chẳng còn ký ức gì về nó nữa.
“Có chuyện gì mà anh không nói được với ai…” Chu Diên thì thầm, đôi mắt đẹp cụp xuống, “Kể cả tôi?”
“Không phải tớ muốn giấu cậu.” Anh nói, “Nhưng chuyện này chính tớ cũng chưa chắc chắn, sợ nói ra rồi lại khiến cậu bận lòng.”
“Rốt cuộc là chuyện gì mới được?”
Khi phò mã đổ bệnh hồi hai tháng trước, quan trường rúng động. Có người nói phò mã đổ bệnh vì lao lực chuyện triều chính, cũng có người nói trong kinh thành có kẻ làm phép phù thủy, ếm bùa nguyền rủa, mưu tính hãm hại phò mã. Với tin tình báo từ những con ong mật, lão thái giám triệu tập đoàn binh áo gấm trắng để bắt con gái nhà thị lang, còn những vị quan người Tân Lang thì xôn xao bàn tán chuyện lập trữ quân đề phòng bất trắc.
Một vị Giám Quốc Quân.
Tỏa Phong nói:
“Huyết mạch hoàng thất đã tận, các hạ tạm thời cai quản giang sơn này không thể lâu dài, sớm muộn gì cũng cần người lên thay. Tân Lang coi trọng con gái nhưng cũng có tục lệ cho con trưởng thừa kế; tớ vừa là người lớn nhất trong số chúng ta, vừa là hậu duệ của Hoài Viễn tướng quân đứng đầu bốn vị quốc công lẫn Thất Đẩu Tướng. Các vị đồng liêu với tớ đã nói… tớ có khả năng đó.”
“Tôi cũng không biết ngoài anh ra thì còn ai xứng đáng hơn.” Chu Diên chân thành nói, “Nhưng anh phải cẩn thận. Với thân phận và địa vị của anh bây giờ, những người chủ động kết giao với anh đều có mục đích riêng của họ, được mấy người thật lòng lo nghĩ cho tương lai Tân Lang? Đừng để bị cuốn vào âm mưu tính toán của họ, Phong à.”
“Mình nhớ rồi.”
⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆
Gia Hinh không tài nào ngủ được.
Thằng bé đã lăn lộn trên giường suốt một canh giờ rồi. Khi các anh em chào nhau về phòng, nó cũng giả vờ đóng cửa, thổi tắt đèn làm như đã ngủ. Đến giữa canh hai, thấy ngoài hành lang đã im ắng, Gia Hinh bèn mò sang phòng Diễm Dương. Nó xỏ dép và cầm theo đèn dầu, thử gõ cửa một lần, rồi hai lần. Đến lần thứ ba, tiếng chị vọng ra:
“Đi chỗ khác đi.”
Nó vội nói:
“Chị ơi, em đây mà.”
“Hinh?” Diễm Dương ngờ vực, “Em sang đây làm gì?”
“...Em sợ chị buồn. Em vào được không?”
Khoảng thời gian giữa lúc nó hỏi câu đó tới khi chị mở cửa dài tưởng như vô tận. Ánh đèn lập lòe từ cây đèn của Gia Hinh rọi sáng một nửa gương mặt Diễm Dương, ngay tức khắc, nó thấy mắt chị sưng húp còn mũi chị ửng đỏ. Nó vội vã đặt cây đèn xuống cái bàn nhỏ cạnh cửa rồi ôm lấy chị.
Ra giêng, Gia Hinh sẽ mười bảy tuổi, nhưng nó vẫn thấp hơn Diễm Dương nửa cái đầu. Chị vẫn có thể giả vờ như nó còn bé xíu và dụi mặt vào mái tóc xoăn mềm của nó. Hai chị em đứng vậy một lúc, đến khi nhịp thở của chị bình tĩnh lại, họ buông nhau ra, và Diễm Dương gượng một nụ cười ngại ngùng.
Gia Hinh khép cửa lại, đỡ chị ngồi xuống giường, còn nó ngồi dưới sàn cạnh chân chị. Phòng chị có một bia ngắm bị ghim chi chít mũi tên.
Nó đưa khăn tay của mình cho chị.
“Cảm ơn em.” Diễm Dương bật cười, vẫn còn nghe nghẹn ngào.
“Chị thấy đỡ hơn chưa ạ? Chị… định thế nào?”
Diễm Dương nói chị không biết.
“Nếu nhất quyết làm theo ý chị thì chuyện sẽ căng thẳng hơn nữa. Nhưng chị cũng không muốn theo ý anh ta.” Chị xoa đầu nó, giọng mềm hẳn đi, “Không nên để em nghe mấy chuyện này mới phải.”
Tới năm của mình, nó sẽ chẳng ham hố gì trò săn bắn này đâu, mà hẳn là mọi người cũng sẽ thông cảm với nó để cho nó miễn. Sinh thiếu tháng nên nó ốm yếu hơn tất cả các Quốc Tử khác, dăm bữa nửa tháng lại bệnh vặt, chuyển mùa thì không cúm cũng cảm. Quơ kiếm giương cung thôi thằng bé đã hụt hơi rồi chứ đừng nói tới đi săn chúa tể sơn lâm hay giao long thủy quái.
Những lúc nó đổ bệnh, Diễm Dương luôn là người kề cạnh chăm sóc nó. Gia Hinh đếm không xuể đã bao nhiêu lần nó thức dậy lúc nửa đêm, với cái đầu nhức ong ong cùng lớp áo ngủ ướt đẫm mồ hôi, và thấy chị ngồi bên cạnh mình, tựa vào đầu giường thiếp đi. Mái tóc gợn sóng của chị xõa dài xuống hết lưng và cọ vào tận má thằng bé. Chị mở mắt ngay khi nó gọi. Luôn luôn có một tách trà ấm đợi sẵn. Diễm Dương sẽ xoa đầu nó rồi hát ru dỗ nó ngủ lại. Thi thoảng nó thấy các anh khác, Chu Diên chẳng hạn, nhưng hầu hết thời gian chị là người chăm sóc nó.
“Chị không cần lúc nào cũng nghĩ cho em đâu ạ.” Gia Hinh ngước lên nhìn chị, “Cứ làm điều chị thấy tốt nhất thôi. Em sẽ luôn ủng hộ chị mà.”
Diễm Dương đã luôn cảm giác thằng út trông giống như một loài hồ ly. Chóp mũi nó hểnh, gò má nhô lên, đuôi mắt hơi xếch, chẳng khác nào con cáo thành tinh, mà lúc nào nó cũng có thể nói đúng những gì chị muốn nghe. Khi nó ngồi bên chân chị thế này, chị nghĩ mình sẵn sàng làm tất cả vì nó.
Chị gặp Gia Hinh khi nó còn quá nhỏ. Thằng bé là đứa duy nhất lúc đó – và tới tận bây giờ – nhỏ người hơn chị, có cái gì đó trong chị tự động muốn bảo bọc nó. Nó bám theo chị như một cái đuôi. Khi tất cả những người khác có mối bận tâm của riêng họ, chỉ có nó luôn tìm tới chị, giống như bây giờ.
Giá mà Nhật Nam bằng một nửa thằng bé này.
Nếu anh chịu dẹp cái tôi bự bằng con voi của mình đi một lúc thôi…
Nhưng chính chị cũng có làm được điều đó đâu.
Nhật Nam là một thằng khốn – chị nghĩ vậy từ những ngày đầu tiên họ gặp mặt. Chị ghét cái cách cằm anh lúc nào cũng hất lên trời. Chị ghét mái tóc bù xù như bờm sư tử của anh và cả lọn tóc anh cố tình để dài rồi tết lại, cứ đong đưa lủng lẳng bên tai. Chị ghét đôi mắt xếch cùng khóe môi cong cớn đó nữa. Chị ghét cả sự thật là bất chấp tất cả những điều đó, anh vẫn luôn có thể dễ dàng khiến chị cười, chỉ bằng một câu pha trò vu vơ.
Diễm Dương vò tóc thằng bé, gằn từng chữ một:
“Hứa với chị là lớn lên em sẽ không trở thành một thằng khốn như Nhật Nam đi.”
“...”
“Hửm?”
“Hai người làm lành đi mà.” Nó tha thiết nói, “Anh Phong với anh Diên có bao giờ xích mích như vậy đâu!”
Diễm Dương đảo mắt, một lần nữa nhận ra hai tuổi vẫn là một khoảng cách tuổi tác rất lớn.
“Em không hiểu đâu.”
Chị im lặng rất lâu. Nó tự hỏi trong đôi mắt màu ráng chiều đó đang chất chứa tâm sự gì. Nó tự hỏi tại sao chị luôn có nhiều suy nghĩ và bận lòng đến vậy. Cách bày trí trong căn phòng của chị là dường như không thay đổi gì hơn ngày đầu tiên chị dọn tới, cứ như chị chỉ là một vị khách tạm trú vậy. Cái giường này là thứ duy nhất trông giống vật sở hữu của riêng chị. Áo quần, khăn choàng áo khoác, bút giấy, găng tay và giày, mấy cuốn sách chị thích,... đều ở trên đây. Căn phòng của chị ở hoàng cung – nơi chúng quay lại mỗi dịp Tết đến xuân về – tràn ngập sức sống, đẹp đẽ hơn nơi này nhiều. Các Quốc Tử thì ngược lại. Chúng thích ở Quốc Tử Giám hơn.
Bỗng dưng, cửa phòng khép hờ bị đẩy vào. Gương mặt bí xị của Nhật Nam được ánh sáng từ cây đèn lúc nãy Gia Hinh đem theo soi rọi. Anh ngó Diễm Dương, chị đứng dậy.
“Cứ chọn con mồi mà cô em muốn.” Anh nói cụt lủn, “Tôi không quan tâm.”
Chị hé môi, rồi cũng chẳng nói gì nữa.
Gia Hinh ngó từ người này tới người khác, ấp úng:
“Vậy… hai anh chị… hòa nhé?”
Một cơn bão ập tới.
“Ai mượn mày xía vào?”
“Không phải việc của em.”
“Khuya rồi còn chưa về phòng ngủ?”
“Đi về đi.”
Mím môi ấm ức, nó lật đật đứng dậy, cầm theo cây đèn rồi lách qua người Nhật Nam để rời khỏi phòng Diễm Dương. Anh đóng cửa lại sau lưng nó. Bước đi khệnh khạng, anh đi cùng nó một quãng đường. Rồi tới trước cửa phòng mình – ngay bên cạnh phòng chị – anh quay qua hỏi thằng bé:
“Chị em mày… có nói gì tới tao không?”
Gia Hinh nhìn anh chằm chằm.
“Anh nghĩ có không?”
“Vậy chị mày nói gì?”
“Em tưởng anh không mượn em xía vào.”
Cổ anh đỏ như tôm luộc, xua tay đuổi nó đi. Cửa phòng anh đóng sầm lại một cách tức giận.
Gia Hinh không về phòng mình, mà nó xuống tầng bốn, nằm dài trên cái trường kỷ bằng gỗ lim.
Mây đen tối sầm trên trần nhà, chẳng có gì để chiếu sáng.