Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Ông nghê trở lại thành một linh thú vĩ đại, ngọn lửa trên người ông đẩy lùi phần nào u ám. 

“Chào mừng em tới Rừng Thiêng!”

Linh Như tự động nối thêm hai chữ "nước độc", và không ai có thể trách nó được. Bóng đêm, vốn là một thành tố quan trọng khi cần tạo bầu không khí kinh dị, hoàn toàn không có đất diễn ở đây. Tự thân nơi này đã mang một cảm giác điêu linh hãi hùng. Những cây cổ thụ với bộ rễ vĩ đại chẳng khác nào trăn bò trườn trên mặt đất. Rắn rít treo mình vắt vẻo trên cành, lè cái lưỡi chẻ đôi của chúng xuống. Khi Linh Như ngước lên, hàng chục đốm sáng chớp tắt trên màn đêm đó và tiếng cú kêu đi liền theo sau. Gió dường như cũng khắc nghiệt hơn ở dưới xuôi, con bé nghĩ mình nghe ai đó đang gào thét. Nó nhích người lại sát rạt bên Lan San. Y bật cười, để con bé túm lấy tay áo mình. 

Ở cuối con đường mòn là một ngôi đền, bắt đầu với mười hai bậc thang thấp, có ba cổng lớn, sơn đã phai, phía trên cổng chính có treo biển ngạch đề bốn chữ “Vĩnh Ký Thiên Ân”, hai câu đối chạy dọc hai bên cổng, viết:

Tiên hữu hỏa, thổ, kim, thủy, mộc. 

Hậu sinh thiên, địa, khí, giang, hoa.

Có người đã đợi sẵn ở cổng bên trái.

Nói ra nghe hơi buồn, nhưng Linh Như không nhận ra Tầm Phương ngay lập tức. Nhớ nhung và cảm thấy thân thiết với cô bé là một chuyện, còn tập làm quen với gương mặt thiếu nữ này thay vì dáng vẻ trẻ con mà nó đã biết từ trước là một chuyện hoàn toàn khác.

Ít ra, nụ cười của cô vẫn hệt như trước, nốt ruồi duyên dáng trên chóp mũi cũng vậy. Con bé nắm lấy bàn tay đưa ra sẵn của Tầm Phương.

“Mình đợi bồ nãy giờ!” Cô cười híp mắt, kéo tay bạn, “Nào, mình dẫn bồ đi một vòng.” 

“Các em cứ đi trước.” Lan San nói, “Tôi cất đồ cho em Như đã. Chẳng mấy khi tôi ngủ lại đây, Như ở luôn phòng tôi nhé.”

Không phải một câu hỏi. Linh Như còn chưa kịp thấy ngại thì y đã biến mất rồi. Nó đành quay sang cô bé Thiết Phách Sư:

“Lan San có vẻ thú vị.” 

Hai đứa vừa đi vừa nói chuyện. Hóa ra trước khi Chúc Thiên Các của công chúa Xích Anh được thành lập, người ta chỉ biết tới có bốn loại phù thủy: Vọng Thiên Sư, Văn Địa Sư, Thiết Phách Sư và Vấn Thánh Sư. Mãi sau này, bà Nguyệt Hằng mới phát hiện một gia đình phù thủy sống du mục nay đây mai đó sở hữu ma thuật khác hẳn. 

Những người này thờ Tam Hồn, có khả năng ảnh hưởng trực tiếp lên linh hồn con người, khống chế nhận thức của họ. Chính vì năng lực này nên họ đã sớm lập lời thề với các vị thần là sẽ không kết hôn và chỉ sinh con gái để tiếp tục hương hỏa thờ phụng, chứ tuyệt đối không chia sẻ tri thức cho ai. Qua nỗ lực thiết tha chiêu mộ của Chúc Thiên Các – và trời mới biết liệu đức vua có nhúng tay vào gây áp lực hay không – gia đình này đồng ý gửi một đứa con gái đến tham gia nghiên cứu ma thuật 

“Sau khi cô lấy chồng và hạ sinh Lan San, gia đình này đến đón y về.” Tầm Phương kể, “San được hai tuổi thì thảm án Kỷ Sửu xảy ra, các phù thủy bị truy đuổi khốc liệt, họ mới quyết định gửi lại San cho nhà cha của y. Cha y cẩn thận, không muốn bất cứ ai hoài nghi con mình, nên từ nhỏ đã cải trang cho y thành con trai. Nhưng ông cũng chẳng thể xóa bỏ mối thù giết mẹ của y. Năm San bảy tuổi, y tự tìm được tới điện hạ chỉ thông qua vết tích tiên thuật trên đường ngài đi – trong tất cả chúng ta, có lẽ y là người sở hữu nhiều tiềm năng nhất.” 

Nghe chuyện, nó càng nể phục Lan San. Lại nghĩ về bản thân, con bé ước gì nó đã dũng cảm hơn. Giá mà sự dịu dàng của dì Bích không ru nó ngủ say trong một giấc mộng dài. Nếu như nó không nuôi hy vọng rồi đợi tới tận khi nhận ra nó chỉ đang tự huyễn hoặc mình mới chịu rời đi…

Vào trong rồi, Linh Như thoạt đầu còn không dám nhìn lung tung, còn Tầm Phương thì cứ chỉ nó, thuyết giảng chỗ này chỗ kia là cái gì, dùng để làm gì. Thế nó mới biết bên trái cổng đền có một khu nhà là chỗ ở của ông nghê, còn bên phải là chuồng ngựa.

Ông nghê từ nãy giờ đi theo con bé giờ trở lại đoàn tụ bên người nhà.  

Nghê là người canh giữ bí mật của hoàng gia. Kẻ hầu cận trung thành nhất, có thể nói như vậy. Sau thảm án mười sáu năm trước, gần như tất cả ông nghê đều đã bị sát hại. Một số ít trốn thoát được thì lưu lạc chốn Rừng Thiêng cho tới khi công chúa Xích Anh trở lại  đây hồi sáu năm trước.

“Điện hạ đã tìm tới mình sau khi mẹ Chu Anh mất, nhưng chính ngài lúc đó cũng không có chỗ nào để đi. Các vị thần đã báo mộng mách bảo ngài trở về nơi này. ”

Vị trưởng họ thứ mười hai của dòng dõi Hỏa Thần đã xây nên ngôi đền này như một nhà thờ tổ. Nói là đền, thực chất rộng bằng cả một tòa thành. Gần chuồng ngựa còn có một bãi đất trống rất rộng để tập kỵ xạ. Nghe tiếng vó ngựa, hình như vẫn còn người ở đó.

“Chị Hà đấy.” Tầm Phương bảo, hai đứa đứng xa xa nhìn Yên Hà phi ngựa quanh sân.

Mái tóc đen dày tết thành hai bím đuôi sam tung bay sau đầu, cô gái trên lưng ngựa ngồi vững, tay không cầm roi cũng chẳng có yên cương. Con ngựa càng là một bậc tuấn mã. Bốn chân săn chắc, bộ lông mượt mà tưởng chừng có thể phản quang. Dưới ánh trăng rằm bàng bạc, xiêm y của Yên Hà như được dệt nên từ những giọt trăng, diễm lệ đến nỗi không thể miêu tả bằng lời. 

Linh Như tròn mắt.

“Mình không ngờ! Trông chị ấy thanh nhã vậy mà!”

“Lâu rồi mới nghe có người bảo chị Hà thanh nhã đấy.” Cô bé cười lớn, “Từ bé chị ấy đã năng động rồi. Cha chị Hà là thầy dạy đức vua. Ông nghiêm lắm, nhưng ít khi ghé thăm, thành ra chị ấy cứ ngoan ngoãn ngồi đọc sách được vài hôm là lại chạy đi lung tung. Văn Địa Sư mà, có Thổ Công bảo hộ, Rừng Thiêng cũng chẳng cản bước được chị ấy.”

Nói rồi, cô dẫn Linh Như đi tiếp. Bên cạnh bãi tập kỵ xạ vẫn còn một thao trường nữa. Cạnh đó là một khu tách biệt dựng hai dãy nhà năm gian, Tầm Phương bảo là chỗ của các anh nghĩa quân. Công chúa Xích Anh chiêu binh nhiều năm, dưới trướng có tổng cộng tám trăm người, cách vài tháng lại luân phiên một trăm quân lên rừng tập luyện, còn lại vẫn ở thôn làng, có cận thần của công chúa làm trung gian truyền tin.

“Con trai có trở thành phù thủy được không?" Linh Như bỗng thắc mắc, “Nếu một phù thủy chỉ sinh được độc thằng cu thì sao?”

“Hoàng thất Tân Lang không quy định phải là nam hay nữ mới được làm quan, nhưng bồ cũng thấy đó, họ không thể sử dụng ma thuật.”

Có một sự thật là Hỏa Thần không hề thích các phù thủy, ngài cho rằng họ thờ phụng sai người, và đáng lẽ họ nên chuyển hết sang thờ phụng mình. Nhưng ngài không thật sự muốn tự lộ diện và cưỡng ép lòng tin của con người như vậy, nên ngài đã kết duyên với một người phàm, rồi ban cho các hậu duệ của mình quyền năng Lửa Thiêng để có thể bảo vệ và cai trị con người. 

Sau khi dòng dõi Hỏa Thần lên ngôi, họ bắt đầu lấn át vai trò của các phù thủy trong dân gian. Nếu Vọng Thiên Sư có khả năng quan sát thiên tượng và xem ngày tháng, cầu nắng cầu mưa, thì hoàng thất lập nên Tư Thiên Giám; nếu Văn Địa Sư xem phong thủy, dựng đê đào hào, thì hoàng thất có Hà Đê Sứ và bộ Công để thay thế; nếu Thiết Phách Sư chữa bệnh và cứu hộ, hoàng thất cũng có Ngự Y Viện và lập trạm y tế ở từng địa phương. Họ đề cao Hỏa Thần hơn tất cả các vị thần khác. Các phù thủy từng được tôn trọng và kính nể dần bị đẩy ra ngoại biên, họ vẫn có thể tự do thực hành tín ngưỡng, nhưng hầu hết bỏ nghề, còn những ai tiếp tục thì chọn cách im lặng.

“Mình đoán phải có người từng thử và đã thất bại. Các phù thủy có cách để đảm bảo họ có ít nhất một người con gái.”

Trí tò mò của con bé nổi lên:

“Cách gì?”

“Xin bà Bảy Lưu, một trong mười hai bà mụ – các thần lo chuyện sinh nở. Có tổng cộng mười hai bà mụ: bà Tư Trần chú sinh, bà Tư Vạn chú thai, bà Chín Lâm thủ thai, bà Bảy Lưu chú nam nữ, bà Cả Lâm an thai, bà Cả Lý chuyển sinh, bà Cả Hứa hộ sản, bà Tư Cao dưỡng sinh, bà Năm Tăng bảo tống, bà Năm Mã tống tử, bà Năm Trúc bảo tử, và bà Ba Nguyễn giám sinh. Bà Bảy Lưu là thần chịu trách nhiệm cho việc nắn hình hài nam nữ. Năm xưa, lúc phân loại ma thuật, Chúc Thiên Các thống nhất không xếp những người thờ mười hai bà mụ vào nhóm phù thủy, vì đàn bà Tân Lang chỉ viện đến bà mụ trong thai kỳ. Hầu hết chúng ta đều có thể xin bà Bảy Lưu thay đổi giới tính của thai nhi theo ý muốn – gia đình có truyền thống thờ cúng thần linh sẽ xin con gái, còn nhà binh thì xin con trai. Ví như con trưởng của mấy đời quốc công đều là nam nhi.”

“Vậy… làm phép chỉ là xin các thần thôi á?”

Tầm Phương bật cười:

“Nếu chỉ đơn giản là thắp hương rồi nói, xin thần ban phép cho con, thì ai mà chẳng làm phép được! Làm phép còn cần kỹ xảo nữa.”

Cô chạm nhẹ lên đôi khuyên tai của Linh Như, đúng hơn là lỗ xỏ mà lúc nãy cô chữa cho con bé.

“Ví dụ, với vết thương nhẹ thế này, mình cần khử trùng và kích thích cơ thể bồ làm lành nó – phép của các thần Thôn Tặc và Phi Độc. Đồng thời, vì bồ đang hoảng loạn và bị đau, mình sẽ cần giúp bồ bình tĩnh lại, vậy nên mình viện vào các thần Thi Cẩu và Xú Phế, điều hòa hơi thở của bồ và làm bồ thấy an toàn hơn.”

“Bồ có đang làm vậy không? Khiến mình thấy an toàn ấy.”

Cô bé nháy mắt.

Họ đã đi qua khu nhà của các anh nghĩa quân. Tầm Phương chỉ về phía một tòa vọng lâu cao chót vót, giới thiệu:

“Đài Thiên Văn. Chị Huyên thường ở trên đó quan sát tinh tượng. Các vị Tứ Tượng không thích phù thủy xen vào chuyện nắng mưa của mình. Vọng Thiên Sư thờ các ngài, ít khi nào dám xin phép hô mưa gọi gió lắm. Họ chỉ tiên đoán trước thời tiết thôi.”

“Tiên đoán?” Linh Như hỏi, “Không chắc chắn à?”

“Mình nghe nói các vị Tứ Tượng hơi… khó tính.”

Hai đứa chụm đầu lại nói chuyện, trên cao bỗng vọng xuống một tiếng gọi lanh lảnh:

“Các cô thủ thỉ gì đấy?”

Tụi nó giật mình ngước lên.

Lúc nãy gặp, Linh Như đã có cảm giác Tình Huyên bí ẩn như màn đêm. Giờ nhìn chị đứng trên vọng lâu, cúi người bên lan can, nhìn xuống chỗ chúng, mái tóc dài như được sương mù nâng niu, cảm giác đó càng rõ ràng hơn nữa.

Tầm Phương chột dạ, vuốt dái tai của mình mà cười xòa, đánh trống lảng:

“Ngày mai có mưa không chị?”

Tình Huyên chẳng buồn đáp, như chỉ muốn trêu chúng vậy thôi.

Cô bé nói khi dẫn Linh Như đi tiếp:

“Nghe điện hạ bảo, hồi trước có nhiều Vọng Thiên Sư lắm. Dân mình chủ yếu sống bằng nghề nông mà. Sau này dựng nước, hoàng thất cho lập ra Tư Thiên Giám, làm lịch, chọn ngày lành tháng tốt, thông báo cho dân chúng, các Vọng Thiên Sư rỗi việc rồi nên có vài người bắt đầu chuyển sang làm Vấn Địa Sư.”

“Được đổi hả?”

“Cũng tùy nữa. Vọng Thiên Sư và Vấn Địa Sư có quan hệ mật thiết tới nhau, trên nguyên tắc, hai nhóm này có thể học phép của nhau. Mê Hồn Sư và Thiết Phách Sư đều làm việc trên con người, nên nếu muốn, mình với Lan San cũng có thể học phép của người kia.”

Linh Như trộm nghĩ, có vẻ như phù thủy không chỉ đơn giản là một lớp vỏ để thần thánh thể hiện quyền lực của họ. Quyền năng mà phù thủy có dường như lớn hơn thế – thậm chí là khống chế sức mạnh của thần linh.

 

⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

 

Năm trăm năm trước, Hỏa Thần kết duyên với một người phàm, từ đó ra đời hậu duệ là một dòng tộc á thần có khả năng điều khiển lửa. Dòng tộc này truyền tới đời thứ mười ba thì xuất hiện một người con trai ưu tú, pháp lực phi phàm không nói, còn là trang hào kiệt hiếm có. Mới hơn ba tuổi, ngài đã cưỡi ngựa bôn ba hàng trăm dặm; năm chín tuổi, tay không ngài đánh chết được hổ; lên mười hai tuổi, khắp vùng đồng bằng quanh sông Chước, không ai là không biết tới tiếng tăm của ngài. 

Khi đó, vùng đất này gồm nhiều bộ tộc cùng chung sống. Ở đồng bằng thì hậu duệ Hỏa Thần làm chủ, còn lại bốn bộ tộc mạnh nhất thì lần lượt sinh sống ở vùng biển phía đông, rừng già phía tây, sông nước phía nam và thung lũng phía bắc. Bốn vị tộc trưởng này hội họp lại, quyết tôn á thần lên làm chủ, cùng họp binh lực lại để giúp minh quân giành lấy giang san. Họ lấy sông Chước làm trung tâm đánh dần ra, sau ba năm chinh phục được thêm bảy bộ tộc nữa. 

Đến đầu năm Ất Dậu, bốn cõi quy tâm, mùa màng bội thu, lại có mưa sao băng kéo dài ba đêm liền, xét thấy là điềm lành. Người anh hùng nọ bèn lập đàn tế thần, lên ngôi vua, chia bờ cõi làm mười hai phủ, định phẩm trật quan lại, chế chữ viết, khuyến khích sự học, muôn dân an cư lạc nghiệp. Lúc đó ngài vừa tròn hai mươi hai tuổi. Vì vùng này nhiều cây trầu cau nên đặt tên nước là Tân Lang. Lãnh thổ Tân Lang rộng lớn bạt ngàn, là nơi đất lành chim đậu; phương tây dừng ở Rừng Thiêng, phương nam dừng ở đầm Hương, phương bắc dừng ở ải sông Vĩ.

Nhớ công phò tá của bốn vị tộc trưởng, đức vua lần lượt ban đất đai và tước vị cho họ: tộc trưởng phương tây phong Khai Quốc công, tộc trưởng phương nam phong Định Quốc công, tộc trưởng phương bắc phong Chấn Quốc công, tộc trưởng phương đông phong Vệ Quốc công. Tước vị này được truyền xuống mãi. 

Vào đời vị vua thứ bảy, hậu duệ của Khai Quốc công được vào cung làm bạn học với hoàng tử. Hai người trạc tuổi nhau, hằng ngày cùng đọc sách tập võ, ăn chung mâm, ngủ chung sập, thân hơn cả ruột thịt. Đến năm mười lăm tuổi, hoàng tử vào ở đông cung, còn thế tử thì nhận lệnh cầm quân đi bình định loạn lạc chốn biên cương phía tây. Sau này thái tử đăng cơ, thế tử cũng tập tước. Vua ban cho y danh hiệu Hoài Viễn tướng quân. Vị Hoài Viễn tướng quân này từ bé đã là người cương nghị, ít nói; càng lớn y càng ít trở về kinh thành, từ sau khi thành gia lập thất cùng con gái một tri phủ vùng núi thì ở lại luôn chốn biên thùy, nghe nói gia đình viên mãn, dưới gối có hai người con, đủ nếp đủ tẻ. 

Ngược lại với Hoài Viễn tướng quân, hậu duệ của Định Quốc công chưa từng rời khỏi kinh thành, mà trở thành đội trưởng đội hộ vệ cho đức vua, đi theo bảo vệ ngài từ lúc còn ở đông cung đến khi ngồi lên ngai vàng. Y là con nhà binh nhưng tính tình rất mực ôn hòa, lại tinh thông ngoại ngữ, thường được vua giao cho việc đón tiếp sứ giả nước ngoài. Đến tuổi cưới hỏi, vị này kết hôn với một cầm sư trong cung, sinh được một con trai. Vua ban danh hiệu Trung Nghị tướng quân. 

Lại nói dòng họ Chấn Quốc công, vinh hoa phú quý có thừa mà không biết dạy dỗ, con cháu ăn chơi trác táng, mấy thế hệ liền chỉ biết chơi bời lêu lổng, dẫn tới làm mất lòng hoàng thất, không còn được vua trọng dụng. May mắn làm sao mà thế tử đời này là một người có chí tiến thủ, thời trẻ mai danh ẩn tính đi tòng quân, chưa tới hai chục đã lập công lớn, áo gấm hoàn hương. Tập tước rồi, y mang sính lễ sang hỏi cưới con gái cả nhà Binh bộ thượng thư, người bạn thân từ thuở hàn vi của mình. Hai người ở với nhau có nghĩa có tình, vô cùng mặn nồng ân ái, rủi thay nhiều lần mang bầu thai lại chết non, hay sinh ra mà không nuôi lớn được, cuối cùng chỉ còn một mụn con trai duy nhất. Vì đức tính chí công vô tư nên vua ban cho danh hiệu là Liêm Minh tướng quân. 

Cuối cùng là Vệ Quốc công. Gia tộc này sống gần biển, trừ những dịp lễ Tết vào cung tham gia yến tiệc, nhận thưởng…  thì không bao giờ vào kinh. Tới đời này, thế tử cùng trang lứa với công chúa Xích Anh, lúc nhỏ thường xuyên được gọi vào hoàng cung bầu bạn, các phù thủy ở Chúc Thiên Các đều quen mặt y. Họ đều nghĩ sau này hai người sẽ thành đôi. Nhưng rồi công chúa lấy chồng, y cũng về quê, nhận con trai của người em gái quá cố làm con thừa tự. Từ khi y tập tước, vùng biển của Tân Lang luôn yên bình, không có chuyện cướp biển quấy phá hay buôn lậu nữa, được vua ban danh hiệu Anh Liệt tướng quân. 

Ngoài hậu duệ của bốn vị khai quốc công thần, hàng ngũ Thất Đẩu tướng còn ba vị tướng quân nữa, tuy không xuất thân thế gia, cũng là những trang anh hùng tuấn kiệt. 

Vị đầu tiên xuất thân áo vải, nhà làm nông nhưng vẫn được cho học hành tử tế, mười ba tuổi đã đậu kỳ thi Hương, sang năm đậu luôn thi Hội. Mùa xuân mười lăm tuổi, y vốn định cắp lều chõng lên kinh thi Đình, không ngờ năm đó mẹ cha chẳng may qua đời, y phải ở nhà lo ma chay nên lỡ mất dịp. Đức vua thấy thiếu mất một thí sinh, cho người đi tìm, biết nguyên cớ rồi mới khen đây là người có tấm lòng hiếu thảo, truyền lệnh cho y mãn tang rồi thì lên kinh yết kiến. 

Ba năm sau, cậu học trò này khăn gói lên kinh, giữa đường gặp một công tử sang trọng đang bị lũ chợ búa say xỉn đánh đập, xông vào giải vây. Hóa ra công tử nọ chính là đức vua cải trang vi hành. Vua thấy y không chỉ có tài văn chương mà còn sở hữu võ nghệ cao cường, bèn ban cho danh hiệu Trí Dũng tướng quân, phong làm thái bảo. Lúc kề cạnh vua, y để mắt tới một cung nữ bưng trà, cô cũng có lòng với y, bèn xin hoàng hậu nối duyên cho hai người. Rủi thay, hạnh phúc không được bao lâu, tướng quân đã qua đời, phu nhân vì quá đau buồn nên sinh non rồi cũng đi theo chồng, để lại một đứa con trai. 

Vị thứ hai từng đi theo Hoài Viễn tướng quân chinh chiến ở biên thùy, nhiều lần lập công lớn, còn có lần suýt nữa bỏ mạng để giải vây cho chủ. Hoài Viễn tướng quân nhớ ơn cứu mạng nên dâng tấu tiến cử y, vua khen ngợi, ban cho danh hiệu Đức Uy tướng quân. Khi Hoài Viễn tướng quân an cư lạc nghiệp ở vùng núi, quyết dành cả đời trấn thủ biên quan, Đức Uy tướng quân vốn muốn tiếp tục phò tá, nhưng vua sai y đi bình định một toán thổ phỉ ở phía Nam, nên đành từ biệt từ đó.

Nói tới vị tướng quân cuối cùng, ấy chính là tên thủ lĩnh của toán thổ phỉ mà Đức Uy tướng quân được lệnh bình loạn. Vốn phương nam là chốn nhiều sông, nói hoa mỹ là thiên nhiên tươi tốt, non nước hữu tình, còn nói tiêu cực chút thì khí hậu ẩm ướt nóng bức, thú dữ hoành hành, dễ xảy ra dịch bệnh. Từ triều đình ở trung ương tới tri phủ, tri huyện ở địa phương nhiều lần nhắm mắt làm ngơ cho dân tự sinh tự diệt. Bức xúc quá, các thanh niên trai tráng họp lại để khởi nghĩa, người đứng đầu tự xưng Phục Nam đại vương. Lúc đầu, triều đình chỉ cho rằng đó là một băng giặc cỏ, không làm nổi việc lớn, nhưng chỉ qua vài tháng mà đã mất hết ba phủ ở phương nam vào tay họ, đành phải điều binh đi dẹp yên việc này. 

Đức Uy tướng quân biết rõ sự tình rồi, bèn cải trang thành sứ giả, đích thân tới lều giặc để dụ hàng: y hiểu chí lớn và tấm lòng của Phục Nam, không mong một trang anh hùng như vậy phải mang tiếng phản tặc, hứa sẽ đích thân tâu lại tình hình phía nam với vua, chắc chắn chỉ trong một năm, nơi này sẽ được thay đổi. Phục Nam nghe vậy thì đồng ý đình chiến. Quả nhiên một năm sau, triều đình nới tô thuế, phái thêm lính tới canh tuần, "thay máu" các tri phủ tri huyện, dựng nên nhiều trạm y tế để kịp thời cứu chữa cho người dân, giảm bớt phụ thuộc vào các Thiết Phách Sư. Vua tán thưởng nghĩa khí của Phục Nam, ban cho y danh hiệu tướng quân. 

Về sau, Đức Uy tướng quân nên duyên với con gái một nhà bán rượu, hai người là đồng hương. Còn Phục Nam tướng quân kết hôn với con gái của người thầy đã dạy võ cho mình, mở một võ đường ở gần kinh thành, sống yên ổn qua ngày. 

Năm Đinh Hợi, công chúa nhỏ chào đời. Người Tân Lang có câu "ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng", dù đã có hai vị hoàng tử trước đó, đức vua và hoàng hậu vẫn rất xem trọng nàng công chúa này. Vua cho đại xá thiên hạ, tổ chức các kỳ ân khóa, gia quan tấn tước, giảm thuế má cho dân. Các vị tướng quân lúc bấy giờ cũng được phong danh hiệu Thất Đẩu Tướng. 

 

⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

 

Các phù thủy của công chúa Xích Anh nghỉ ngơi ở tòa nhà bên trái khuôn viên đền. Tòa nhà có ba tầng, tầng trệt để sinh hoạt chung, tầng hai của các chị lớn, tầng trên cũng có hai phòng, Lan San nhường phòng của mình cho nó. 

Vào phòng, Linh Như thấy y đã mang hành lý lên lầu cho con bé. Túi da đựng váy áo để trên giường, hộp kim chỉ đặt ở bàn giấy sát cửa sổ. Tầm Phương ở ngay phòng bên cạnh. 

“San ít khi ngủ lại lắm.” Phương thấy nó cứ nhìn thì nói, “Tụi mình cũng ít gặp y, chỉ thi thoảng y về đưa tin cho điện hạ mới ăn cùng một bữa cơm thôi.”

Đêm đầu tiên này, con bé không muốn ngủ một mình. Canh tư rồi mà nó tỉnh rụi, mắt mở thao láo, ngồi ở cuối chân giường của Tầm Phương với một con mèo mướp cuộn mình lại trong lòng. Cái đuôi của con mèo vểnh lên, đung đưa một cách nhàn nhã. Linh Như gãi cổ cho thì con mèo kêu gừ gừ. Hàm răng nhọn nhe ra gặm cổ tay con bé.

“Em miu này ngoan thế.” Linh Như vùi mặt vào lông mèo hít hà, “Em tên gì hở miu?"

Cô bé đáp:

“Phục Thí.”

“Hả?” Con bé giật mình ngẩng mặt lên, “Đừng nói là…”

“Một trong Thất Phách mình thờ đấy.” Tầm Phương chun mũi cười, “Bình thường ẻm khó tính lắm, không chịu để ai ôm đâu. Chắc là thích bồ rồi.”

“…Thần linh mà mình kêu bằng em có được không?”

“Tùy thần. Đừng gọi Tứ Tượng là bất cứ danh xưng nào khác ngoài ngài. Chị Hà kể là Thổ Công với Hà Bá thích được kêu là chú bác như người trong nhà vậy. Còn Tam Hồn của Lan San bí ẩn lắm.”

“Điên thật.”

“Nhỉ? Nhưng có thể họ thích vậy. Đó là mấu chốt của việc xây dựng mối liên kết với các thần.” Tầm Phương ngồi xuống giường, bế một con chó lông xù màu muối tiêu, cái lưỡi nó thè ra đầy phấn khích, “Còn đây là Thi Cẩu.”

Con chó – Linh Như không biết có thật sự nên gọi như vậy không nữa – sủa mừng con bé. Nó chẳng thiết gì nữa, cười toe toét xoa đầu con chó.

“Các thần của bồ thì xuất hiện trong hình dạng thú cưng à?”

Tầm Phương gật đầu, ôm chặt Thi Cẩu, kể:

“Tước Âm là một con chim sẻ, Thôn Tặc thì là sâu – cách vài tuần lại biến thành bướm, rồi ngược lại – Phi Độc là rắn, Trừ Uế là heo, còn Xú Phế là gà. Bồ có thể hiểu tại sao chỉ có hai em này được ở trên phòng mình.” Linh Như nhún vai, công nhận, “Chủ yếu là phải canh chừng Tước Âm đừng ăn mất Thôn Tặc, và không để Xú Phế mổ mất Phi Độc. Trừ Uế thì dễ thương, không đụng tới ai hết – một em heo sữa hiền lành.”

“Xem ra mấy năm qua bồ sống rất tốt.” Linh Như kéo tay cô bạn, “Mình mừng lắm, Phương ạ.”

“Bồ thì sao?” Tầm Phương xích lại gần con bé, cau mày, “Mình biết mẹ kế bồ là người đàng hoàng, nhưng mình không biết gì khác nữa.”

“Chẳng có gì để kể đâu. Mình là một đứa con gái bình thường như bao đứa con gái khác, mình sống theo cách mà biết bao người đã từng. Đừng lo cho mình.”

Con bé khẽ vặn mình để nằm thoải mái hơn. Mùi thảo mộc trên tóc Tầm Phương nhuộm đầy vỏ gối. Đằng sau lưng cô bé, ngoài cửa sổ, Linh Như thấy vầng trăng lưỡi liềm tỏa hào quang nhàn nhạt. 

 

⋆⁺‧₊☽◯☾₊‧⁺⋆

 

Công chúa Xích Anh lấy chồng năm mười tám tuổi.

Trong cuộc kén rể ấy, người ưu tú nhất là hoàng tử cả nước láng giềng, tên Triệu Thiên. Chỉ nhìn qua chân dung thôi cũng thấy người này mắt phượng mày ngài, khôi ngô tuấn tú. Thời gian đó biên quan Tân Lang - Túc Mộc thường xảy ra việc tranh chấp. Đến mùa xuân năm Giáp Thân, triều đình hai nước quyết định giảng hòa, ngự giá đích thân tới ải sông Vĩ, chia lại ranh giới, nối cầu thông thương. Lần đó, đức vua gặp được Triệu Thiên, rất mực nể phục tài ăn nói và phong độ của vị hoàng tử này. Ngài cho rằng đây là người duy nhất xứng đôi với công chúa Xích Anh.

Trước khi ấn định mối lương duyên này, triều đình lẫn dân gian đã bàn tán xôn xao suốt nửa năm trời. Các quan chia thành hai phe: một bên phản đối dẫn đầu bởi Liêm Minh tướng quân Chấn Quốc công, cho rằng không nên hứa gả công chúa tới nơi đất khách quê người. Về lý, công chúa còn chức trách quan trọng ở Chúc Thiên Các. Về tình, một là tiên đế lúc sinh thời rất mực yêu thương công chúa, nếu giờ công chúa không thể thường xuyên cúng bái trong lăng tẩm thì sẽ thành tội bất hiếu; hai là phong tục hai nước khác biệt, ở Tân Lang người chồng sang ở rể nhà vợ, còn Túc Mộc thì ngược lại. Công chúa Xích Anh là người nữ đầu tiên được sinh ra trong dòng dõi Hỏa Thần kể từ ngày lập quốc đến nay, sao có thể sang làm dâu tha hương được? 

Một bên khác lại cho rằng, biên cương Tân Lang - Túc Mộc thường xuyên có binh loạn, dù đã có hòa ước năm Giáp Thân nhưng nếu công chúa kết thân với nước bạn thì sẽ thắt chặt tình cảm giữa hai bên hơn. Trung Nghị tướng quân Định Quốc công là người dẫn đầu phe này.

Thất Đẩu tướng bất đồng quan điểm là chuyện chưa từng xảy ra trước đây. Ngày nào lên triều, hai ông tướng quân cũng tranh cãi việc công chúa có cưới hoàng tử Túc Mộc hay không, thiếu điều muốn cầm hốt ngọc choảng nhau trước mặt vua. Mà Anh Liệt tướng quân, người thân thiết với công chúa nhất, lại chưa từng hé miệng nói một lời. 

Biết chuyện, lại nghe lời ngọt ngào của kế hậu, vua Túc Mộc bèn gửi ngay một bức thư trong đêm, tỏ ý sẵn lòng cho con trai sang ở rể.

Thu năm đó, hoàng tử Túc Mộc đi thuyền tới Tân Lang, đôi lứa kết duyên vợ chồng. Do hoàng thất chưa từng có tiền lệ tổ chức hôn lễ cho công chúa, nên để tỏ sự trọng thị, đức vua phong cho Triệu Thiên chức phò mã, lo việc xuất cung đi lại của vua, rồi ban hẳn ngọn núi phía bắc có ngôi đền thờ tổ Hỏa Thân khi xưa cho công chúa làm đất phong. 

Lúc đầu mới sang, phò mã còn chưa thạo ngôn ngữ, được chính đức vua dạy cho tiếng Tân Lang. Ai cũng khen phò mã xởi lởi dễ gần, thông minh sáng sủa. Có người còn cả gan bảo, nếu phò mã không cưới công chúa, ắt cũng có thể kế thừa giang sơn Túc Mộc.

Ấy thế mà đã làm vợ chồng nhiều năm, công chúa với phò mã lại chẳng mấy khi gần gũi. Người thì nhốt mình trong Chúc Thiên Các, người lại chôn chân cạnh đức vua, cả tháng không gặp nhau được mấy lần, nhiều năm trôi qua mà chẳng có lấy một mụn con. Về sau, Thất Đẩu tướng đồng loạt qua đời, công chúa đau buồn, càng không có lòng dạ nào gần gũi với chồng. 

Mùa xuân năm thứ ba sau khi kết hôn, vua Túc Mộc gửi thư tới, tỏ lòng nhung nhớ con trai con dâu, mong được đón con về chơi. Vua Tân Lang bèn ra lệnh hai người lập tức sửa soạn về thăm. Sáng ngày khởi hành, công chúa tới lăng tiên đế thắp một nén hương, hẹn qua nửa năm lại về lo việc nhang khói.

Ai ngờ hương còn chưa cháy hết thì thuyền đã gặp bão lớn.

Cả đoàn thuyền gặp nạn, các thuyền tùy tùng lật úp giữa đại dương, thuyền của công chúa cũng vỡ làm đôi. 

Một đôi vợ chồng ngư dân phát hiện ra có người con gái ngất đi trên bãi đá cạn bèn đưa về nhà chăm sóc. Công chúa hôn mê suốt ba tháng trời mới tỉnh lại. Hồi phục rồi, ngài lập tức trở về kinh. 

Nhưng cảnh ở đó mà người chẳng còn. 

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px
{
}