Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Áo Rách Ngụy Tây

Tấm tín bài

Sáng nay lính tuần đi xét phu.

Lão Câm nhìn thấy họ từ xa: hai thằng lính đội nón dấu, áo nẹp đỏ, một ông thư lại cầm sổ, đi dọc hàng phu đang xếp hàng lĩnh cơm. Mỗi người phu phải giơ ra một mảnh giấy nhỏ, gấp tư, có đóng dấu. Ông thư lại nhìn giấy, nhìn mặt, dò sổ, gật đầu. Người nào không có giấy thì bị kéo ra khỏi hàng, đứng riêng một chỗ, cạnh đống gạch.

Có ba người đứng cạnh đống gạch. Một người già, hai người trẻ. Hai người trẻ cúi gằm. Người già thì ngó nghiêng, như đang tìm đường chạy.

Thằng lính tuần đi qua chỗ lão nằm. Nó liếc lão một cái, cái liếc trượt qua như trượt qua một đống rác. Nó không hỏi giấy. Ăn mày thì không cần giấy. Ăn mày không phải là người trong sổ.

Lão nhắm mắt lại, và cổ lão tự nhiên thấy nặng, như vẫn còn đeo một cái gì đó.

 

Chuyến lụa năm Canh Tuất về đến Thị Nại vào tháng Chín. Lụa Bắc mềm, nhẹ, không chảy nước, không mọt, đúng như chú Hưng nói. Mão bán cho một chủ thuyền người Phúc Kiến ở Hội An được giá. Trừ tiền vốn, trừ thuế hai trạm, trừ tiền “góp chiến thuyền” mà năm ấy nhà buôn nào cũng phải đóng, hắn còn đủ trả chú Hưng tiền lãi bốn tháng, và dư ra chừng năm quan.

Năm quan, sau một năm trời.

Chú Hưng nhận tiền lãi, đếm, cất vào hộp. Chú không đòi gốc. Chú bảo không vội. Chú bảo sang năm anh Mão chở thêm một chuyến lụa nữa, lần này chở nhiều hơn, chú cho mượn thêm, gộp vào nợ cũ, kỳ hạn lùi lại. Mão về nhà, nằm tính suốt một đêm, và không tính ra được mình đang nợ chú Hưng bao nhiêu. Con số cứ trôi đi như cá trong nước đục. Hắn chỉ biết là nó không nhỏ đi.

Tết Tân Hợi, Liễu đã có mang được sáu tháng.

 

Mùng mười tháng Giêng, trống đình Thị Nại đánh ba hồi.

Người ta tập trung ở sân đình, đông hơn cả hôm mừng thắng trận. Ông thư lại của trấn đứng trên bậc đình, bên cạnh là ông Xã của bến và mấy ông chức dịch khác. Trước mặt ông thư lại là một cái bàn gỗ, trên bàn là một cái hòm sơn đỏ và một cuốn sổ dày.

Ông thư lại đọc một tờ chiếu dài. Mão nghe được một nửa, hiểu được một phần tư. Vua ra lệnh lập lại sổ đinh. Đàn ông từ mười tám tuổi đến năm mươi lăm tuổi, ai cũng phải về làng mình mà khai tên. Khai xong thì được phát một tấm tín bài. Tấm tín bài phải đeo bên mình. Đi đâu cũng đeo. Ai không có tín bài là dân lậu. Dân lậu bắt sung vào quân, hoặc sung làm phu.

Ông thư lại mở cái hòm sơn đỏ, lấy ra một tấm tín bài giơ lên cho mọi người xem. Đó là một mảnh giấy dày, bồi trên một miếng gỗ mỏng, to bằng nửa bàn tay. Trên mặt có mấy chữ to, đóng một cái dấu son vuông.

“Bốn chữ này là ‘Thiên hạ đại tín’.” Ông thư lại nói. “Lòng tin lớn của thiên hạ. Có tín bài là vua tin mình. Không có tín bài là vua không tin.”

Sân đình im phăng phắc. Rồi có tiếng xì xào. Ai đó hỏi đàn bà có phải khai không. Ai đó hỏi người ở làng khác đến bến làm ăn thì khai ở đâu. Ai đó hỏi lấy tín bài có phải đóng tiền không.

Ông thư lại trả lời câu cuối cùng trước. Không phải đóng tiền. Vua phát không.

Mão nghe câu ấy và thấy cái bụng mình thắt lại. Hắn đã sống ba mươi hai năm. Hắn chưa bao giờ thấy quan phát không cho ai cái gì.

 

Hắn phải về Bàu Sen khai, vì tên hắn có trong sổ làng Bàu Sen từ thời chúa, dưới tên cha hắn. Thằng Ngọ thì người bến, khai ở bến. Còn lão Tư Rựa thì không biết khai ở đâu.

Lão Tư Rựa không có làng.

Mão biết điều ấy từ lâu, nhưng chưa bao giờ nghĩ đến nó như một chuyện. Lão từng nói lão sinh ra ở đâu đó trên đất Quảng Ngãi, cha mẹ chết trong một năm đói, lão đi theo một chiếc ghe buôn từ năm chín tuổi, rồi trôi từ ghe này sang ghe khác, từ bến này sang bến khác, cho đến khi dừng lại ở Thị Nại với Mão. Tên lão không có trong sổ làng nào. Lão chưa nộp thuế đinh lần nào. Lão sống như con cá sống dưới đáy đầm: không ai thấy, không ai đếm.

Bây giờ thì vua muốn đếm.

Đêm ấy, ba người ngồi trên mũi ghe. Mão nói lão Tư Rựa phải khai ở bến, nhập vào sổ bến, xin tín bài.

“Khai thì nó lấy tên.” Lão nói. “Lấy tên rồi nó bắt đi.”

“Hông khai thì nó bắt luôn. Dân lậu.” Mão nói, chồm người về phía lão.

“Năm nay tao năm mươi tư. Nó nói tới năm mươi lăm.” Lão nói, gõ ống điếu vào mạn ghe.

“Thì còn một năm.” Mão nói, cáu kỉnh.

“Còn một năm thì tao trốn một năm.” Lão cười khà, như vừa nói một chuyện đùa.

Lão nói như chuyện đơn giản nhất đời. Trốn một năm. Lão đã trốn sáu chục năm mà có ai bắt được. Mão nhìn lão, cái đầu tóc bạc, cái lưng còng, và hắn không biết nên cười hay nên giận.

Thằng Ngọ thì khác. Nó đã khai ở bến từ chiều. Nó sắp có tín bài. Nó hai mươi tuổi, khỏe mạnh, chưa vợ. Nó hỏi Mão, giọng run run:

“Anh Mão, khai rồi thì có bị bắt lính không?” Giọng thằng Ngọ run run, hai tay vò vạt áo.

“Không bắt hết đâu mầy. Ba đinh bắt một. Bốn đinh bắt một. Ai biết.” Mão đáp, mắt nhìn ra đầm.

“Lỡ trúng tui?” Nó hỏi, nuốt khan.

Mão không trả lời. Hắn nhìn thằng Ngọ, nhìn cái mặt còn non choẹt, nhìn bàn chân nó còn cái sẹo chỗ bao muối rơi năm nọ. Hắn nghĩ đến con Thơm bán bánh ít, đến cái lược sừng thằng Ngọ chưa mua được. Rồi hắn nghĩ đến chiếc ghe, ba buồm, cần ít nhất ba người. Nếu mất thằng Ngọ, mất lão Tư Rựa, hắn sẽ phải thuê người lạ.

Hắn nhận ra ý nghĩ thứ hai đến nhanh hơn ý nghĩ thứ nhất. Lại thế. Lần nào cũng thế.

 

Hắn về Bàu Sen vào ngày mười lăm. Sân đình Bàu Sen nhỏ, đông nghẹt. Ông Xã Đạt ngồi sau cái bàn gỗ, áo dài the thâm, khăn xếp, ngấn cổ đỏ lựng vì phấn khởi. Bên cạnh ông là một thư lại của huyện cầm bút, và một cái hòm sơn đỏ y như ở Thị Nại.

Ông Xã gọi tên từng người. Mỗi lần gọi, ông lật sổ, dò ngón tay, rồi ngẩng lên nhìn người đứng trước mặt, như người ta nhìn con bò trước khi mua.

“Lê Văn Mão. Con ông Lê Văn Thìn, đã chết. Ba mươi hai tuổi. Nghề?” Ông Xã đọc, ngón tay dò trên sổ, rồi ngẩng lên nhìn hắn.

“Dạ, chủ ghe.” Mão đáp, ưỡn ngực một chút.

“Chủ ghe.” Ông Xã nhắc lại, gật gù, rồi nói với thư lại huyện. “Ghi: chủ ghe, ở bến Thị Nại, có ruộng ở làng ba sào, mẹ già đứng tên.”

Thư lại huyện ghi. Mão không biết vì sao phải ghi cả ruộng của má. Nhưng hắn không hỏi.

Hắn được phát tín bài. Hắn cầm nó, mân mê. Nó nhẹ hơn hắn tưởng, nhưng cứng. Mặt trước có bốn chữ to, cái dấu son đỏ chói. Mặt sau có mấy chữ nhỏ, là tên hắn, tên làng hắn, tuổi hắn. Một sợi dây gai xỏ qua một cái lỗ ở góc để đeo vào cổ.

Hắn đeo vào. Tấm tín bài rơi xuống, nằm giữa ngực, ngay trên xương ức. Mỗi bước đi, nó lại lắc lư, gõ nhẹ vào ngực hắn.

Hắn đứng ở góc sân đình, nhìn những người khác cũng đeo tín bài. Hai Bướm, bạn chăn trâu, năm đứa con. Ông Ba Rổ đan rổ. Thằng Lừng con ông Bảy Mù. Cả xóm đàn ông, ai cũng có một tấm gỗ lủng lẳng trên ngực. Họ đi lại, nói chuyện, mỗi người một tấm, giống nhau như đúc. Và Mão nghĩ đến những con trâu của làng, những con trâu mà mỗi con được buộc một cái mõ tre ở cổ, để chủ nghe tiếng mõ mà biết nó đi đâu.

Hắn không nói ý nghĩ ấy ra. Hắn chỉ đưa tay lên nắm lấy tấm tín bài, để nó khỏi lắc.

 

Ông Xã Đạt giữ hắn lại khi hắn sắp về.

“Anh Mão. Ở lại uống chén nước.” Ông Xã nói, vẫy tay gọi hắn vào.

Nhà ông Xã ở giữa xóm, cổng xây gạch, sân lát gạch, ba gian nhà gỗ lợp ngói, ngói cũ đã đen nhưng vẫn là ngói. Cả Bàu Sen chỉ có ba cái nhà ngói, và nhà ông Xã là cái đẹp nhất. Ông ngồi trên phản gỗ gụ, mời Mão ngồi chiếu dưới. Vợ ông, một bà béo tròn, mang ra một ấm chè tươi và một đĩa bánh tráng nướng.

“Nghe nói con Liễu sắp sinh.” Ông Xã nói.

“Dạ, tháng Ba.” Mão đáp, nâng chén chè lên bằng hai tay.

“Tốt, tốt. Đàn ông có con là có phước.” Ông Xã nói, gật gù.

Ông nói chuyện mùa màng, chuyện giá lúa, chuyện tín bài. Ông nói rằng việc làm sổ đinh là việc lớn của vua, vua muốn biết trong nước có bao nhiêu người, để mà thương, để mà lo. Ông nói câu ấy với vẻ thành thật, như ông tin. Rồi ông nói, giọng hạ xuống:

“Nghe nói anh mượn tiền chú Hưng.” Giọng ông hạ xuống, mắt liếc ra cổng.

Mão không trả lời. Hắn không biết ông Xã nghe từ ai. Rồi hắn nhớ ra ông Xã và chú Hưng quen nhau, ông Xã hay ra bến buôn bán, và chú Hưng thì nói chuyện với mọi người. Đó là nghề của chú.

“Mượn tiền chú Hưng, lãi ba phân hả?” Ông Xã hỏi, nhướn mày.

“Dạ.” Mão đáp, đặt chén chè xuống.

“Nặng đó.” Ông lắc đầu, ngấn cổ rung rung. “Tui thấy anh Mão vất vả. Má anh thì già rồi. Ba sào ruộng gò của bả, mỗi năm bả cày không nổi. Năm nay bả còn cấy, năm sau ai cấy?”

Mão đặt chén chè xuống.

“Tui tính thế này.” Ông Xã nói tiếp, chậm, như đã tính từ lâu. “Ba sào ruộng đó, tui mua. Giá ruộng gò ở đây, anh biết đó, không cao. Nhưng đủ để anh trả chú Hưng một phần. Bớt lãi. Má anh thì cứ ở trong nhà, tui không đuổi. Lúa thì tui cấy, mỗi mùa tui biếu bả hai giạ ăn Tết.”

Ông nói con số. Mão nghe, nhẩm. Con số ấy đúng là đủ trả chú Hưng một phần. Một phần nhỏ. Còn ba sào ruộng của cha hắn, đất mà cha hắn đã cày cả đời, đất mà má hắn bảo rời khỏi nó thì bà chết, thì sẽ thành của ông Xã.

“Để tui về hỏi má.” Hắn nói.

“Hỏi đi. Không vội.” Ông Xã cười. “Tui để đó cho anh. Ruộng của ai thì của nấy, tui không ép.”

Ông tiễn Mão ra cổng, vỗ vai hắn, rất thân. Mão đi về mà cái vỗ vai ấy còn nằm trên vai, nặng như cái tín bài trên ngực.

 

Hắn hỏi má. Má không trả lời. Bà đang nhặt rau, nghe hắn nói xong, tay vẫn nhặt, không ngừng một nhịp. Nhặt xong rổ rau, bà đứng dậy, đi ra vườn, cuốc đất. Bà cuốc đến tối mịt. Bà không vào ăn cơm. Mão ngồi trên chõng nhìn bóng bà lom khom ngoài ruộng gò, cái cuốc giơ lên, bổ xuống, giơ lên, bổ xuống, trong ánh hoàng hôn đỏ như máu.

Hắn hiểu. Hắn không hỏi nữa.

Sáng hôm sau, lúc hắn sắp đi, bà nói một câu:

“Bây nợ ai thì bây trả. Đất của cha bây không trả nợ cho bây.” Bà quay lưng vào bếp.

Rồi bà quay vào bếp.

 

Về đến bến thì lão Tư Rựa đã bị bắt.

Bắt từ hôm qua. Lính tuần đi xét tín bài ở các bến, gặp lão đang ngồi vá lưới ở mũi ghe. Lão không có tín bài. Lão không có tên trong sổ nào. Lính hỏi lão người ở đâu, lão nói Quảng Ngãi. Hỏi làng nào, lão không nhớ. Lính trói lão giải đi, sung vào đội phu chở lương ra Quảng Nam.

Thằng Ngọ kể cho Mão nghe, vừa kể vừa khóc. Nó không khóc vì lão Tư Rựa. Nó khóc vì nó vừa được báo tên. Đinh bến Thị Nại năm nay bốc thăm, ba đinh lấy một, tên nó trúng. Mười ngày nữa nó phải trình diện ở thành.

Mão đứng trên cầu tàu, nhìn chiếc ghe. Ba cột buồm cuộn lại. Cái mũi ghe, chỗ lão Tư Rựa vẫn ngồi, trống trơn. Chỉ có cái ống điếu bằng tre của lão nằm lăn lóc ở đó, nõ điếu còn tro.

Hắn nhặt cái ống điếu lên. Nó còn hơi ấm, hay hắn tưởng thế.

Lẽ ra hắn có thể làm một việc. Hắn biết điều ấy. Hắn đã biết điều ấy từ lúc ngồi trong nhà ông Xã Đạt. Ở Bàu Sen, người ta có cách: nhà nào có ruộng, có ghe, thì được khai người làm vào nhà mình, khai là “người ở”, “gia nhân”, đứng tên dưới chủ hộ. Ông Xã Đạt đã khai ba người làm như thế cho nhà ông. Chỉ cần đóng cho ông Xã một khoản “lệ” nhỏ, ông thư lại huyện sẽ ghi. Lão Tư Rựa sẽ có tên trong sổ Bàu Sen, dưới tên Mão. Lão sẽ có tín bài. Lão năm mươi tư tuổi, sẽ không bị bắt lính, chỉ phải nộp thuế đinh một năm nữa.

Cái khoản “lệ” ấy, Mão đã hỏi một người trong xóm. Hai quan.

Hắn đã không đưa. Hắn đã nghĩ: hai quan là hai tháng lãi chú Hưng. Lão Tư Rựa sống sáu mươi năm không có tên trong sổ nào mà vẫn sống, lão sẽ trốn được. Lão nói lão trốn được. Lão già rồi, quan bắt lão làm gì.

Hắn đã nghĩ thế. Và bây giờ hắn đứng đây, cầm cái ống điếu.

“Anh Mão.” Thằng Ngọ nói, nước mắt nước mũi tèm lem. “Anh nói giùm tui với ông Xã bến được không? Anh quen nhiều mà. Anh nói giùm cho tui…”

Mão nhìn nó. Hắn không quen ai. Hắn quen chú Hưng, và chú Hưng là chủ nợ của hắn. Hắn quen ông Xã Đạt, và ông Xã Đạt muốn ruộng của má hắn.

“Tao không quen ai, Ngọ.” Hắn nói. “Tao là thằng chủ ghe nợ ba chục quan.”

Thằng Ngọ ngừng khóc. Nó nhìn Mão như lần đầu nhìn thấy hắn. Rồi nó lau mặt bằng vạt áo, đứng dậy, đi về phía đầu bến, về phía quán bánh ít lá gai của con Thơm.

Mão không gọi nó lại.

 

Mười ngày sau, thằng Ngọ đi.

Sáng hôm ấy Mão dậy sớm. Hắn nằm nghe trống thành đánh hồi tập trung, rồi ngồi dậy, mặc áo, đi ra cửa. Hắn định đi tiễn. Hắn đi đến đầu bến thì dừng lại, đứng sau gốc bàng già cạnh quán bánh ít lá gai.

Từ chỗ ấy hắn thấy được con đường đất dẫn lên thành. Một tốp đàn ông trẻ đi lên, mỗi đứa vác một cái tay nải, ngực đeo tín bài, có người nhà đi theo. Thằng Ngọ đi gần cuối. Nó không có ai đi theo. Cha mẹ nó chết từ lâu, nó ở với một bà dì, bà dì đau chân không đi được. Nó vác cái tay nải bằng vải nâu, đầu đội cái nón lá rách vành mà Mão nhận ra là của chính hắn, cái nón hắn vứt ở khoang ghe từ năm ngoái. Thằng Ngọ đã nhặt nó. Hắn không biết là nó nhặt.

Con Thơm đứng ở cổng quán, tay cầm một gói lá chuối. Thằng Ngọ đi ngang, dừng lại. Hai đứa không nói gì. Con Thơm dúi gói lá chuối vào tay nó. Thằng Ngọ cầm, nhét vào tay nải, rồi đi tiếp. Nó không quay lại. Con Thơm đứng nhìn theo đến khi tốp lính khuất sau rặng dừa.

Rồi con Thơm quay vào, và nó thấy Mão đứng sau gốc bàng.

Nó nhìn hắn. Nó mười bảy tuổi, mặt tròn, tóc vấn khăn, hai tay còn dính bột nếp. Nó không chào. Nó chỉ nói, không to không nhỏ, cái giọng của con gái bến, quen mặc cả từ năm lên mười:

“Anh Mão ra tiễn mà đứng sau gốc cây chi dị?” Con Thơm chống nạnh, hai tay còn dính bột nếp.

Mão không trả lời được. Hắn mở miệng, rồi đóng lại.

“Ảnh nói anh Mão không quen ai.” Con Thơm nói tiếp. “Ảnh nói anh Mão nợ ba chục quan. Ảnh nói dị là ảnh hết trông.”

Nó quay vào quán. Một lúc sau nó trở ra, đặt lên cái bàn tre trước quán một cái đĩa có ba cái bánh ít, không mời, không nhìn hắn, rồi lại quay vào. Mão đứng đó, nhìn ba cái bánh ít. Hắn biết đó là ba cái bánh còn thừa sau khi nó gói cho thằng Ngọ. Nó không mời hắn ăn. Nó chỉ đặt chúng ở đó, như người ta đặt một thứ gì đó lên bàn thờ.

Hắn để lại hai đồng tiền trên bàn, cầm ba cái bánh ít đi về. Bánh ít lá gai đen, dẻo, nhân đậu xanh dừa. Hắn ăn một cái trên đường, nuốt không trôi. Hai cái còn lại hắn đưa cho thằng Cu.

Lão Tư Rựa thì không có tin gì.

 

Mão phải thuê hai người lạ.

Một gã người Phù Cát tên Chín Rổ, trước đánh cá ven bờ, chưa đi ghe buôn bao giờ, vai u thịt bắp nhưng tay chân lóng ngóng như con gấu bị bắt kéo xe. Một thằng mười lăm tuổi tên thằng Cò, mồ côi, ăn nhiều, ngủ nhiều, đòi tiền công cao vì biết chủ ghe đang thiếu người. Mão trả cho chúng gấp rưỡi tiền công hắn từng trả cho Tư Rựa và Ngọ.

Chuyến chạy thử đầu tiên trong đầm, ghe suýt lật.

Gió chiều trở hướng bất ngờ, từ Nam sang Đông, như gió đầm vẫn trở vào tháng Hai. Mão hô kéo buồm lái. Chín Rổ kéo buồm mũi. Hắn hô lần nữa, Chín Rổ nghe nhầm, buông luôn dây buồm mũi. Cánh buồm cói quật ngang, cái sào căng buồm đập sượt qua đầu thằng Cò. Ghe nghiêng hẳn một bên, nước đầm tràn qua mạn, ồ ạt như ai dội. Mão lao tới, ôm lấy cột buồm giữa, dùng cả sức nặng thân người kéo ghe lại. Hắn nghe tiếng gỗ kêu răng rắc ở chân cột. Ba hơi thở sau thì ghe lấy lại thăng bằng, chòng chành, khoang ngập nước đến mắt cá.

Thằng Cò ngồi bệt dưới khoang, ôm đầu, khóc. Chín Rổ đứng giữa ghe, hai tay còn cầm khúc dây, mặt trắng bệch.

“Tui… tui tưởng anh nói buông…” Chín Rổ lắp bắp, hai tay vẫn nắm khúc dây buồm.

Mão không chửi. Hắn không còn hơi để chửi. Hắn ngồi xuống mạn ghe, thở, nhìn cái chân cột buồm giữa. Có một vết nứt chạy dọc thớ gỗ, dài bằng gang tay. Hôm trước chưa có.

Nếu lão Tư Rựa ở đây, lão sẽ không cần ai hô. Lão sẽ nhìn mặt nước đầm đổi màu, ngửi gió, và kéo buồm trước khi Mão kịp mở miệng. Hắn đã đi với lão mười năm, và hắn chưa bao giờ nghĩ cái sự “không cần hô” ấy là một thứ đáng giá. Bây giờ hắn biết nó đáng giá bao nhiêu: nó đáng giá một vết nứt ở chân cột buồm, và một thằng bé mười lăm tuổi ngồi khóc trong khoang ngập nước.

Hắn tát nước suốt buổi chiều. Tối về, hắn lấy dây mây quấn quanh chân cột, quấn chặt, quấn nhiều lớp. Vết nứt bị che đi. Nhưng hắn biết nó vẫn ở đó.

Hắn tính lại. Lãi chú Hưng ba phân. Tiền công hai đứa gấp rưỡi. Chuyến lụa sắp tới, nếu chở với hai đứa này, có khi phải thêm mấy ngày đường. Hai quan để khai lão Tư Rựa vào sổ, so với từng ấy thứ, là cái gì?

Hắn tính đến đó thì dừng. Không tính tiếp nữa. Có những phép tính mà tính ra rồi thì không sống được.

 

Liễu sinh vào cuối tháng Ba, giữa một đêm mưa lớn trái mùa.

Bà mụ ở đầu bến đến muộn vì mưa. Mão đun nước, xé vải, cầm đèn, làm mọi việc người ta bảo hắn làm, và nghe vợ hắn rên trong gian buồng như tiếng con bò bị siết cổ. Thằng Cu ba tuổi ngồi co ở góc nhà, mắt mở thao láo, không khóc. Mưa dột qua mái tranh, rơi tí tách xuống cái chậu sành Mão đặt hứng.

Gần sáng thì đứa bé ra. Một đứa con gái. Nhỏ, đỏ hỏn, khóc yếu như mèo con.

Bà mụ bế nó ra cho Mão xem. Hắn nhìn đứa con, cái mặt nhăn nhúm, cái miệng há ra, và hắn không biết mình nghĩ gì. Có lẽ hắn chẳng nghĩ gì. Hắn chỉ thấy một cái gì đó rất nhỏ, rất nóng, rất nhẹ, nằm trong một bàn tay người khác.

“Đặt tên gì, anh Mão?” Bà mụ hỏi.

Liễu nói vọng ra từ trong buồng, giọng khàn đặc:

“Con Hĩm. Kêu nó là con Hĩm.” Giọng chị khàn, rồi im.

Tên xấu. Tên xấu để ma quỷ không thèm bắt. Người nghèo đặt tên con xấu, như người ta giấu của trong một cái hũ vỡ. Mão gật đầu.

Ba ngày sau, ông Xã Đạt ra bến. Ông mang theo một con gà mái và một thúng gạo nếp. Ông bảo đến mừng. Ông bế con Hĩm lên, nựng nịu, khen nó trắng, khen nó giống mẹ. Rồi ông trả nó lại cho Liễu, ngồi xuống chõng, uống chén nước, và nói chuyện ruộng.

“Má anh không chịu thì thôi.” Ông nói. “Tui không ép. Nhưng anh nói với bả, giờ bả có thêm đứa cháu rồi. Cháu thì phải ăn. Bả mà đổi ý thì cứ nhắn tui.”

Ông đi. Con gà mái bị buộc chân ở góc nhà, kêu quang quác.

Liễu nhìn con gà, nhìn chồng.

“Ổng mua ruộng má hả?” Liễu hỏi, nhìn con gà mái buộc chân ở góc nhà.

“Ổng muốn mua.” Mão đáp, cởi dây chân con gà.

“Má không bán.” Liễu nói, giọng chắc nịch.

“Ừ.” Mão đáp, ngồi xuống chõng.

Liễu im một lúc. Rồi chị nói, giọng nhỏ, như nói với con Hĩm đang bú:

“Ổng cho con gà. Rồi ổng lấy ba sào ruộng. Cái giá của con gà đó mắc quá ông.” Tay chị vỗ vỗ lưng con Hĩm.

Mão không đáp. Hắn cầm cái ống điếu của lão Tư Rựa, đã được hắn cất lên gác bếp từ hôm nọ, xoay xoay trong tay. Hắn không hút thuốc lào. Hắn chưa bao giờ hút. Nhưng tối ấy hắn nhồi thuốc vào nõ, châm lửa, và rít một hơi.

Khói xộc lên mũi, cay xè. Hắn ho sặc sụa, nước mắt chảy ròng ròng. Thằng Cu bật cười. Con Hĩm giật mình khóc.

Hắn rít thêm một hơi nữa.

 

Tấm tín bài hắn đeo suốt mười năm, đến khi nó mất đi theo một cách mà hắn không bao giờ ngờ. Dây gai đứt, hắn thay dây khác. Giấy bong, hắn lấy cơm dính lại. Đêm nằm ngủ, hắn để nó lên ngực, tay đặt lên, như đặt tay lên một vật quý. Không phải vì hắn tin vua. Vì không có nó thì hắn là dân lậu. Và hắn đã thấy dân lậu bị trói giải đi thế nào.

Lão Tư Rựa chết ở Quảng Nam vào mùa mưa năm ấy, trên đường chở lương, ngã xuống một con dốc đèo vì gánh nặng quá. Người báo tin là một gã phu cùng đội, về Thị Nại tìm đến ghe của Mão, vì lão Tư Rựa trước khi chết có dặn: nếu ai về Thị Nại thì nói với thằng Mão rằng cái ống điếu là của nó.

Gã phu chỉ nói có thế. Mão đưa cho gã một bát cơm, gã ăn xong thì đi.

 

Lính tuần ở công trường đã đi qua. Ba người không có giấy bị trói chung một sợi thừng, dẫn đi về phía cửa ô. Người già đi sau cùng, vấp một hòn gạch, ngã quỵ. Thằng lính kéo dây, người già lồm cồm đứng dậy, đi tiếp.

Lão Câm nhìn theo cho đến khi họ khuất. Rồi lão sờ lên cổ. Ở đó không có gì. Chỉ có một vết hằn, rất mờ, ngay trên xương quai xanh, chỗ sợi dây gai đã cọ vào suốt mười năm. Vết hằn ấy không bao giờ mất.

Cái ống điếu của lão Tư Rựa thì lão vẫn giữ, giắt ở lưng quần, cạnh cái ống tre bịt sáp. Lão không hút được nữa, phổi lão không chịu nổi. Nhưng lão giữ. Có những thứ người ta giữ không phải vì cần, mà vì nếu vứt đi thì không còn ai nhớ là nó từng có chủ.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px