Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Áo Rách Ngụy Tây

Vua giả, thuyền thật

Bên công trường người ta bắt đầu xẻ gỗ.

Lão Câm nghe tiếng cưa trước khi mở mắt. Hai người một cây cưa dài, một người đứng trên giàn, một người đứng dưới hố, kéo lên, kéo xuống, tiếng cưa ăn vào thớ gỗ rèn rẹt, đều đặn, như ai đang thở bằng răng. Mùn cưa bay theo gió, có mấy hạt rơi xuống mặt lão, bám vào râu. Lão ngửi thấy mùi gỗ lim mới xẻ, chát và ngai ngái.

Lão biết mùi ấy. Lão đã ngửi nó suốt mười ngày, ở một nơi rất xa đây, trong một cái hố xẻ gỗ bên bờ một con sông khác, nước trong hơn, lặng hơn, và hồi ấy lão đứng ở dưới hố.

Người đứng dưới hố bao giờ cũng là người ăn mùn cưa.

 

Năm Canh Tuất, Mão ra Phú Xuân vào tháng Năm, chở một khoang đường phổi và cá khô. Không phải gạo. Hắn đã thề không chở gạo ra Phú Xuân nữa. Đường và cá khô thì quan không cần, quân không ăn, và vì thế không ai ép giá. Hắn tính thế.

Hắn tính đúng một nửa. Quan không ép giá đường. Nhưng người mua cũng không nhiều. Phú Xuân năm ấy đông người hơn năm trước, nhà cửa mới dựng lên dọc sông, phố xá rộn ràng hơn, người ta nói giọng Nghệ, giọng Thanh, giọng Bắc nhiều hơn giọng Huế. Nhưng cái đông ấy là đông lính, đông phu, đông thợ, những người ăn cơm kho, không có tiền mua đường phổi. Mão bán được một phần ba khoang trong năm ngày, giá thấp hơn hắn mong, và mỗi ngày ghe nằm ở bến là mỗi ngày tiền thuê chỗ đậu.

Ngày thứ sáu, hắn đi dọc bờ sông về phía Tây, tìm một lái buôn người Hoa ở Bao Vinh mà người ta bảo đang cần mua đường. Hắn đi qua một khúc sông mà trước đây là bãi cát, bây giờ là một xưởng thuyền.

Hắn chưa bao giờ thấy cái gì như thế.

Dọc bờ sông, trên một quãng dài bằng cả cái bến Thị Nại, người ta dựng những cái giàn bằng tre và gỗ, cao gấp ba đầu người. Trên mỗi giàn là bộ xương một con thuyền, sống thuyền to bằng thân người, những thanh sườn cong vút lên như sườn một con cá voi chết trôi dạt vào bãi. Có thuyền đã ốp ván đến mạn, có thuyền mới chỉ là xương. Hàng trăm người leo trèo trên giàn, đục, đẽo, đóng đinh, và tiếng búa gõ đinh vang khắp mặt sông, lộn xộn, không ra nhịp nào, như một trận mưa đá.

Dưới đất, người ta đào những cái hố dài, mỗi hố có một khúc gỗ lớn kê ngang trên miệng. Một người đứng trên khúc gỗ, một người đứng dưới hố, kéo cưa. Mùn cưa rơi xuống, phủ đầy đầu, đầy vai người đứng dưới. Họ giống những pho tượng đất.

Mão đứng nhìn lâu quá.

Một thằng lính đi tuần chạm vào vai hắn.

“Người ở mô?” Thằng lính hỏi, tay vẫn đặt trên vai hắn.

“Dạ, người Quy Nhơn. Đi buôn.” Mão đáp, khom lưng xuống.

“Có giấy không?” Thằng lính hỏi, chìa tay ra.

Mão móc túi, đưa ra tờ biên thuế thuyền năm ngoái. Thằng lính cầm lên, xoay ngược xoay xuôi. Nó không biết chữ. Nó đưa cho một ông đội đứng gần đấy. Ông đội nhìn tờ biên, nhìn Mão, nhìn đôi bàn tay chai sạn của hắn, nhìn đôi vai.

“Giấy ni là giấy thuế ghe. Không phải giấy người.” Ông đội nói, gõ gõ ngón tay lên tờ biên.

“Dạ, tui là chủ ghe…” Mão nói, giọng đã nhỏ đi.

“Chủ ghe thì ghe có giấy. Người thì chưa có.” Ông đội trả lại tờ biên, rồi hất hàm về phía mấy cái hố cưa. “Xưởng thiếu người. Mười ngày. Có cơm.”

“Bẩm, ghe tui còn đậu ở bến, hàng chưa bán…” Mão nói, chắp tay trước bụng.

“Ghe không chạy mất mô.” Ông đội nói, đã quay đi gọi người khác.

Ông đội nói thế, và Mão hiểu rằng nói thêm câu nào cũng thừa. Ông không ác. Ông chỉ có một cái sổ phải đủ người, và Mão vừa đứng nhìn xưởng thuyền với đôi vai của một người khuân vác.

Hắn chỉ xin được một điều: cho hắn nhắn về bến. Ông đội cho. Một thằng phu con nít được sai chạy xuống Bao Vinh, mang theo lời nhắn của Mão cho lão Tư Rựa: giữ ghe, bán hàng nếu được giá, mười ngày nữa hắn về.

 

Hắn đứng dưới hố.

Người đứng trên khúc gỗ là một gã phu người Nghệ tên Thìn, to con, ít nói, mỗi lần kéo cưa lên thì hừ một tiếng trong mũi. Người đứng trên thì dễ thở, thấy trời, thấy gió. Người đứng dưới thì ngửa mặt lên, kéo cưa xuống, và mỗi nhát cưa là một nắm mùn rơi vào mặt, vào mắt, vào mũi, vào cái miệng đang há ra thở. Đến trưa ngày thứ nhất, Mão ho ra một bãi đờm vàng sệt mùn cưa. Đến tối, mắt hắn đỏ như mắt cá hồng.

Cơm có thật. Một ngày hai bữa, mỗi bữa một nắm cơm gạo hẩm to bằng nắm tay, một nhúm muối, thỉnh thoảng có canh rau muống luộc. Ăn trong một cái lán dài lợp lá, cả trăm người ngồi xổm, không ai nói chuyện, chỉ có tiếng nhai và tiếng muỗi.

Mão ăn mà nghĩ đến đường phổi của mình đang chảy nước trong khoang ghe, nghĩ đến tiền đậu bến, nghĩ đến cái lái buôn người Hoa mà hắn chưa kịp gặp. Hắn tính từng ngày. Mười ngày phu. Mười ngày đậu bến. Mười ngày đường phổi ngấm ẩm. Hắn tính đến mức phát ốm.

Đến ngày thứ ba thì hắn thôi tính, vì hắn mệt quá không tính được nữa.

Ngày thứ tư, ông thợ cả của dãy giàn số bảy xuống hố chỗ Mão, xem khúc gỗ. Ông người Quảng Nam, già, khô, lưng còng, mặt nhăn như vỏ cây, tên là ông Bường. Ông không cầm búa, không cầm đục. Ông chỉ đi dọc các giàn, sờ tay vào từng thanh gỗ, gõ gõ bằng đốt ngón tay, nghe tiếng, rồi lắc đầu hoặc gật đầu. Thợ dưới quyền ông sợ ông như sợ cọp.

Ông vỗ vào khúc gỗ Mão đang xẻ.

“Gỗ ni chưa khô.” Ông Bường nói, gõ đốt ngón tay lên thớ gỗ, nghiêng đầu nghe.

“Dạ?” Gã Thìn ở trên hỏi.

“Chưa khô. Đốn mùa mưa, chở về mùa mưa, chưa phơi được tháng mô. Đóng thuyền bằng gỗ ni thì năm sau ván co, mạn hở.” Ông nói, bóp một nắm mùn cưa trong tay.

“Rứa thì sao, ông?” Gã Thìn hỏi, chống tay lên cán cưa.

Ông Bường nhìn lên những bộ xương thuyền trên giàn. Ông không trả lời ngay. Rồi ông nói, nhỏ, như nói một mình:

“Trên bảo đóng cho kịp. Kịp thì không khô. Khô thì không kịp.” Ông chắp tay sau đít, đi tiếp.

Ông đi. Gã Thìn nhổ một bãi nước bọt xuống hố, trúng chân Mão, cũng không xin lỗi. Mão cũng không chửi. Hắn mệt quá.

Nhưng câu nói của ông Bường cứ ở lại. “Kịp thì không khô. Khô thì không kịp.” Hắn không biết vì sao nó ở lại. Hắn chỉ là một thằng buôn, hắn không đóng thuyền chiến, hắn không đánh trận. Nhưng hắn đã đóng ghe, đã sửa ghe, đã trét dầu rái suốt hai mươi năm. Hắn biết một chiếc ghe đóng bằng gỗ tươi sẽ ra sao sau một mùa mưa bão. Và hắn nhìn lên những bộ xương khổng lồ trên giàn, cả chục chiếc, cả trăm người leo trèo, và lần đầu tiên hắn có một ý nghĩ không liên quan gì đến tiền: những chiếc thuyền to như thế này, đóng vội như thế này, rồi sẽ đi đánh ai?

Ý nghĩ ấy đến rồi đi, như một con chuồn chuồn đậu xuống mặt nước. Hắn kéo cưa xuống, mùn cưa rơi vào mắt, và hắn quên.

 

Tối ngày thứ bảy, phu được nghỉ sớm vì có quan lớn đến xem xưởng. Mão cùng gã Thìn và mấy người khác ra một cái quán nước ở đầu xưởng, cái quán lợp lá dừa có bán chè xanh, bánh bèo, rượu trắng múc bằng gáo.

Quán đông. Phu, thợ, lính, mấy người buôn. Người ta nói chuyện đủ thứ, mà chuyện nào cũng xoay về một ông vua.

“Nghe chưa.” Một người bán chiếu người Huế nói, giọng thì thào mà ai cũng nghe được. “Vua mình sai sứ qua Tàu. Qua Bắc Kinh. Mừng thọ ông vua Tàu.”

“Thì sứ đi mừng thọ, có chi mà lạ.” Một người đàn ông bĩu môi, nhấp chè.

“Lạ chớ. Ông vua Tàu đòi vua mình phải qua tận nơi. Vua mình không qua. Vua mình cho một ông khác qua. Ông giả vua.” Người bán chiếu chồm người tới, hạ giọng.

“Giả vua?” Ai đó hỏi lại, rồi phá lên cười.

“Giả. Mặc áo vua, đội mũ vua, ngồi kiệu vua. Đi qua Tàu, lạy ông vua Tàu. Ông vua Tàu tưởng thật.” Người bán chiếu nói, vỗ đùi, mắt sáng lên.

Cả quán cười. Có người vỗ đùi. Có người bảo thế là khôn, đánh cho nó chạy rồi bắt nó tiếp vua giả, nhục cho nó. Có người lắc đầu bảo không tin, vua Tàu có mấy nghìn quan, ai mà lừa được. Một ông già ngồi góc quán, mặc áo the, có vẻ là một ông đồ, không cười. Ông cầm chén chè, nói như nói với cái chén:

“Đánh được thì phải hòa được. Không hòa thì nó sang nữa. Nó sang nữa thì lấy ai mà đánh, khi trong nhà còn ông Nhạc ở Quy Nhơn, ông Nguyễn ở Gia Định.” Mắt ông đồ vẫn nhìn vào chén chè, không cười.

Người ta không nghe ông. Hoặc nghe mà không hiểu. Chuyện vua giả nghe vui hơn chuyện nhà có mấy ông vua.

Mão cười to nhất quán. Hắn cười đến chảy nước mắt, nước mắt lẫn với mùn cưa còn sót lại trong khóe mắt, cay xè. Hắn không biết vì sao mình cười to thế. Có lẽ vì hắn mệt. Có lẽ vì cái ý một thằng giả vua được ông vua Tàu tiếp đãi, trong khi hắn, một thằng chủ ghe thật, phải đứng dưới hố ăn mùn cưa mười ngày vì không có giấy. Giả mà được thì thật làm gì.

Gã Thìn ngồi cạnh, không cười. Gã uống hết chén rượu, chùi miệng bằng mu bàn tay, nói với Mão, câu dài nhất gã nói trong bảy ngày:

“Vua giả mặc áo vua thì đi Tàu. Phu thật mặc áo phu thì xẻ gỗ. Có chi mà cười.” Gã đứng dậy, phủi đít quần.

Rồi gã đứng dậy, đi ra.

Mão ngồi lại. Cái cười trong miệng hắn tắt dần, như than bị dội nước.

 

Đêm thứ tám, người nằm cạnh Mão trong lán chết.

Đó là một ông phu già người Quảng Trị, ho từ hôm Mão mới đến, ho khan, ho đến gập người, rồi ho ra máu lẫn mùn cưa. Ông nằm ở góc lán, chỗ dột, chiếu lúc nào cũng ẩm. Không ai biết tên ông. Người ta gọi ông là ông Ho. Đêm ấy Mão nằm nghe ông ho, rồi nghe ông thở khò khè, rồi không nghe gì nữa. Sáng ra, ông nằm nghiêng, mắt hé, một tay còn nắm cái nắm cơm hẩm để dành từ bữa tối mà chưa ăn.

Ông đội đến xem. Ông đứng nhìn cái xác một lúc, rồi giở cuốn sổ ra, ngón tay dò đến một cái tên, dừng lại. Ông không gạch.

“Chưa hết mười ngày.” Ông nói với thằng lính đi theo. “Còn hai ngày. Khiêng ra sau bãi chôn, đừng báo lên.”

Thằng lính hiểu ngay. Mão nằm đó, giả vờ còn ngủ, mà cũng hiểu. Một cái tên trong sổ là một suất cơm kho phát ra. Người chết thì không ăn. Hai ngày, hai suất, bốn nắm cơm. Không ai báo lên thì bốn nắm cơm ấy đi đâu?

Hai thằng phu khiêng ông Ho ra bãi sau xưởng, chỗ bãi cát có mấy nấm mộ mới không bia. Cái nắm cơm trong tay ông rơi ra, lăn xuống chiếu. Gã Thìn cúi xuống nhặt lên, phủi phủi mấy hạt cát, bẻ đôi, đưa cho Mão một nửa.

Mão nhìn nửa nắm cơm. Cơm hẩm, nguội, khô, có mùi mốc. Hắn nhìn gã Thìn. Gã Thìn đã cho nửa của gã vào miệng, nhai, mặt không đổi.

Hắn cầm lấy.

Hắn ăn nửa nắm cơm của người chết trong lúc người ta đang lấp đất cho người chết ở sau lán. Nó có vị y như cơm của người sống. Đó là điều làm hắn khó chịu nhất: hắn chờ nó có một vị gì khác, đắng hơn, tanh hơn, mà nó không có. Nó chỉ là cơm.

Hai ngày sau, khi hắn được tha, ông đội đọc tên từng người trong sổ để trả về. Đọc đến tên ông Ho thì ông đội dừng một chút, rồi gạch, bằng một nét bút ngang gọn ghẽ, như gạch một món hàng đã giao đủ.

 

Ngày thứ chín, có một chiếc tàu lạ cập bến dưới xưởng.

Không phải ghe bầu, không phải thuyền mành, không phải thuyền Tàu. Thân nó dài, mạn cao, mũi nhọn, có ba cột buồm, buồm vải trắng hình thang chứ không phải buồm cói hình cánh dơi. Đáy nó, chỗ mặt nước liếm lên, có một lớp gì đó ánh vàng như đồng. Người trên tàu mặc áo ngắn, quần chẽn, đội mũ vành. Có mấy người da đen thui, có mấy người da trắng bệch, mũi to, râu đỏ.

Phu trong xưởng bỏ cả cưa mà đứng nhìn. Ông đội phải quát mới chịu làm tiếp.

Chiều hôm ấy, một gã thủy thủ trên chiếc tàu lạ lên bờ, đi qua quán nước. Gã người lai, da nâu, mắt một mí, nói được tiếng Việt bập bẹ, xưng là người Mã Cao. Gã muốn mua rượu. Mão, vì tò mò hơn là vì gì khác, mời gã một chén. Gã uống, khà một tiếng, rồi nhìn những bộ xương thuyền trên giàn.

“Thuyền to.” Gã nói, gật gù. “Nhiều chèo.”

“Thuyền vua.” Mão nói, giọng có chút tự hào, như thể thuyền ấy của hắn.

“Thuyền vua. Đẹp.” Gã uống thêm một ngụm. “Nhưng không có cái này.”

Gã gõ gõ vào cái chén bằng sành, rồi chỉ về phía con tàu của gã dưới bến, chỉ vào lớp ánh vàng ở đáy.

“Đồng. Bọc đồng. Hà không ăn. Đi nhanh.” Gã nói, hất hàm về phía bến.

“Đồng hả? Lấy đâu mà nhiều đồng dị?” Mão hỏi, nheo mắt nhìn lớp ánh vàng dưới nước.

Gã nhún vai. Rồi gã nói một câu làm Mão nhớ mãi, không phải vì hắn hiểu, mà vì hắn không hiểu:

“Ở Đồng Nai, ông Nguyễn có mấy người Tây. Họ làm thành. Thành có tám cạnh. Góc nhọn như sao. Đánh vào chỗ nào cũng bị bắn hai bên.” Ngón tay gã chấm vào nước chè, vẽ lên mặt bàn.

Gã dùng ngón tay vẽ lên mặt bàn ướt nước chè một hình gì đó, những đường gấp khúc, những cái góc nhọn chĩa ra. Mão nhìn cái hình vẽ bằng nước chè ấy, không hiểu gì. Một cái thành thì là một cái thành, tường đất, có cổng, có hào. Ai lại làm thành có góc nhọn như con sao biển.

“Thành của ông Nguyễn hả?” Mão hỏi, cho có chuyện.

“Ông Nguyễn. Ông Gia Định.” Gã gật đầu, rồi cười, hở mấy cái răng bịt bạc. “Bên này đánh trận giỏi. Bên kia làm thành giỏi. Tôi bán cho cả hai.”

Gã uống hết chén, đặt mấy đồng tiền bạc lên bàn, đi. Mão nhìn hình vẽ trên mặt bàn. Nước chè đã bắt đầu khô, những cái góc nhọn mờ dần, chỉ còn lại mấy vệt loang. Bà chủ quán lấy giẻ lau bàn, lau luôn cả hình vẽ.

Hắn không nghĩ gì về nó. Hắn nghĩ về đồng tiền bạc gã thủy thủ để lại. Bạc thật. Nặng. Không cong khi cắn.

 

Ngày thứ mười, Mão được tha.

Hắn về đến Bao Vinh lúc trời nhá nhem. Chiếc ghe vẫn còn đó, nằm ở chỗ cũ, buồm cuộn, mũi ghe hai con mắt đỏ nhìn hắn. Lão Tư Rựa ngồi ở mũi, ống điếu trong tay. Thằng Ngọ ngủ trong khoang.

Hàng thì không còn nhiều. Lão Tư Rựa đã bán được thêm một phần ba khoang đường, giá kém hơn. Phần còn lại, mười ngày nằm trong khoang nóng ẩm, đường đã chảy nước, dính bết vào nhau thành từng tảng, có tảng mốc xanh. Cá khô thì bị mọt. Mão leo xuống khoang, cầm một tảng đường lên. Nó nhớp nháp, kiến bò lổm ngổm.

Hắn ngồi thụp xuống giữa khoang.

“Chú Hưng ra rồi đó.” Lão Tư Rựa nói vọng xuống. “Ra hôm kia. Đậu ở bến dưới. Ổng có hỏi mầy.”

Mão ngẩng lên.

 

Chú Lưu Hưng ở Phú Xuân không giống chú Lưu Hưng ở Thị Nại. Ở Thị Nại, chú ngồi trên ghế, uống trà, nói chậm. Ở Phú Xuân, chú ở trong một căn nhà gỗ hai tầng thuê của một người Minh Hương khác, ngay trên phố gần chợ Đông Ba, tầng dưới chất đầy hòm, tầng trên có bàn ghế gỗ trắc và một cái bàn thờ có tượng ông Quan Công mặt đỏ. Chú mặc áo the mỏng, quạt giấy phe phẩy, và có ba thằng hầu đi ra đi vào. Ở Phú Xuân, chú làm ăn với quan.

“Anh Mão.” Chú đứng dậy khi hắn bước vào, điều mà ở Thị Nại chú chưa bao giờ làm. “Ngồi, ngồi. Nghe nói anh đi xẻ gỗ cho vua.”

“Dạ, người ta bắt.” Mão nói, đứng lóng ngóng ở cửa, hai tay không biết để đâu.

“Bắt thì bắt. Ai cũng bị bắt. Lị cũng bị bắt.” Chú cười. “Lị bị bắt đóng tiền. Tiền thuyền chiến. Năm nay nhà nào buôn cũng phải góp.”

Chú mời trà. Trà ngon, nước xanh, thơm mùi hoa nhài. Mão uống mà không biết mùi. Hắn biết chú Hưng không mời trà ai không có lý do.

Chú nói chuyện vòng vo một lúc. Chuyện giá cả. Chuyện thuyền Tây. Chuyện ông vua giả, mà chú bảo là chuyện thật, chú biết người quen của người quen trong đoàn sứ. Rồi chú hỏi đường phổi của Mão bán được bao nhiêu. Mão nói thật. Chú gật đầu, không có vẻ ngạc nhiên. Chú đã biết.

“Đường thì Phú Xuân không cần.” Chú nói. “Phú Xuân cần lụa. Lụa Bắc.”

“Lụa Bắc?” Mão hỏi lại, ngồi thẳng lên.

“Đánh Ngô xong, đường ra Bắc thông. Lụa Bắc theo ghe vào. Ở đây quan lớn mặc lụa Bắc. Lụa Bắc chở vào Quy Nhơn, vào Hội An, bán cho thuyền Tàu, giá gấp đôi. Lị có mối mua lụa ở đây. Lị không có ghe rảnh.” Chú nói, chậm rãi phe phẩy quạt.

Chú dừng lại, nhấp trà.

Mão hiểu. Hắn hiểu trước khi chú nói hết câu. Hắn đã chờ câu này từ lúc bước vào.

“Tui không có vốn mua lụa, chú.” Mão nói, nhìn xuống chén trà.

“Lị cho mượn.” Chú Hưng nói nhẹ tênh, như mời thêm chén trà.

Chú nói nhẹ như người ta nói “lị cho anh chén trà”. Ba chục quan. Mua lụa ở Phú Xuân, chở về Quy Nhơn, bán cho thuyền Tàu ở Thị Nại, hoặc chở tiếp vào Hội An. Lãi tháng ba phân. Trả gốc và lãi trong một năm. Ghe đứng làm tin.

“Ghe đứng làm tin…” Mão nhắc lại.

“Làm tin thôi.” Chú phẩy quạt. “Anh Mão là người biết buôn. Lụa thì không chảy nước như đường, không mọt như cá. Một chuyến là anh trả được nửa nợ.”

Mão ngồi im. Ba phân một tháng. Hắn không biết tính lãi kép, nhưng hắn biết ba phân một tháng, mười hai tháng, là hơn một phần ba số vốn. Ba chục quan thành bốn chục quan. Còn nếu chậm…

Hắn nghĩ đến khoang đường chảy nước. Hắn nghĩ đến hai tờ biên thuế, đến tờ giấy trong ống tre, đến những đồng tiền mỏng. Hắn nghĩ đến mười ngày dưới hố cưa. Hắn nghĩ đến Liễu, người sẽ đứng ở cầu tàu nhìn cái túi tiền ở thắt lưng hắn. Hắn nghĩ đến thằng giả vua đang ngồi kiệu đi Bắc Kinh.

Một chuyến lụa. Một chuyến thôi. Nếu được, hắn sẽ trả hết, sẽ gỡ lại tất cả.

“Lão Tư Rựa nói mầy là thằng mê tính.” Chú Hưng bỗng nói, giọng đổi khác, gần như thân mật. “Lị thấy mê tính không có tội. Chỉ có tội khi tính sai.”

“Chú nói chuyện với chú Tư hả?” Mão hỏi, nhíu mày.

“Lị nói chuyện với mọi người.” Chú cười. “Đó là nghề của lị.”

Thằng hầu mang ra một tờ giấy. Tờ giấy đã viết sẵn, chữ Hán và chữ Nôm chen nhau, đóng một cái dấu son nhỏ hình vuông có chữ Lưu. Chú Hưng đọc cho Mão nghe, chậm, rõ từng chữ: tên người vay, số tiền, lãi, kỳ hạn, vật làm tin. Đọc xong, chú đặt tờ giấy lên bàn, đẩy về phía Mão, cùng với một cái nghiên mực nhỏ.

“Anh Mão không biết chữ, điểm chỉ cũng được.” Chú nói, đẩy cái nghiên về phía hắn.

Mão nhìn cái nghiên mực. Mực tàu đen bóng, có mùi khét khét.

Hắn chấm ngón tay cái vào mực. Hắn để ngón tay lơ lửng trên tờ giấy. Và hắn thấy tay mình run.

Không run nhiều. Chỉ là cái run nhỏ ở đầu ngón, như con cá mắc câu còn giãy. Nhưng chú Hưng nhìn thấy. Thằng hầu đứng sau lưng cũng nhìn thấy. Mão biết họ nhìn thấy.

Và hắn cười. Hắn cười to, cái cười ở quán nước hôm trước, cái cười chuyện vua giả. Hắn cười và ấn mạnh ngón tay xuống giấy, ấn đến nỗi móng tay trắng bệch.

“Ha! Chú Hưng, chú coi, lần đầu tui ký giấy nợ mà như ký giấy bán vợ!” Hắn vừa cười vừa ấn ngón tay xuống giấy, ấn mạnh đến trắng móng.

Chú Hưng cũng cười, cười theo, một cái cười chỉ ở miệng như hồi ở tiệc mừng. Thằng hầu cũng cười. Cả ba người cùng cười, và trong cái tiếng cười ấy không ai nhìn ngón tay Mão nữa.

Chú Hưng cầm tờ giấy lên, thổi nhẹ cho khô dấu tay, gấp lại, cất vào một cái hộp gỗ có khóa.

“Mai lị cho người dẫn anh đi mua lụa.” Chú nói, cài then cái hộp gỗ lại.

 

Đêm ấy, Mão ra sông rửa tay.

Mực tàu không phai. Hắn kỳ ngón cái vào hòn đá ở bậc bến, kỳ đến rát, đến đỏ lựng, mà vẫn còn một vệt đen bám trong các đường vân tay, như ai đã vẽ một bản đồ nhỏ lên đó. Hắn chưa từng để ý ngón tay mình có nhiều đường vân thế.

Lão Tư Rựa ngồi trên mũi ghe, nhìn hắn rửa. Lão không hỏi. Lão đã biết. Có lẽ lão biết từ trước cả Mão, từ cái lúc chú Hưng hỏi chuyện lão ở bến.

“Mầy biết sao tao không bao giờ có ghe không?” Lão nói, khi Mão leo lên.

Mão không đáp.

“Tại vì tao không bao giờ dám nhúng tay vào mực.” Lão nói, rít thuốc, quay mặt ra sông.

Lão rít thuốc, nhả khói, quay mặt ra sông. Trên sông, mấy chiếc thuyền nan của người đi soi cá đốt đuốc, ánh lửa chập chờn trên mặt nước đen. Xa xa, phía xưởng thuyền, những bộ xương khổng lồ đứng im lìm trong bóng tối, như một bầy thú đang chờ được thả xuống nước.

Mão nằm xuống khoang. Hắn để bàn tay phải lên ngực, ngón cái chĩa lên, và hắn nhìn nó trong bóng tối, dù không thấy gì. Hắn nghĩ đến lụa. Lụa Bắc mềm, nhẹ, không chảy nước, không mọt. Một chuyến thôi.

Hắn ngủ thiếp đi với ngón tay cái vẫn chĩa lên trời, như người ta giơ ngón tay ra hiệu “được” trong một cuộc mặc cả.

 

Tiếng cưa ở công trường đã dừng. Hai người xẻ gỗ ngồi nghỉ, chia nhau một điếu thuốc lào. Người đứng dưới hố trèo lên, phủi mùn cưa trên tóc, ho một tràng dài.

Lão Câm nhìn bàn tay phải của mình. Ngón cái của lão bây giờ không còn vân. Nó đã mòn, chai, nứt, bị bỏng một lần, bị dập một lần. Không ai còn có thể lấy dấu ngón tay ấy được nữa. Nếu bây giờ có ai đặt trước mặt lão một tờ giấy nợ, lão sẽ ấn ngón tay xuống, và tờ giấy chỉ có một vết đen nhòe nhoẹt, không ra hình gì, không phải của ai.

Lão nghĩ, như thế cũng tốt.

Một thằng bé con người phu xẻ gỗ chạy lại chỗ lão, đứng nhìn. Nó chừng sáu bảy tuổi, đầu trọc, bụng ỏng. Nó nhìn cái vết bỏng trên mặt lão, rồi hỏi, bằng cái giọng Bắc lanh lảnh:

“Ông ơi, ông bị làm sao mà mặt ông thế?” Ngón tay thằng bé chỉ thẳng vào mặt lão.

Lão không trả lời. Lão là người câm.

Thằng bé đứng thêm một lúc, rồi chạy về chỗ cha nó. Lão nghe nó nói: “Bố ơi, ông ấy câm.” Người cha không ngẩng lên. Ông ta đang cầm cái thước tre đo khúc gỗ vừa xẻ, mấp máy môi nhẩm xem mình đã xẻ được bao nhiêu tấc để báo với cai.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px