Hai lần thuế
Lão Câm sờ vào cạp quần.
Cái ống tre vẫn còn đó. Nó dài bằng ngón tay giữa, to bằng ngón cái, hai đầu giờ đã hở, chỉ còn dính mấy vệt sáp ong cũ ngả màu nâu như cục đường thắng quá lửa; mẩu sáp cuối cùng lão đã dùng hết từ mùa hè. Lão buộc nó vào sợi dây lưng bằng một mối nút mà mười sáu năm nay lão buộc đi buộc lại không biết bao nhiêu lần, lần nào cũng đúng một kiểu. Mỗi khi lão sờ thấy nó, cái mấu cứng cứng ấy cấn vào hông, lão lại yên tâm theo cái cách một người mù yên tâm khi chạm vào bức vách.
Trong ống tre có một mảnh giấy. Lão không đọc được giấy. Chưa bao giờ đọc được. Nhưng lão biết trên đó viết gì, vì lão đã bắt ba người khác nhau đọc cho nghe, ở ba nơi khác nhau, cách nhau nhiều năm, và cả ba đều đọc giống nhau.
Một con quạ đậu xuống mái quán, kêu hai tiếng. Lão nhắm mắt.
Người của quan đến lấy ghe vào ngày hai mươi tháng Ba, đúng lúc gió nồm vừa trở.
Đến là một ông cai người Quy Nhơn, mặt rỗ, bụng phệ, đi theo bốn thằng lính và một ông thư lại cắp cuốn sổ. Ông cai không hỏi. Ông đứng trên bờ, chỉ tay vào từng chiếc ghe như người đi chợ chỉ vào con cá, và ông thư lại ghi. Ghe của lão Sáu Bèo. Ghe của nhà họ Trương. Ghe của Mão.
“Ghe này chở được bao nhiêu?” Ông cai hỏi, mắt không nhìn Mão mà nhìn chiếc ghe.
“Dạ, chở đầy chừng trăm giạ, bẩm ông.” Mão nói, bớt đi một nửa.
Ông cai nhìn chiếc ghe, nhìn cái mớn nước, nhìn ba cột buồm. Ông cười, cái cười làm mấy vết rỗ trên má ông dồn lại thành từng cụm.
“Ghe ba buồm mà trăm giạ. Mầy chở bông gòn hả? Ghi hai trăm.” Ông cai vỗ đùi, quay sang thư lại.
Ông thư lại ghi hai trăm.
Mão đứng đó, hai tay buông thõng, và hắn hiểu rằng lời nói dối của mình vừa làm hại mình. Nếu hắn nói thật hai trăm, có khi quan chỉ chất trăm rưỡi, để dành chỗ cho người chèo, cho nước ngọt, cho gạo ăn đường. Bây giờ quan ghi hai trăm, quan sẽ chất đủ hai trăm, để chứng tỏ là quan không bị lừa.
Hắn đã mua ba mươi giạ gạo bằng hai mươi quan tiền trong cái hũ. Không phải sáu chục giạ như hắn tính đêm rằm, vì sáng hôm sau gạo ở chợ Gò Găng đã lên đúng một tiền như chú Hưng nói, rồi đến chiều lên thêm một tiền nữa, vì ai cũng nghĩ như hắn, và hắn mua chậm hơn những người không say. Ba mươi giạ ấy đang nằm trong khoang, phủ chiếu cói, chờ gió nồm.
“Bẩm ông.” Hắn nói. “Trong khoang có ba chục giạ gạo của tui. Gạo buôn. Xin ông cho tui chở theo.”
“Chở theo thì chở. Có ai cấm mầy đâu.” Ông cai phẩy tay. “Nhưng gạo quan chất đủ hai trăm. Gạo mầy, mầy tự lo chỗ.”
“Dạ, chất hai trăm thì hết chỗ…” Mão nói, hai tay xoa vào nhau.
“Thì mầy chất lên mui. Hay mầy đổ xuống đầm cho cá ăn. Tao không biết.” Ông cai nói qua vai, đã bước đi.
Ông quay đi. Thằng lính đi sau cùng, một thằng trẻ măng, tóc còn búi vụng, ngoái lại nhìn Mão một cái. Trong cái nhìn ấy không có gì ác, chỉ có sự tò mò của một đứa trẻ thấy người lớn bị mắng. Mão ghét cái nhìn ấy hơn cả câu nói của ông cai.
Đêm ấy hắn ngồi với Tư Rựa và thằng Ngọ trên mui ghe, tính. Hai trăm giạ gạo quan cộng ba mươi giạ gạo của hắn, ghe sẽ chìm đến mạn. Ra biển mà gặp sóng lớn thì chỉ có nước vứt bớt. Mà vứt thì vứt gạo của ai? Gạo quan có sổ, có dấu, thiếu một giạ là bị đánh. Gạo của hắn thì không có sổ nào.
“Bán bớt đi anh.” Thằng Ngọ nói. “Bán lại ở Gò Găng.”
“Bán lại thì lỗ. Mua lúc gạo lên, bán lúc gạo…” Hắn dừng lại. Gạo vẫn đang lên. Bán lại thì không lỗ, có khi còn lời chút ít. Nhưng lời chút ít ở Gò Găng không phải là cái lời gấp rưỡi ở Phú Xuân mà hắn đã nằm mơ thấy suốt tháng Giêng.
Lão Tư Rựa rít một hơi thuốc lào trong cái ống điếu bằng tre, nhả khói ra từ từ.
“Chất lên mui. Ghe này tao đi mười năm. Nó chịu được.” Lão gõ ống điếu vào mạn ghe, tro rơi lả tả.
“Lỡ gặp sóng?” Mão hỏi, mắt nhìn ra cửa đầm.
“Gặp sóng thì ông Hà Bá lấy. Không gặp thì mầy lấy.” Lão nhả khói, cười khà.
Lão nói như người ta nói chuyện thời tiết. Mão nhìn lão, cái đầu tóc bạc búi lỏng, cái lưng còng vì mấy chục năm kéo buồm, và hắn tự hỏi lão Tư Rựa có bao giờ có ba mươi giạ gạo của riêng mình không. Chắc là không. Người không bao giờ có gì thì nói chuyện mất mát nhẹ như không.
Hắn chất lên mui.
Ghe ra khỏi cửa Thị Nại vào ngày mùng hai tháng Tư, đi cùng mười một chiếc ghe khác bị quan lấy, xếp thành một đoàn. Đi đầu là chiếc ghe của ông cai mặt rỗ. Trên ghe của Mão có một thằng lính áp tải tên là Thuận, chính cái thằng trẻ măng đã ngoái lại nhìn hắn hôm trước. Nó mười bảy tuổi, người ở Phù Mỹ, lần đầu đi biển, ra khỏi cửa đầm chừng một canh giờ thì bắt đầu ói.
Nó ói suốt hai ngày. Nó nằm co ở góc khoang, ôm cây giáo như ôm vợ, mặt xanh như tàu lá chuối non. Thằng Ngọ thương tình múc nước cho nó uống. Mão thì không. Hắn nhìn nó ói mà thấy hả, cái hả của người bị ép thấy kẻ ép mình cũng khổ. Đến ngày thứ ba, khi biển lặng, thằng Thuận ngồi dậy được, ăn được nửa bát cơm, và nó cảm ơn thằng Ngọ, rồi cảm ơn cả Mão, dù Mão chẳng làm gì.
“Anh Mão có ghe riêng, sướng hén.” Thằng Thuận nói, hai tay vẫn ôm bát cơm.
“Sướng chi.” Mão đáp, rít một hơi gió biển.
“Thì có ghe. Nhà tui hông có chi hết. Có ba công ruộng mà là ruộng của ông Cả, nhà tui cày rẽ.” Nó cúi xuống, vét nốt mấy hạt cơm dính đáy bát.
“Rồi sao mầy đi lính?” Mão hỏi, ngồi xuống cạnh nó.
“Thì người ta bắt. Nhà có hai anh em, phải đi một. Anh tui có vợ rồi.” Nó nói, mắt nhìn ra biển, giọng bình thản.
Nó nói giản dị như kể chuyện con trâu nhà nó bị què. Rồi nó hỏi Mão ra Phú Xuân bán gạo được bao nhiêu, Mão nói chưa biết, nó bảo nghe nói vua về rồi, ở Phú Xuân bây giờ cái gì cũng đắt. Mão nghe thế lại thấy cái trống trong ngực đánh lên một tiếng.
Ghe đi dọc bờ, đêm ghé vào các cửa biển. Sa Huỳnh. Sa Kỳ. Cửa Đại Chiêm ở Hội An. Đến cửa Đại thì phải dừng lại.
Cái trạm ở cửa Đại Chiêm là một dãy nhà sàn lợp ngói âm dương, mái cong, cột lim, nằm chếch về phía phố Hội An. Trước kia, hồi Mão còn là bạn ghe, nơi này là chỗ của nhà chúa thu thuế tàu buôn. Rồi đến quân Trịnh, rồi đến quân Tây Sơn của ông Nhạc. Bây giờ thì Mão nghe nói, từ khi hai ông vua anh em chia đất với nhau năm Đinh Mùi, đất từ Bến Ván trở ra Bắc là của ông em, Bắc Bình Vương, tức là ông vua vừa đánh thắng giặc Ngô. Cửa Đại thuộc về ông em. Người thu thuế ở đây là người của Phú Xuân.
Mão không hiểu chuyện vua anh vua em. Hắn chỉ hiểu rằng ở Thị Nại, trước khi ra cửa, hắn đã phải nộp cho trạm của quan trấn Quy Nhơn một khoản thuế “xuất cảng” cho ba mươi giạ gạo của mình: ba tiền rưỡi, có biên. Hắn cầm tờ biên ấy, xếp vào túi áo, coi như xong.
Người của trạm cửa Đại xuống ghe. Một viên thư lại gầy gò, mặc áo dài the đen đã bạc màu ở nách, đi cùng hai tên lính. Hắn không nhìn gạo quan. Gạo quan có giấy, có ông cai mặt rỗ đứng ở ghe bên cạnh. Hắn chỉ nhìn đống bao gạo chất trên mui.
“Gạo này của ai?” Gã hỏi, ngón tay gõ gõ lên bao gạo trên mui.
“Dạ của tui. Gạo buôn. Tui đã nộp thuế ở Thị Nại rồi, đây là biên.” Mão chìa tờ biên ra, hai tay.
Viên thư lại cầm tờ biên, giơ lên ánh sáng nhìn cái dấu son, nhìn như người ta xem một tờ giấy lạ. Rồi hắn trả lại cho Mão.
“Biên này của quan Quy Nhơn.” Gã nói, trả tờ giấy lại, không nhìn Mão.
“Dạ phải.” Mão gật đầu, cầm tờ biên mà không biết để tay đâu.
“Thì quan Quy Nhơn thu thuế ra khỏi đất Quy Nhơn. Còn đây là đất Phú Xuân. Vào đất Phú Xuân thì nộp thuế Phú Xuân.” Gã nói, giọng đều đều, như đọc thuộc lòng.
“Bẩm, tui đã nộp…” Mão nói, giọng run lên ở cuối câu.
“Nộp cho ai thì người đó nhận. Đây chưa nhận.” Gã khoanh tay, đứng chờ.
Hắn nói chậm, rõ, không gắt. Hắn có cái giọng của người đã nói câu ấy cả trăm lần trong mùa này. Hắn đọc một con số, và Mão nghe mà tưởng mình nghe nhầm. Bốn tiền. Hơn cả thuế ở Thị Nại.
“Sao mà nhiều dị?” Mão hỏi, miệng há ra, nghe nhầm hay không cũng chẳng biết.
“Gạo vào Phú Xuân bây giờ đắt. Đắt thì thuế đắt.” Gã nhún vai, như nói chuyện mưa nắng.
Cái lý ấy trơn tru đến mức Mão không biết bám vào đâu mà cãi. Hắn đứng đó, tay vẫn cầm tờ biên của quan Quy Nhơn. Ở ghe bên cạnh, ông cai mặt rỗ đang ngồi xổm ăn bánh tráng nướng, nhìn sang, không nói gì. Mão quay sang ông, như con chó quay sang chủ khi bị chó lạ sủa.
“Bẩm ông cai, gạo tui đi theo đoàn ghe quan…” Mão quay sang, giọng van vỉ.
“Gạo mầy là gạo mầy.” Ông cai nói, miệng còn nhai. “Tao chỉ lo gạo quan.”
Rồi ông nói thêm, với viên thư lại, bằng một giọng khác, thân mật hơn:
“Thầy thu cho nhanh giùm. Mai tui phải qua Hải Vân.” Ông cai nhoẻn miệng cười, mấy vết rỗ dồn lại.
Viên thư lại gật đầu với ông cai. Hai người ấy nhìn nhau một cái, cái nhìn của những người cùng ăn lương nhà nước, dù là nhà nước của hai ông vua khác nhau. Mão đứng ở giữa, và hắn hiểu rằng hai ông vua có thể là anh em, có thể ghét nhau, có thể chia đất, nhưng những người ăn lương của hai ông thì có một thứ ngôn ngữ chung, và hắn không biết thứ ngôn ngữ ấy.
Hắn nộp bốn tiền. Viên thư lại viết biên, đóng dấu, đưa cho hắn một tờ thứ hai. Mão cầm hai tờ biên trên tay, một tờ của Quy Nhơn, một tờ của Phú Xuân, và hắn nghĩ, một cách ngu ngốc, rằng giá như hai tờ giấy này có thể cộng lại thành một bao gạo.
Đêm ấy, ghe đậu ở cửa Đại. Mão không ngủ được. Hắn ngồi trên mui, giữa mấy bao gạo của mình, nghe tiếng nước vỗ, nghe tiếng ai đó hát trên một chiếc thuyền buôn của người Quảng Đông đậu gần đấy. Một thủy thủ trên chiếc thuyền ấy, một gã râu ria, mặc áo ngắn bằng vải dày, bơi xuồng nhỏ sang xin lửa. Gã nói tiếng Việt lơ lớ, nửa Quảng, nửa Tàu. Mão cho gã lửa, gã ngồi lại hút điếu thuốc, và vì chẳng có gì làm, hai người nói chuyện.
“Ông đi đâu về?” Mão hỏi, đưa mồi lửa cho gã châm điếu.
“Đi Gia Định.” Gã nói. “Gạo Gia Định nhiều. Rẻ.”
“Gia Định của ông Nhạc mà.” Mão nhíu mày, ngồi thẳng lên.
Gã thủy thủ cười, hở mấy cái răng vàng khè.
“Không phải nữa. Từ năm ngoái rồi. Ông Nguyễn trở về. Ông Gia Định. Lấy lại thành rồi. Ông không biết hả?” Gã nói, hút một hơi dài, khói phả ra theo từng chữ.
Mão không biết. Ở Thị Nại, người ta có nói đến chuyện này, mùa thu năm ngoái, nhưng nói như nói chuyện ma, chuyện một ông hoàng nào đó trôi dạt ngoài đảo, chuyện một ông Tây nào đó mang tàu sang. Không ai tin lắm. Bây giờ gã thủy thủ này nói như nói chuyện chợ búa: gạo ở Gia Định rẻ, ông Nguyễn mua gạo bằng giá cao hơn người khác để cho thuyền buôn đến bán, ông Nguyễn đánh thuế nhẹ, ông Nguyễn có mấy người Tây giúp đúc súng.
“Thuyền tôi chở gạo Gia Định ra đây. Bán cho Phú Xuân.” Gã chỉ tay về phía chiếc thuyền nằm thấp trong nước.
“Bán cho Phú Xuân? Bên kia là kẻ thù của Phú Xuân mà.” Mão hỏi, giọng lạc đi.
“Gạo đâu có biết kẻ thù.” Gã nói, nhả khói. “Gạo biết giá thôi.”
Gã bơi xuồng về. Mão ngồi lại, nhìn chiếc thuyền buôn Quảng Đông nằm thấp trong nước vì nặng gạo. Hắn tính: nếu chiếc thuyền ấy cũng đi Phú Xuân, nó sẽ đến cùng lúc với hắn, hoặc sớm hơn. Ba mươi giạ của hắn sẽ đứng cạnh mấy trăm giạ gạo Gia Định. Cái giá gấp rưỡi kia sẽ thế nào?
Hắn lại thò lưỡi vào cái lỗ răng hàm. Cái lỗ ấy vẫn ở đó, trơn và lạnh.
Phú Xuân vào tháng Năm nóng như cái lò.
Ghe đi qua cửa Thuận An, ngược sông Hương, đến bến Bao Vinh thì dừng. Sông Hương lúc ấy cạn, nước trong, ven bờ là những đám lục bình và những bãi cát vàng. Bến Bao Vinh đông nghẹt ghe thuyền: ghe chở gạo, ghe chở gỗ, ghe chở đá, ghe chở lính. Mão chưa bao giờ thấy nhiều lính đến thế. Lính đi trên bờ, lính ngồi dưới gốc cây, lính tắm dưới sông, lính áo đỏ, áo đen, khăn đỏ quấn đầu, có đứa còn quấn băng ở chân, ở tay, có đứa chống gậy. Quân từ Bắc về.
Mão nghĩ tới cái tay nải vải xanh. Nó nằm trong khoang, dưới chỗ hắn ngủ. Hắn đã mang nó theo. Hắn tự khen mình vì điều đó, như khen một con chó đã không cắn trộm.
Gạo quan được dỡ ngay hôm ấy, giao cho kho lương. Ông cai mặt rỗ ký giấy, thằng Thuận vác cây giáo đi theo ông, quay lại vẫy tay chào thằng Ngọ. Thằng Ngọ vẫy lại. Mão không vẫy.
Hắn ở lại với ba mươi giạ gạo của mình.
Chiều hôm ấy hắn đi dọc chợ Đông Ba hỏi giá. Giá gạo ở Phú Xuân quả là đắt, đắt hơn ở Gò Găng một nửa, gần đúng như chú Hưng nói. Nhưng người mua thì ít. Chợ đầy người bán. Có ghe từ Quảng Nam ra, ghe từ Quy Nhơn ra, và đậu ngay ở bến dưới, mấy chiếc thuyền Quảng Đông đang dỡ gạo trắng hạt dài mà người ta bảo là gạo Gia Định. Lái buôn Phú Xuân đi qua đi lại, nhìn gạo của Mão, bốc một nắm đưa lên mũi ngửi, vứt lại, trả cái giá chỉ hơn giá Gò Găng có chút ít. Mão không bán. Hắn bảo mai hắn sẽ bán. Mai giá sẽ khá hơn.
Mai thì người của quan đến.
Lần này là một ông cai lương, người Nghệ, nói giọng nặng trịch, mỗi câu như ném xuống một hòn đá. Ông họ Lộc. Ông không mặt rỗ, không bụng phệ, ông gầy và khô như một cây sậy phơi nắng. Ông đi cùng một thư lại và sáu tên lính. Ông đi dọc bến, từ ghe này sang ghe khác, và ở ghe nào có gạo không phải gạo quan, ông dừng lại.
“Gạo ni bán không?” Ông hỏi, ngón tay chỉ thẳng vào đống bao.
“Dạ bán.” Mão đáp, khom lưng xuống.
“Quan mua. Giá quan.” Ông nói, rồi quay sang thư lại gật đầu một cái.
Ông nói con số. Giá quan thấp hơn giá chợ hôm qua, thấp hơn cả giá mà lão lái buôn khó tính nhất trả cho Mão.
“Bẩm, giá chợ…” Mão ngập ngừng, mắt liếc sang mấy chiếc ghe bên cạnh.
“Giá chợ là giá cho người. Giá quan là giá cho quân. Quân ăn trước, người ăn sau. Anh không muốn quân ăn hả?” Ông hỏi, mắt không chớp, như thật lòng ngạc nhiên.
Ông nói câu ấy không phải như một lời đe dọa. Ông nói như người ta nhắc một điều hiển nhiên mà kẻ đối diện đã quên. Mão nhìn ông. Ông Cai Lộc nhìn lại, mắt không chớp, và trong cái nhìn của ông có một thứ gì đó mà Mão không quen gặp ở những người ăn lương: ông tin vào điều ông nói. Ông không ăn tiền. Ông không cười nhạo. Ông thật sự nghĩ rằng ba mươi giạ gạo của Mão nên vào bụng những người lính vừa đánh thắng giặc Ngô, và ông ngạc nhiên vì Mão không nghĩ thế.
Mão đã từng gặp những ông quan tham. Hắn biết cách đối phó với họ: một quan, hai quan, một con gà, một lời nịnh. Nhưng hắn chưa bao giờ gặp một ông quan tin. Và hắn không biết cách nào để đút lót một niềm tin.
“Dạ… quan mua thì tui bán.” Mão nói, đầu cúi xuống, giọng như vừa nuốt một hòn đá.
“Tốt.” Ông Cai Lộc quay sang thư lại. “Ba mươi giạ. Tính tiền.”
Thư lại tính. Mão nghe con số, nhẩm lại, thấy nó chỉ hơn số tiền hắn đã bỏ ra mua gạo ở Gò Găng chừng hai quan, mà chưa trừ tiền thuế hai lần, chưa trừ gạo ăn đường, chưa trừ tiền công cho Tư Rựa và thằng Ngọ. Hắn mở miệng định nói thì thư lại đã đếm tiền.
Đếm được một nửa thì dừng.
“Kho hiện chỉ đủ chừng ni. Nửa còn lại, quan làm giấy. Mang giấy ra kho lương ở thành mà lĩnh, đợi đợt tiền mới về.” Thư lại nói, gạt bàn tính, đặt nửa xâu tiền lên bàn.
Một tờ giấy dó được đặt vào tay Mão. Chữ viết bằng mực tàu, đều đặn, đẹp, đóng một cái dấu son vuông vức. Mão không đọc được. Hắn cầm nó và cảm thấy nó nhẹ, nhẹ đến mức gió sông thổi qua làm nó bay phần phật trong tay hắn.
“Bẩm, đợt tiền mới về khi nào?” Mão hỏi, tay cầm tờ giấy run run trong gió sông.
“Khi mô về thì về.” Ông Cai Lộc nói, và đó là câu duy nhất trong buổi sáng mà ông không có vẻ chắc chắn.
Lính vác gạo đi. Ba mươi giạ, mỗi đứa hai giạ, đi thành hàng dọc trên cầu ván, như kiến tha mồi. Mão đứng trên mui ghe nhìn theo. Lão Tư Rựa ngồi ở mũi ghe, rít thuốc lào, không nói gì. Thằng Ngọ thì ngồi đếm nửa số tiền vừa nhận, đếm hai lần, rồi ngẩng lên, nhìn Mão, mặt ngơ ngác như con bê lạc mẹ.
“Anh Mão, vậy là lời hay lỗ?” Thằng Ngọ hỏi, tay vẫn còn cầm xâu tiền, mặt ngơ ngác.
Mão không trả lời. Hắn cũng không biết. Hắn chỉ biết rằng cái tờ giấy trong tay hắn là một nửa số tiền của hắn, và nó nhẹ.
Hắn ở lại Phú Xuân thêm bốn ngày để đi lĩnh tiền. Hắn lên kho lương ở thành ba lần. Lần thứ nhất người ta bảo đợt tiền chưa về. Lần thứ hai người ta bảo về rồi nhưng phát cho lính trước. Lần thứ ba thì người gác cổng kho không cho hắn vào, vì hôm ấy có quan lớn đến.
Ngày thứ tư, hắn không lên kho nữa. Hắn đi tìm thằng Lượng.
Hắn không đi vì thương thằng Lượng. Hắn đi vì hắn đã ở lại Phú Xuân bốn ngày, đã mất bốn ngày, và hắn không muốn về đến Thị Nại mà chỉ mang theo nửa số tiền và một tờ giấy. Hắn muốn mang về ít nhất một thứ gì đó cho Liễu: một cái tin. Thằng Lượng còn sống, đang ở trại nọ, khỏe mạnh, gửi lời thăm dì. Một cái tin như thế sẽ làm Liễu không nhìn hắn bằng cái nhìn đêm rằm nữa.
Hắn cắp cái tay nải vải xanh, đi dọc các trại lính quanh thành. Hắn hỏi: có ai biết thằng Lượng, người xóm muối Thị Nại, nói lắp, theo quân ông Đô đốc… Hắn không nhớ tên ông Đô đốc. Liễu cũng không nhớ. Người ta nhìn hắn như nhìn một thằng điên. Cả vạn lính, ai biết thằng Lượng nào.
Đến xế chiều thì hắn gặp một thằng lính ngồi dưới gốc đa gần cửa Đông Ba. Thằng lính ấy một chân quấn vải, mặt hốc hác, tóc rối, đang ngồi bắt rận trong vạt áo. Nó nghe hắn hỏi, ngẩng lên, nheo mắt.
“Xóm muối Thị Nại hả? Nói lắp hả?” Thằng lính hỏi lại, nheo mắt, tay ngừng bắt rận.
“Ừ, ừ.” Mão gật đầu lia lịa, ngồi xổm xuống trước mặt nó.
“Tui biết.” Nó nói. Rồi nó dừng lại, nhìn cái tay nải.
Mão hiểu ngay. Hắn đã sống ở bến cá hai mươi năm, hắn biết cái nhìn ấy. Đó là cái nhìn của một người sắp bán một thứ gì đó.
“Nó ở đâu?” Mão hỏi, nắm chặt cái tay nải.
“Nó ở lại ngoài Bắc. Cả cánh nó ở lại giữ thành Thăng Long. Tui bị thương nên được về.” Thằng lính nói, giọng trơn tru, mắt vẫn không rời cái tay nải.
“Nó còn sống hả?” Mão hỏi, nghe tim mình đập thình thịch trong tai.
“Còn. Hồi tui đi thì còn.” Nó gật đầu, gãi gãi cái chân quấn vải.
Thằng lính nói trơn tru. Quá trơn tru. Mão nghe mà biết nó có thể đang nói dối, cũng như hắn đã biết lúc tự kể chuyện con voi của vua ở tiệc mừng. Nhưng biết thì biết, hắn vẫn muốn tin. Cái tin ấy là thứ hắn đã đi cả buổi chiều để mua.
“Mầy có ra lại Bắc không?” Mão hỏi, ngập ngừng.
“Có. Tháng sau. Lành chân thì ra.” Nó vỗ vào cái chân quấn vải, cười.
Mão nhìn cái tay nải. Trời Phú Xuân tháng Năm nóng đến mức hắn đi một buổi chiều mà áo ướt sũng. Cái áo kép bông trong tay nải, cái áo dì Năm vá hai miếng ở vai cho thằng Lượng khỏi lạnh ngoài Bắc, bây giờ cầm trên tay hắn như một hòn than.
Hắn đưa cái tay nải cho thằng lính.
“Mầy đưa giùm nó. Nói là của má nó gởi.” Mão nói, giọng khàn, không nhìn vào mặt nó.
Thằng lính cầm lấy, gật đầu, cười. Nó không mở ra xem. Nó không cần mở. Nó đặt cái tay nải xuống cạnh mình, tiếp tục bắt rận.
Mão đi được một quãng thì quay lại. Hắn không biết mình quay lại để làm gì. Có lẽ để đòi lại. Có lẽ để hỏi thêm một câu. Nhưng khi hắn quay lại, thằng lính đã mở tay nải, đang bốc muối mè trong gói lá chuối ăn ngon lành, cái áo kép vắt trên đầu gối. Nó nhìn thấy Mão, không giấu, chỉ giơ nắm muối mè lên như mời.
Mão đứng đó một lúc. Rồi hắn quay đi thật.
Trên đường về bến, hắn tự nói với mình nhiều câu. Thằng lính ấy đói. Thằng lính ấy cũng đã đánh giặc Ngô. Muối mè thì đằng nào cũng mốc. Cái áo thì ra Bắc nó sẽ cần. Có khi nó gặp thằng Lượng thật. Có khi nó chính là bạn thằng Lượng thật. Hắn đã làm đúng lời hứa: đưa cái áo cho một người lính. Lời hứa không nói là người lính nào.
Đến bến thì hắn đã tự thuyết phục được mình đến tám phần. Hai phần còn lại hắn mang theo về Thị Nại.
Đêm cuối ở Phú Xuân, trước khi nhổ neo, Mão ngồi một mình trên mui ghe, cầm tờ giấy biên nhận của ông Cai Lộc.
Hắn sợ nó ướt. Ra biển, sóng tạt vào, mưa giông, mồ hôi, cái gì cũng có thể làm nó nát. Hắn lấy con dao nhỏ, chặt một khúc tre đực ngắn trong đống tre làm sạp, vót sạch, khoét ruột. Hắn cuộn tờ giấy lại thật chặt, nhét vào. Rồi hắn lấy một mẩu sáp ong mua ở chợ Đông Ba, hơ lửa cho mềm, bịt kín hai đầu. Hắn làm cẩn thận như người ta làm một việc thiêng. Lão Tư Rựa nằm ở mũi ghe, nhìn hắn làm, không hỏi.
Khi xong, hắn buộc cái ống tre vào dây lưng. Nó cấn vào hông, cứng và nhỏ.
“Mầy giữ cái đó làm chi?” Cuối cùng lão Tư Rựa hỏi. “Nó không trả đâu.”
“Có dấu son mà chú.” Mão nói, tay sờ lên cái ống tre ở hông.
“Dấu son thì dấu son. Tao có cả một xấp dấu son. Của chúa, của ông Nhạc, của quan Trịnh. Mấy năm nay tao lấy nó dán vách cho khỏi gió lùa.” Lão Tư Rựa cười khùng khục, quay mặt ra sông.
Mão không đáp. Hắn sờ cái ống tre qua lớp vải. Hắn biết lão Tư Rựa nói đúng. Hắn biết điều ấy từ lúc tờ giấy được đặt vào tay hắn. Nhưng nếu hắn vứt tờ giấy đi, nghĩa là hắn thừa nhận đã mất một nửa. Còn nếu hắn giữ, thì một nửa ấy vẫn còn, ở đâu đó, đang chờ.
Gió nồm thổi ngược. Muốn về Thị Nại phải chờ gió bấc, hoặc chèo, hoặc đi vòng. Mão quyết định chèo. Ba người đàn ông chèo một chiếc ghe ba buồm ngược gió, mỗi ngày đi được một nửa quãng đường lúc ra.
Họ về đến bến Thị Nại vào đầu tháng Sáu. Liễu đứng ở cầu tàu, thằng Cu trên hông. Chị nhìn hắn bước lên, nhìn hai bàn tay phồng rộp vì chèo, nhìn cái túi tiền lép kẹp ở thắt lưng. Rồi chị nhìn xuống khoang ghe, tìm cái tay nải vải xanh.
“Gặp thằng Lượng không ông?” Chị hỏi, mắt vẫn tìm cái tay nải dưới khoang ghe.
“Gặp người quen nó. Nó còn sống. Ở lại giữ Thăng Long.” Hắn nói, nhanh, gọn, không nhìn chị. “Áo tui gởi rồi.”
Liễu đứng im. Rồi chị gật đầu, quay đi, nói với thằng Cu một câu gì đó mà Mão không nghe rõ. Cái lưng chị thẳng, bước chị đều. Hắn đứng trên cầu tàu nhìn theo, và hắn không biết chị có tin không.
Mùa thu năm ấy, dì Năm nhận được tin thằng Lượng chết vì bệnh thổ tả ở một trại lính ngoài Thanh Hoa từ hồi tháng Hai, trước cả lúc Mão ra Phú Xuân. Người báo tin là một người lính cùng làng, về tận nơi, mang theo cái nón lá của nó.
Liễu không nói gì với Mão về chuyện ấy. Chị chỉ không bao giờ hỏi lại về cái áo.
Con quạ trên mái quán đã bay đi. Lão Câm mở mắt. Tay lão vẫn đặt lên cạp quần, lên cái ống tre.
Mười sáu năm. Ba người đã đọc tờ giấy cho lão nghe. Một ông thầy đồ ở Quy Nhơn, năm Ất Mão. Một thằng thư lại say rượu trong thành Hoàng Đế, năm Mậu Ngọ. Một ông đồ Nghệ ở bên đường, năm Quý Hợi. Cả ba đều đọc giống nhau: “Thu của dân Lê Văn Mão, người phủ Quy Nhơn, gạo ba mươi giạ, đã trả nửa, nửa còn lại đợi lĩnh tại kho. Năm Kỷ Dậu, tháng Năm.”
Ông đồ Nghệ đọc xong thì cười, hỏi lão có biết cái kho ấy bây giờ ở đâu không. Lão lắc đầu. Ông đồ nói kho ấy là kho của Ngụy, vua Ngụy đã chết, kho đã cháy, quan giữ kho đã bị chém, ai trả cho lão bây giờ?
Lão đã cầm tờ giấy về, cuộn lại, nhét vào ống tre, lấy sáp ong bịt lại như cũ.
Ngoài kia, ở công trường, có tiếng ai đọc tên phu. Một thư lại đứng trên đống gạch, cầm cuốn sổ, đọc từng tên một, và mỗi cái tên được gọi thì có một người đàn ông dạ lên một tiếng. Lão nằm nghe. Lão đếm. Ba mươi hai tên. Không có tên nào là tên lão.