Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Áo Rách Ngụy Tây

Rượu mừng ở bến Thị Nại

Tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789). Bến Thị Nại, phủ Quy Nhơn.

 

Tiếng trống ở công trường lại nổi lên khi trời chưa sáng hẳn.

Lão Câm nằm co dưới mái quán chợ bỏ hoang, đầu gối kề cằm, hai bàn tay kẹp giữa hai đùi cho đỡ lạnh. Cái chiếu rách lão đắp chỉ đủ che từ vai xuống hông, gió heo may từ phía sông Nhị lùa vào ống chân. Trống đánh ba hồi, mỗi hồi chín tiếng, cách đánh của bọn cai phu người Bắc: dồn dập ở đầu, thưa dần ở cuối, như người ta gõ cho xong việc. Ở đằng kia, sau mấy đống gạch vỡ, phu đã lục tục dậy. Có tiếng ho, tiếng khạc, tiếng một thằng nào chửi mẹ cái rét.

Lão không dậy. Lão đã không dậy được từ hôm kia. Cơn sốt đến từ chiều, lúc lão đang ngồi nhặt mấy hạt gạo vãi dưới chân một gánh hàng, và đến đêm thì nó ngồi hẳn lên ngực lão, nặng như một con chó nằm. Lão nghe tiếng trống mà không biết là trống ở đây hay trống ở trong đầu mình.

Hồi ấy cũng trống. Trống đánh rền cả bến, không theo hồi nào, cứ ai cầm được dùi thì đánh.

 

Hồi ấy hắn còn có tên. Người bến Thị Nại gọi hắn là anh Mão ghe bầu, để phân biệt với thằng Mão bán mắm ở đầu chợ, một thằng lùn, hôi, chẳng ai muốn bị lẫn với nó. Hắn ba mươi tuổi, có một chiếc ghe bầu ba buồm cói đóng bằng gỗ sao, đáy trét dầu rái, mũi vẽ hai con mắt đỏ. Chiếc ghe không lớn, chở đầy được chừng hai trăm giạ gạo, so với ghe của các ông chủ người Minh Hương thì chỉ như con bê đứng cạnh con trâu. Nhưng nó là của hắn. Hắn mua nó bằng tiền tám năm đi bạn ghe cho người khác, bằng hai lần suýt chết đuối ngoài cửa Đề Gi, bằng một bên răng hàm bị thằng cai thuyền đánh gãy khi hắn mười bảy tuổi. Mỗi lần ngồi trên mạn ghe, hắn lại thò lưỡi vào cái lỗ răng ấy, như người ta sờ túi tiền.

Sáng hôm ấy là ngày mười bốn tháng Giêng. Gió bấc vẫn còn, biển ngoài cửa đầm trắng xóa, chưa ghe nào dám ra. Mão đang trét lại một kẽ ván ở hông ghe bị hà ăn. Hắn trét kỹ, miết bằng ngón cái cho dầu rái ăn vào từng thớ gỗ, vì hắn tính, tháng Ba có gió nồm là hắn sẽ là chiếc ghe đầu tiên ở bến này giương buồm ra Phú Xuân. Ghe đầu mùa bán được giá đầu mùa. Ghe thứ mười chỉ bán được cái giá người ta trả cho ghe thứ mười.

Lão Tư Rựa, bạn ghe già nhất của hắn, ngồi trên mũi ghe vá lưới. Lão không vá lưới để đánh cá, lão vá vì tay lão không biết ngồi yên. Thằng Ngọ, mười tám tuổi, nằm ngửa trong khoang hát nghêu ngao một câu hò không đầu không đuôi.

“Ngọ, mầy hát hoài dị thì cái ghe nó trét giùm tao hả?” Mão không ngẩng lên, ngón cái vẫn miết dầu rái vào kẽ ván.

“Dạ, còn gió bấc mà anh Mão. Trét chi gấp.” Thằng Ngọ nằm ngửa, gác tay lên trán, mắt lim dim.

“Trét lúc gió bấc thì gió nồm mới đi. Đợi gió nồm mới trét thì mầy ngồi nhìn nẫu đi.” Mão hất hàm về phía cửa đầm, nơi sóng còn trắng xóa.

Thằng Ngọ ngồi dậy, lấy cái que khều dầu rái, làm được ba cái thì lại dừng. Mão biết nó không lười. Nó đang để ý con Thơm, con gái bà bán bánh ít lá gai ở đầu bến, và mỗi lần con Thơm đi ngang thì tay nó lại dừng. Hắn không mắng nữa. Hắn nhớ hồi mười tám tuổi, hắn cũng từng dừng tay như thế, vì một đứa con gái mà bây giờ hắn không nhớ tên.

Tiếng trống nổi lên ở phía thành.

Ban đầu chỉ có một cái trống, rồi hai, rồi trống ở đình bến cũng đánh theo. Tư Rựa ngẩng đầu, tay còn cầm kim lưới. Thằng Ngọ đứng hẳn lên, suýt làm lật cái nồi dầu rái.

“Giặc hả anh?” Thằng Ngọ đứng hẳn lên, cái nồi dầu rái chao nghiêng dưới chân nó.

“Giặc đâu mà giặc. Giặc ở ngoài Bắc kia mà.” Mão nói, mắt vẫn dõi về phía thành.

Nói thế, nhưng chính Mão cũng thấy cái bụng mình thắt lại. Trống mà đánh giữa tháng Giêng thì chẳng mấy khi là chuyện vui. Năm ngoái trống đánh để bắt phu. Năm kia trống đánh để báo quan về thu thuế đinh. Người bến Thị Nại nghe trống thì việc đầu tiên là nhìn xem nhà mình có thằng đàn ông nào đang lảng vảng ngoài đường không.

Nhưng lần này người ta không chạy vào nhà. Người ta chạy ra.

Một thằng lính trạm cưỡi ngựa từ phía thành Hoàng Đế phi xuống, áo dấu đỏ ướt mồ hôi, vừa phi vừa la, giọng khản đặc. Phải đến lần thứ ba Mão mới nghe ra nó la gì:

“Thắng rồi! Bắc Bình Vương phá giặc Ngô rồi! Ra Thăng Long rồi! Ngô chạy hết rồi!” Giọng gã khản đặc, roi ngựa quất vun vút trên đầu.

Bến cá sôi lên.

 

Đến xế chiều thì cả bến đã biết đủ thứ chuyện mà không ai biết thật. Người thì bảo vua Bắc Bình Vương đánh đúng ngày mùng năm Tết, giết sạch hai mươi vạn quân Ngô. Người thì bảo ba mươi vạn. Bà bán bánh ít lá gai thề rằng thằng cháu nhà bà ở trạm ngựa nghe chính miệng quan nói rằng vua cưỡi voi đi đầu, áo bào đen như mực, lửa bắn vào áo mà không cháy. Ông đồ dạy học ở xóm trên, người ta mời ra đình đọc tờ cáo thị dán ở cột, thì đọc rằng quan Tôn Sĩ Nghị bỏ cả ấn tín mà chạy qua sông, cầu phao đứt, quân Ngô chết nghẽn cả dòng sông Nhị Hà. Đọc đến đó ông dừng lại, gỡ cặp kính lão ra lau, như để cho người ta kịp vỗ tay.

Người ta vỗ tay thật. Rồi người ta mổ heo.

Mão góp nửa quan tiền vào con heo của xóm bến. Nửa quan là nhiều, gần bằng giá ba giạ gạo, nhưng hắn góp không tiếc. Hắn đứng cạnh chỗ người ta thui heo, khói rơm cay xè, mỡ heo xèo xèo nhỏ xuống than, và hắn thấy trong ngực mình có cái gì cứ phồng lên mãi. Không phải chỉ vì vui. Hắn chưa bao giờ ra Bắc, không biết Thăng Long là cái thành to bằng chừng nào, không quen một ông tướng nào. Nhưng hắn là người Tây Sơn. Hắn sinh ra ở xóm Bàu Sen, cách cái ấp Kiên Mỹ của nhà các ông Nguyễn chưa đầy hai ngày đường. Hồi các ông mới dấy binh, hắn mười hai, mười ba tuổi, đã từng đứng ở ven đường xem đoàn người cầm giáo tre, cầm gậy, cờ đỏ phấp phới đi qua làng. Người ta bảo các ông lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo. Nhà hắn chẳng được chia gì, nhưng hắn vẫn nhớ cái cảm giác lần đầu thấy một ông cai thu thuế của chúa bị người ta trói vào cột đình. Bây giờ người của các ông ấy đuổi được cả quân Ngô. Hắn cảm thấy, một cách mơ hồ, rằng hắn cũng có phần trong cái chiến thắng ấy, như một người đứng xem đánh vật cảm thấy mình có phần khi đô vật làng mình quật ngã đô vật làng khác.

Rượu đế bỏ trong chum, múc bằng gáo dừa. Mão uống gáo thứ nhất vì vui. Gáo thứ hai vì người ta mời. Gáo thứ ba thì hắn bắt đầu nói.

“Tui nói mấy ông nghe nè. Quân Ngô nó to con thiệt, mà nó ngu. Đánh trận mà nó ăn Tết. Ai đời đánh trận mà ăn Tết.” Mão vung gáo rượu lên, rượu sóng sánh ra ngoài.

“Thì mình cũng ăn Tết đó chớ.” Một người cười.

“Mình ăn Tết sau. Đánh xong rồi mới ăn. Tui nghe nói vua cho quân ăn Tết trước, ăn Tết sớm, rồi mới kéo đi đánh. Dị đó, ăn trước rồi đánh, đánh xong thì ăn tiếp.” Hắn gõ gáo dừa vào đầu gối, như gõ nhịp.

Chẳng ai biết chuyện ấy hắn nghe từ đâu, kể cả hắn. Nhưng nói ra thì nó nghe có lý, và người ta gật gù. Hắn được thể nói tiếp. Hắn tả con voi của vua, tả cái mũ trụ, tả cách chém đầu một viên tướng Ngô, hai tay vung lên như người cầm mã tấu, làm đổ cả gáo rượu của người bên cạnh. Đến lúc ấy thì hắn đã kể như thể hắn đứng ngay cạnh con voi. Mà hắn tin. Cái tài của rượu là ở chỗ ấy: nó không làm người ta nói dối, nó làm người ta tin những điều người ta vừa bịa ra.

Chỉ có lão Tư Rựa là không gật gù. Lão ngồi xổm ở rìa đám đông, nhai một miếng thịt ba chỉ nhai mãi không hết, mắt nhìn ra phía đầm. Lúc Mão kể xong một đoạn, lão nói, không to, nhưng đủ cho mấy người gần nghe:

“Đánh xong thì quân về. Quân về thì phải ăn.” Mắt lão Tư Rựa vẫn nhìn ra phía đầm, miệng vẫn nhai.

Mão nhìn lão. Hắn đang say, nhưng câu ấy rơi vào chỗ tỉnh nhất trong đầu hắn, như một hòn sỏi rơi vào đúng giữa cái mâm.

Quân về thì phải ăn. Mấy vạn người ra Bắc, mấy vạn người về Nam, đi bộ qua mấy trăm dặm đường, qua những vùng mà năm ngoái người ta đã đói. Gạo phải đi theo quân. Ghe phải chở gạo. Mà gạo thì phải mua của ai đó.

Hắn quay sang tìm người. Chú Lưu Hưng đang ngồi trên cái ghế đẩu duy nhất của đám tiệc, cái ghế người ta khiêng từ trong đình ra, vì chú là người góp nhiều tiền nhất vào con heo. Chú mặc áo the xanh, cổ đứng, xẻ nách kiểu người Minh Hương, đầu cạo nửa trước, nửa sau tết đuôi sam thả xuống lưng. Chú không uống rượu đế. Chú uống trà, rót từ một cái ấm đất nhỏ mà thằng hầu xách theo.

Mão bưng gáo rượu đến, ngồi xổm cạnh chân ghế.

“Chú Hưng. Chú thấy năm nay gạo ra Phú Xuân giá chừng nào?” Mão nói, giọng chùng xuống, như người hỏi mượn.

Chú Hưng không nhìn hắn ngay. Chú thổi chén trà, uống một ngụm, đặt chén xuống lòng bàn tay, rồi mới quay sang. Mắt chú nhỏ, mí sụp, trông lúc nào cũng như đang buồn ngủ, nhưng Mão biết chính cặp mắt ấy đã đếm tiền ở bến này hai mươi năm mà chưa đếm sai một đồng.

“Anh Mão hỏi giá gạo lúc ăn tiệc mừng. Anh Mão là người biết buôn.” Chú nói chậm, ngón tay xoay xoay cái chén trà.

“Thì hỏi dị thôi.” Mão gãi đầu, cười hề hề.

“Ngày mai.” Chú Hưng nói, chậm, mỗi chữ như được cân trước khi thả ra. “Ngày mai gạo ở chợ Gò Găng sẽ lên. Không lên nhiều. Lên một tiền một giạ. Tại vì ngày mai mấy người ở đây tỉnh rượu, cũng nghĩ như anh Mão. Tháng Ba thì gạo ở Phú Xuân lên gấp rưỡi. Tại vì quân về.”

“Gấp rưỡi?” Mão buột miệng, suýt đánh rơi gáo rượu.

“Có khi gấp đôi. Lị cũng không biết. Lị không phải vua.” Chú Hưng nhún vai, nhấp thêm một ngụm trà.

Chú cười, cái cười chỉ ở miệng. Rồi chú quay đi, nói chuyện với ông Xã Đạt đang đứng cạnh, ông Xã đội khăn xếp, mặc áo dài the thâm, hôm nay vui ra mặt vì quan trên vừa gửi về một tờ khen làng nộp thuế đủ. Mão biết thế là hết, chú Hưng chỉ cho không người ta chừng ấy thôi. Nhưng chừng ấy là đủ.

Hắn đứng dậy, chân hơi chênh vênh, và lần đầu tiên trong buổi chiều hắn không thấy cái trống trong ngực nữa. Thay vào đó là một cái bàn tính. Hắn có ba mươi tám quan tiền trong cái hũ sành chôn dưới gầm giường. Ba mươi tám quan, giá gạo chợ Gò Găng hôm nay là sáu tiền một giạ, nghĩa là được hơn sáu chục giạ. Nếu mua ngay sáng mai, trước khi người ta tỉnh rượu, thì được hơn sáu chục giạ. Nếu tháng Ba ra Phú Xuân bán gấp rưỡi… Hắn không biết tính nhẩm phân số, nhưng hắn biết cảm giác của một con số đang phình ra.

Hắn uống nốt gáo rượu và đi về.

 

Nhà hắn là một gian rưỡi lợp tranh thuê của chú Hưng, nằm cuối dãy nhà sát mé đầm, cột tre, vách đất trộn rơm, mùa mưa nước tràn vào đến chân giường. Mỗi tháng hắn trả chú Hưng ba tiền. Hắn đã tính năm nay buôn được thì sẽ về Bàu Sen dựng lại cái nhà của má, nhưng năm nào hắn cũng tính thế.

Liễu ngồi bên bếp, thằng Cu ngủ trên đùi. Thằng Cu mới tròn một năm, đầu to, bụng to, chân khẳng khiu, mỗi lần ngủ lại chép miệng như đang bú. Liễu đang cời lửa nồi cháo. Trong ánh lửa, hàm răng nhuộm đen của chị bóng lên khi chị ngẩng lên nhìn hắn.

“Ông say rồi.” Liễu nói, không ngẩng lên, que củi trong tay vẫn cời lửa.

“Say chi mà say. Mừng thắng trận mà.” Mão phẩy tay, hơi rượu phả ra cả gian bếp.

“Mừng thắng trận thì mừng ở ngoài kia. Về đây đừng có ói ra nhà tui.” Chị nhăn mũi, kéo thằng Cu sát vào lòng.

Mão cười, ngồi phịch xuống chõng tre. Hắn với tay xoa đầu thằng Cu, thằng bé giật mình cựa quậy, Liễu lấy tay vỗ lưng con mấy cái cho nó ngủ lại, rồi gạt tay chồng ra.

“Ông nghe gì không, có tin chi về mấy người đi lính không?” Chị hỏi, giọng nhỏ, mắt nhìn vào bếp lửa.

“Tin gì?” Mão hỏi lại, tay vẫn mân mê mái tóc thằng Cu.

“Thì tin coi ai còn ai mất. Thằng Lượng đó. Thằng Lượng con dì Năm.” Liễu nói, tay vỗ vỗ lưng con.

Mão nhớ ra. Thằng Lượng là em họ của Liễu, con dì Năm ở xóm muối bên kia đầm, đi lính từ mùa thu năm ngoái, theo cánh quân của một ông Đô đốc nào đó mà Liễu không nhớ tên. Thằng nhỏ hai mươi tuổi, đen nhẻm, nói lắp, mỗi lần sang chơi lại mang cho thằng Cu một con cá đuối phơi khô. Hắn chưa bao giờ để ý tới nó lâu hơn thời gian ăn một bữa cơm.

“Tin chi mà tin. Thắng trận rồi. Thắng trận thì về.” Mão nhún vai, ngả lưng ra chõng.

“Đánh nhau thì có người chết chớ, ông.” Chị nói khẽ, như nói với ngọn lửa.

“Chết thì chết mấy ông lính trơn ở đằng trước. Thằng Lượng nói lắp vậy, ai cho nó đứng đằng trước.” Mão cười khẩy, gác một chân lên chõng.

Hắn nói thế, và chính hắn cũng không hiểu cái logic ấy ở đâu ra, nhưng Liễu im. Chị múc cháo ra bát, bát cháo gạo tấm nấu với mấy con tép khô, đưa cho hắn. Hắn húp một hơi, nóng bỏng lưỡi, và giữa lúc cái lưỡi còn rát thì hắn nói, như tiện miệng:

“Mai tui lên Gò Găng mua gạo.” Lưỡi Mão vẫn còn rát, nước cháo đọng ở mép.

“Mua gạo chi? Nhà còn nửa thúng.” Liễu dừng tay múc cháo.

“Mua gạo đi buôn. Tháng Ba ra Phú Xuân.” Mão đặt bát xuống, quệt miệng bằng mu bàn tay.

“Tháng Ba mới đi mà mua chi từ giờ.” Chị cau mày, cái muôi còn cầm lơ lửng.

“Bà hông biết. Mai gạo lên. Chú Hưng nói.” Mão nói, giọng chắc nịch như đã tính xong.

Liễu nhìn hắn. Rồi chị nhìn xuống gầm giường, chỗ cái hũ sành, rồi lại nhìn hắn.

“Ông lấy hết hả?” Chị hỏi, giọng hạ thấp hẳn.

“Lấy hết thì mới ra lời.” Mão đáp, mắt không nhìn chị.

“Lỡ có chuyện chi…” Liễu bỏ lửng câu nói, tay siết vạt áo.

“Chuyện chi là chuyện chi? Thắng trận rồi mà bà. Thắng giặc Ngô rồi. Chừ thiên hạ thái bình. Thái bình thì buôn bán.” Mão nói một hơi, ngực ưỡn ra như người đứng trên mui ghe.

Cái chữ “thái bình” hắn nghe ông đồ đọc chiều nay ở đình, và nó còn nằm trong miệng hắn như một hạt tiêu chưa nhai. Hắn thấy nói chữ ấy ra thì mình to lên một chút. Liễu không biết chữ, chị chỉ biết rằng khi chồng chị bắt đầu nói chữ thì chẳng ai cãi được hắn nữa.

Chị ngồi im một lúc, tay vẫn vỗ nhẹ lên lưng thằng Cu. Rồi chị nói, giọng nhỏ đi:

“Dì Năm có gởi cái này.” Chị đứng dậy, với tay lên gác bếp.

Chị với tay lên gác bếp, lấy xuống một cái tay nải vải xanh buộc túm. Trong đó có một cái áo kép bông cũ, vá hai miếng ở vai, và một gói lá chuối bọc mấy nắm muối mè rang. Đè lên trên là một mảnh giấy dó gấp tư, chữ viết lem nhem.

“Dì nhờ ông, tháng Ba ra Phú Xuân, hỏi coi quân nào về, thằng Lượng ở đâu, đưa giùm nó cái áo. Ngoài Bắc lạnh. Dì nói nghe người ta nói ngoài Bắc lạnh lắm.” Chị nói, tháo cái nút buộc tay nải, chìa ra trước mặt chồng.

Mão cầm cái tay nải. Nó nhẹ hều, chẳng nặng bằng nửa giạ gạo. Nhưng hắn cầm nó mà cảm thấy khó chịu, một cái khó chịu không có hình thù gì, như khi người ta cầm một vật gì không phải của mình.

“Phú Xuân bự lắm. Quân về cả vạn người. Biết nó ở đâu mà kiếm.” Mão xoay xoay cái tay nải trong tay, như cân một món hàng.

“Thì ông hỏi giùm. Hỏi được thì hỏi. Dì Năm có một mình nó.” Liễu nhìn thẳng vào mặt chồng.

“Ừ.” Mão đáp, giọng nhỏ, quay đi chỗ khác.

“Ông hứa đi.” Chị nói, không chớp mắt.

“Ừ, thì hứa.” Mão cười gượng, đặt cái tay nải xuống chõng.

Hắn ném cái tay nải lên chỗ đầu giường, chỗ cái gối gỗ. Liễu nhìn theo nó một lúc, rồi đứng dậy bế thằng Cu vào trong. Chị không nói gì nữa. Nhưng cái cách chị không nói làm Mão thấy như mình vừa bị ai đánh vào gáy một cái, không đau mà khó chịu.

Hắn nằm xuống chõng. Rượu bắt đầu đổi chiều trong người hắn, cái ấm áp lúc nãy giờ thành một cái nóng bức, mồ hôi rịn ra ở cổ. Hắn nghĩ tới thằng Lượng. Hắn cố nhớ mặt nó, mà chỉ nhớ được cái cách nó lắp bắp chữ “a-anh Mão”, và mấy con cá đuối khô. Hắn nghĩ tới cảnh nó nằm đâu đó ngoài kia, trong cái lạnh mà dì Năm chỉ biết qua lời người ta kể. Hắn nghĩ tới việc ở Phú Xuân, giữa cả vạn người, hắn phải đi từ trại này sang trại khác để hỏi một thằng lính nói lắp. Mất một ngày. Có khi hai ngày. Mà hai ngày ở Phú Xuân, khi ghe gạo đang đậu, là hai ngày người ta có thể ép giá hắn, hai ngày gạo trong khoang có thể ẩm, hai ngày tiền thuê bến.

Hắn không thích cái ý nghĩ ấy. Nhưng nó đến trước, trước cả cái ý nghĩ về thằng Lượng nằm trong lạnh. Hắn biết thế, và hắn thấy mình đểu.

Rồi hắn tự nhủ: ai mà chẳng thế. Chú Hưng mà nghe chuyện này thì còn chẳng thèm cầm cái tay nải. Ông Xã Đạt thì sẽ đòi tiền công. Hắn ít ra còn cầm nó, còn hứa. Hắn không phải người xấu. Hắn chỉ là người biết tính.

Nghĩ đến đấy thì hắn thấy dễ chịu hơn, và cái dễ chịu ấy làm hắn ngạc nhiên. Thì ra để thôi thấy mình đểu, chỉ cần tìm ra một người đểu hơn mình. Hắn lấy tay gạt mồ hôi ở cổ, xoay người vào vách, và cái tay nải vải xanh nằm đó, ngay đầu giường, gần tới mức nếu hắn cựa đầu là chạm phải.

 

Hắn ngủ được một giấc ngắn, nặng như bị ai đè.

Lúc hắn tỉnh thì trăng rằm đã lên cao, ánh trăng lọt qua mấy lỗ thủng trên mái tranh, rơi thành những đồng tiền trắng trên nền đất. Ngoài bến, tiệc đã tàn. Còn lại vài tiếng hát say, tiếng chó sủa, tiếng sóng đầm vỗ vào chân cọc. Liễu ngủ ở gian trong với thằng Cu. Hắn nghe tiếng thở của hai mẹ con, đều đều, chen với tiếng muỗi.

Hắn khát nước. Hắn ngồi dậy, rót nước trong cái ấm đất uống ừng ực. Rồi hắn nhìn xuống gầm giường.

Hắn quỳ xuống, thò tay vào gầm, gạt lớp đất mỏng phủ trên miệng hũ. Cái hũ sành lạnh ngắt. Hắn mở nắp, thọc tay vào. Tiền đồng xâu thành từng chuỗi, mỗi chuỗi một quan, buộc bằng dây gai. Hắn lôi ra từng chuỗi, đặt lên nền đất dưới ánh trăng, và đếm.

Hắn đếm không phải vì không biết có bao nhiêu. Hắn biết là ba mươi tám. Hắn đếm vì cái cảm giác những đồng tiền lạnh, nặng, cọ vào nhau trong tay. Có một số đồng là tiền cũ của chúa, đồng Thái Bình, dày, sậm màu, cạnh mòn nhẵn. Có một số là tiền Thái Đức mới đúc mấy năm nay của vua anh ở thành Hoàng Đế, sáng hơn, nhẹ hơn một chút. Lẫn trong đó còn có mấy đồng tiền Tàu chữ lạ mà hắn nhận của bọn thuyền buôn Quảng Đông. Mỗi chuỗi là một mùa đi biển. Chuỗi này là mùa hắn chở cá khô ra Hội An mà gặp bão phải nằm ở cửa Sa Kỳ mười hai ngày. Chuỗi kia là năm hắn bán đường phổi cho một ông chủ Tàu ở Phú Xuân, ông ta trả thiếu hai tiền, hắn đòi mãi không được, về đến nhà mới phát hiện ông ta đã nhét bù vào một đồng bạc trắng hắn tưởng là đồng chì.

Ba mươi tám quan. Ngày mai, chúng sẽ thành sáu chục giạ gạo nằm trong khoang ghe. Tháng Ba, chúng sẽ thành năm chục quan, có khi sáu chục. Năm sau, có khi hắn sẽ đóng thêm được một cái khoang, thuê thêm một bạn ghe. Năm sau nữa…

Đang đếm đến chuỗi thứ hai mươi chín thì tiếng trống lại nổi lên.

Lần này không phải trống rền. Lần này là trống đình, đánh đúng ba hồi, mỗi hồi một nhịp đều đặn, cái nhịp mà người bến Thị Nại thuộc lòng. Trống gọi dân. Rồi có tiếng mõ. Rồi có tiếng người đi dọc dãy nhà, gõ vào cột từng nhà, giọng khàn khàn của thằng tuần đinh ăn cơm nhà ông Xã:

“Lệnh quan trấn! Lệnh quan trấn! Mỗi nóc nhà nộp hai bát gạo khao quân! Sáng mai nộp tại đình! Nhà nào có ghe, nộp một giạ! Nhà nào có ghe, nộp một giạ! Quan sắp lấy ghe chở gạo khao quân ra Phú Xuân! Ghe nào ở bến thì không được đi đâu, chờ lệnh quan!” Thằng tuần đinh vừa rao vừa gõ cán mõ vào từng cây cột.

Mão đứng sững với chuỗi tiền trong tay.

Tiếng gõ cột đi qua nhà bên, qua nhà hắn, cột nhà hắn rung lên ba tiếng cộc cộc, rồi đi tiếp. Ở gian trong, thằng Cu giật mình khóc. Liễu dỗ con, giọng ngái ngủ. Rồi chị hỏi vọng ra:

“Gì dị ông?” Giọng Liễu ngái ngủ, tiếng thằng Cu vẫn còn ọ ẹ.

Hắn không trả lời.

Lệnh quan lấy ghe chở gạo. Không nói là lấy bao lâu, không nói là trả bao nhiêu. Không nói ghe nào. Hắn nhớ hai năm trước, khi quan lấy ghe chở lương ra Quảng Nam, chiếc ghe của lão Sáu Bèo đi ba tháng mới về, về thì gãy cột buồm, mất hai bạn ghe, và người ta trả cho lão một tờ giấy có đóng dấu đỏ, bảo cầm lên thành mà lĩnh tiền. Lão Sáu Bèo cầm tờ giấy lên thành bốn lần, đến lần thứ năm thì lão bán chiếc ghe gãy cột để trả nợ, và tờ giấy ấy bây giờ lão dùng để gói thuốc lào.

Mão nhìn mấy chuỗi tiền trên nền đất. Nếu mai hắn mua sáu chục giạ gạo, chất vào khoang, mà quan đến lấy ghe, thì sáu chục giạ ấy là của ai? Quan sẽ bảo hắn dỡ ra ư? Hay quan sẽ bảo: tiện quá, ghe có sẵn gạo, chở luôn?

Hắn ngồi im rất lâu. Ánh trăng trên nền đất dịch đi một chút.

Rồi hắn làm một việc mà về sau, rất nhiều năm về sau, hắn nhớ lại vẫn không biết là khôn hay dại. Hắn lấy cái thuổng nhỏ dùng để xúc than trong bếp, lặng lẽ đào thêm một cái hố ở góc nhà, chỗ chân vách phía đầm, chỗ đất ẩm và mềm. Hắn đào sâu hơn cái hố cũ, sâu đến khuỷu tay. Hắn chia tiền ra làm hai. Hai mươi quan hắn bỏ lại vào hũ, đặt lại dưới gầm giường. Mười tám quan hắn gói vào một mảnh vải, bỏ xuống cái hố mới, lấp đất, nện chặt bằng gót chân, rồi kéo cái chum nước đặt đè lên trên.

Hắn không biết vì sao lại là mười tám mà không phải hai mươi. Hắn chỉ biết rằng hắn không thể để hết vào một chỗ nữa. Đêm nay, ngay giữa đêm mừng thắng trận, hắn đã học được một điều mà không ai dạy hắn: cái thắng trận của vua không phải là cái thắng trận của hắn. Cái thắng của vua cần gạo, cần ghe, cần người. Và gạo, ghe, người ấy thì phải lấy ở đâu đó.

Liễu đứng ở khung cửa gian trong, thằng Cu trên tay, nhìn hắn nện đất. Chị không hỏi gì. Hắn cũng không giải thích. Hai vợ chồng nhìn nhau trong ánh trăng, và trong một lúc rất ngắn, hắn thấy chị hiểu, hiểu còn nhanh hơn hắn, như thể chị đã biết từ trước, từ lúc ngồi bên bếp hỏi về thằng Lượng.

Khi hắn nằm xuống lại, cái tay nải vải xanh vẫn ở đầu giường. Hắn nhấc nó lên, đặt sang một bên, cho đầu khỏi chạm.

 

Trống ở công trường đã thôi. Bây giờ là tiếng đầm nện đất, những cái đầm gỗ nặng do bốn người kéo dây, nhấc lên, thả xuống, nhấc lên, thả xuống. Mỗi tiếng nện dội vào nền chợ bỏ hoang, dội lên lưng lão Câm.

Bàn tay phải của lão, lão không biết từ lúc nào, đã thò ra khỏi chiếu, cào cào trên nền gạch vỡ, mấy ngón tay co lại như đang nắm một cán thuổng. Lão nhìn bàn tay ấy như nhìn tay người khác. Móng tay đen, da nứt, hai đốt ngón trỏ sưng to vì những năm gánh đất. Bàn tay ấy đã đào cái hố đêm hôm ấy. Mười tám quan. Lão không còn nhớ về sau mười tám quan ấy đi đâu. Lão chỉ nhớ hình như lão chưa bao giờ đào nó lên.

Có một người đàn bà đi ngang, gánh hai thúng khoai lang về phía chợ Cửa Nam. Mụ dừng lại, nhìn lão một lúc, rồi đặt gánh xuống, nhặt một củ khoai nhỏ, quăng về phía lão. Củ khoai lăn đến cạnh chiếu, dính đầy đất.

Lão không với được. Lão nhìn củ khoai, và lão nghĩ tới cái tay nải vải xanh, cái áo kép vá hai miếng ở vai. Lão không nhớ đã đưa nó cho ai. Lão chỉ nhớ, mùa xuân năm ấy, lão chưa bao giờ ra Phú Xuân vào tháng Ba.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px