Route BE - What if
Mùi ngòn ngọt như mùi trái cây chín nẫu gọi tâm trí anh quay lại, Benjamin đẩy Abel ra trong một phản ứng phòng vệ bản năng của mọi sinh vật sống khi bị kéo vào một nơi nguy hiểm và cầm chắc cái chết. Lần này, hắn không ngăn cản anh giãy dụa nữa, vòng ôm của người nọ lỏng ra, thứ chất nhờn đen dính của con quái vật cũng không thiết tha gì quấn lấy anh khi còn bận đối phó với kẻ tử thù, và Benjamin thấy mình rời khỏi cuộc chiến rồi ngã lăn ra đất. Quên cả đau, anh vội vàng bò dậy, nhưng lúc này người đàn ông tóc đỏ đã gần như bị dòng sông đen trên đài tế nuốt chửng, chỉ lộ ra một chút tóc đỏ và bàn tay không ngừng ngăn cản con quái vật vùng vẫy thoát ra, cố hết sức kéo nó lại sát vào mình để hai bọn họ hòa vào làm một, trông như một con rắn đen lấm tấm vảy đỏ tươi đang quằn quại giãy chết. Xung quanh họ, đất đá vẫn rào rào đổ xuống và cái hang sập chỉ là chuyện sớm muộn, mọi tế bào trong người Benjamin đều gào thét nguy hiểm, nhưng anh vẫn ngần ngừ, nhìn về phía Abel.
“Đi đi!”
Anh nghe được giọng hắn hét lên, theo sau là một tiếng thở nghèn nghẹt. Bản năng của con người khi lâm vào trạng thái hoảng loạn là vô thức nghe theo chỉ dẫn của người khác, dù cho nó có đến từ ai, hay hợp lý đến đâu, nỗi sợ hãi sẽ che mờ khả năng suy xét của não bộ và điều khiển cơ bắp cử động mà không cần đợi mệnh lệnh. Trước khi Benjamin kịp nhận ra, anh đã lùi ra đến tận cửa hang, lưng đã quay lại một nửa, sẵn sàng chạy vào hành lang tối thui của hầm mỏ cũ bất kỳ lúc nào. Hang đá rung chuyển xung quanh anh, và một khối đá to từ trên trần rơi xuống ngay sát rạt anh, chỉ cách có mười centimet và bít kín lại lối vào động, chặn đứng nốt hy vọng mong manh còn lại về ý định quay lại cứu Abel. Benjamin vô thức giơ tay lên khi đất đá bắn tóe lên người anh, rồi quay người bỏ chạy, thậm chí không nhận ra là mình đang khóc.
Cơn động đất bất ngờ khiến toàn bộ hang động như thể đang oằn mình rền rĩ lần cuối trước khi sụp đổ mãi mãi. Tiếng hàng tấn đất đá sập xuống xung quanh anh vọng lại và nhân lên hàng ngàn lần khi bay qua những hành lang và hang đá dài hun hút, đập vào màng nhĩ Benjamin như những cú đấm. Anh cứ chạy, dù không thật sự biết là mình đang đi đâu, đơn giản là chạy theo bản năng nguyên thủy nhất của mọi sinh vật hữu cơ, trong nỗ lực lớn nhất đời chúng là mưu cầu sống sót. Adrenaline chạy rần rật trong máu anh, đất đá từng cục to đập xuống vai, xuống lưng Benjamin cũng chẳng còn thấy đau nữa, anh nghiêng ngả chạy trong những hành lang đá mờ tối, chỉ nhìn được vài mét trước mặt, cố không để mặt đất rung chuyển làm mình vấp ngã. Nếu giờ anh có chạy nhầm vào một ngõ cụt thì cũng thế thôi, anh sẽ trở thành một trong vô số hồn ma đã vùi thây tại nơi này từ thời nguyên thủy. Vô số đất đá rơi xuống xung quanh Benjamin, quá tối và quá nhiều để anh có thể chủ động né, mà chỉ có thể cầu nguyện với thánh thần chúng sẽ không đập thẳng vào đầu anh một nhát vỡ sọ tại chỗ. Những tiếng khóc than của những bóng ma có cuộc lang thang vô định dài như cả nền văn minh nhân loại ngân nga khắp những nơi mà Benjamin chạy qua, gần như khiến anh phát điên, khi chúng giải phóng nốt những oán hận và đau khổ cuối cùng của mình trước khi được thoát khỏi con quái vật tối cao và tan biến mãi mãi.
Một đá dễ nặng đến năm cân từ trần hang rơi xuống, đập thẳng vào lưng Benjamin. Anh cảm thấy một cơn rát bỏng từ xương sống truyền đến, cơn đau và cơn sốc khiến anh loạng choạng, và vấp phải một đoạn đường ray cũ trong hầm mỏ bỏ hoang. Tay anh vươn ra, chới với trong nỗ lực tìm một điểm tựa nào đó để bám vào, nhưng không có gì cả, và Benjamin mất thăng bằng ngã dúi dụi xuống đất. Anh bò dậy, nhưng đầu gối run rẩy và đau nhói phản đối, anh không nhớ nổi mình đã bị đá đập một vết nứt xương ở đâu và khi nào, nhưng một khi anh ngã xuống là tất cả sẽ chấm hết. Anh gượng đứng lên, rồi ngay lập tức ngã trở lại mặt đất, một bên chân đã hoàn toàn vô dụng và tất cả những gì anh có thể làm là vịn vào tường để tự kéo mình dậy, và tập tễnh đi tiếp với một tốc độ chậm đến phát rầu, chắc chắn sẽ chậm hơn tốc độ nơi này đổ sụp. Máu từ một vết rách trên trán chảy xuống mắt Benjamin, lòng bàn tay anh cũng xước xát và chảy máu, khiến hành động vô thức quẹt lên mắt chỉ càng làm mọi việc tồi tệ hơn. Ngực anh đập nhanh đến phát đau, cho dù có hít thở như thế nào cũng cảm thấy như thể hai buồng phổi mình trống rỗng, không khí đã biến thành những gai nhọn li ti đâm vào ngực anh.
Thêm một viên đá nữa rơi xuống, lần này đập thẳng vào thái dương Benjamin. Anh cảm thấy một cơn đau xé nát trán mình, rồi anh ngã xuống, tâm trí chìm dần vào bóng tối khi hai mi mắt anh dần khép lại, thứ cuối cùng Benjamin nhìn thấy là vách hang tối tăm vẫn đang vụn vỡ ra thành cát đá và đổ sụp vào lòng chính nó như cách mà một hố đen hình thành.
Rồi anh ngất đi, không còn biết điều gì nữa.
..
.
Benjamin tỉnh dậy trên giường mình khi bình minh vừa đến.
Cả người anh khô ráo, sạch sẽ, vẫn nguyên vẹn bộ quần áo anh mặc hôm qua khi ra khỏi nhà cùng Abel để thẳng tiến đến hầm mỏ cũ. Không có một vết bầm hay vết rách nào trên người anh cả, không có đá đập hay dấu cào, hoàn hảo vô khuyết, như thể buổi tối kinh hoàng hôm qua không hơn gì là một cơn ác mộng hoang đường của anh. Nhưng Benjamin biết đó không phải mơ.
Anh run rẩy nhìn xuống tay mình, lòng bàn tay anh đỏ thẫm một lớp máu khô, vết máu chảy dài đến tận cổ tay áo, đã đông lại thành một mảng nâu nhờ nhờ trên lớp vải. Máu của Abel. Trong đầu anh tua lại hình ảnh khi hắn kéo tay anh đâm dao thẳng vào tim mình, dòng chất lỏng đỏ tươi lạnh lẽo thấm ướt cả lòng bàn tay, và hành động bỏ lại hắn để chạy trốn của anh.
Trên sàn nhà, một hàng dấu chân màu máu khô dẫn từ bên ngoài cánh cửa mở toang đến đuôi giường Benjamin.
Anh bật khóc.
Mọi thứ đã kết thúc, ngay cả là với anh. Đã không còn đường nào quay lại và sửa chữa.
Ba mươi phút sau, thanh niên tóc đen xuất hiện tại Sở Cảnh sát thành phố Lokheim. Trong ánh mắt kinh hoàng của những nhân viên làm việc tại đó, anh giơ bàn tay đầy máu của mình lên, bình tĩnh cất lời.
“Tôi đến đây để tự thú.”
“Tôi đã giết Abel, kiểm lâm trưởng lâu năm của Afata vào đêm qua.”
Lệnh bắt giữ khẩn cấp được đưa ra ngay sau đó, và không bao lâu sau Benjamin đã thấy mình ngồi trong phòng thẩm vấn, đối diện với một viên thanh tra đứng tuổi với nét mặt nghiêm trọng. Anh bình thản trả lời các câu hỏi của họ, miêu tả sự vụ xảy ra đêm hôm đó, chẳng buồn quan tâm câu chuyện có vô lý đến đâu và ánh mắt người đối diện nhìn anh như nhìn một người điên. Benjamin đồng ý sẽ dẫn họ đến hiện trường, nơi có xác Abel, nhưng họ phải dẫn anh đi theo.
Đã có một cuộc tranh cãi nho nhỏ về yêu cầu này của anh, cuối cùng, hai tay Benjamin bị còng chung vào với hai viên cảnh sát khác, họ dắt anh lên xe, thẳng hướng rừng Afata.
Abel nằm ở ngay lối vào bị niêm phong của khu mỏ bỏ hoang, anh biết rõ như biết tên mình. Con dao hiến tế chạm khắc vẫn còn cắm sâu vào ngực hắn, ngay chỗ trái tim, máu loang đỏ thẫm cả chiếc áo trên người. Chiếc khăn vàng mà anh tặng vẫn quấn trên cổ người nọ, sợi len vàng lấm lem vì đất cát và bùn lầy trên nền rừng. Mắt hắn nhắm nghiền, khuôn mặt bình thản đến đau lòng, chưa bao giờ anh trông thấy hắn vui như thế, đến cả khi ngủ trông Abel cũng buồn bã và vụn vỡ như một món đồ bị cố chấp ghép lại từ những mảnh vỡ đã quá nát tươm.
Anh những muốn tiến lên, bế xác Abel lên như bế một đứa trẻ, biết rằng người hắn sẽ lạnh ngắt như cái lần cuối cùng mà bọn họ gặp nhau, nhưng rồi hai viên cảnh sát kéo giật anh lại, cảnh cáo sẽ có biện pháp mạnh hơn nếu anh dám manh động lần nữa.
Trong lúc đội khám nghiệm hiện trường và cứu thương đến, trời đổ mưa. Nước mưa đập lộp bộp lên màn lá ken kín đặc của khu rừng, nhanh chóng thấm ướt cả người Benjamin khi anh nhìn lên vòm cây, ngắm vô số những món đồ trang trí nhỏ bằng gỗ được treo trên cành đang lắc lư như những đứa trẻ reo hò.
À, vậy là kết thúc rồi. Một tiếng thở dài thoát ra khỏi đôi môi trắng bệch của thanh niên tóc đen.
Tất cả kết thúc rồi.
Vụ án hình sự của Benjamin diễn ra với một tốc độ chóng mặt. Dấu vân tay của anh được phát hiện trên cán con dao hung khí, và máu trên tay anh cũng là máu của Abel, thêm lời nhận tội của anh, không điều gì ngăn cản Tòa án phán quyết bản án bảy năm tù dành cho tội giết người đối với Benjamin.
Cả thành phố Lokheim rúng động khi chỉ trong ba tháng ngắn ngủi đã diễn ra tận hai vụ giết người nhắm vào những người gác rừng của họ. Phiên tòa xét xử đầy chật phóng viên lẫn dân thường, ánh đèn camera và tiếng huyên náo của đám đông át cả tiếng của Thẩm phán, và Hag hẳn đã giết anh nếu không phải được cảnh sát lôi ra khỏi người Benjamin sau khi ông nhảy lên người anh và đấm anh túi bụi. Benjamin không phản kháng, chỉ dùng đôi mắt xanh dài dại nhìn người kia, thậm chí khóe môi chảy máu cũng chẳng thèm lau đi. Joseph và hai bác cũng tham gia, không thể tin được là có ngày mình sẽ phải ngồi ở phòng xử án để nhìn người anh, người cháu, người con trai gần như ruột thịt của họ đứng trước Tòa. Anh không nhìn họ, ánh mắt Benjamin không thực sự rơi vào một điểm hữu hình hay một sự vật, một người nào trong phòng, ánh mắt trống rỗng dài ngàn dặm của thanh niên tóc đen cứ như xuyên qua lớp gạch đá xi măng để nhìn mãi về chân trời phía xa. Anh chỉ khẽ ngẩng lên khi Tòa ra bản án, đến tận lúc đó trông Benjamin mới như nhận ra mình đang ở đâu. Và anh mỉm cười.
Benjamin được chuyển đến nhà tù thành phố không lâu sau đó để thụ án. Một tòa nhà xám xịt, tối tăm, giống một nấm mồ hơn là một nơi người ở được, và anh cũng nghĩ không nghi ngờ gì đó sẽ là mồ mình thật. Tháng nào hai bác hoặc Joseph cũng sẽ đến thăm anh, nhưng Benjamin luôn từ chối gặp họ.
Cho đến hôm nay.
“Nói em nghe, tại sao anh lại làm thế hả Benjamin?”
Joseph ngồi bên kia lớp kính, áp điện thoại vào tai. Cậu gần như không nhận ra người anh họ của mình nữa, anh hốc hác hơn, làn da vốn đã trắng giờ lại càng nhợt nhạt như sữa để lâu ngày, mái tóc đen lâu không được cắt đã dài đến quá vai, đang được túm hờ thành một túm xơ xác như rơm, bộ áo liền quần màu cam đã bạc phếch rộng tưởng như đâu phải đến hai cỡ so với thân hình gầy gò của anh. Nhưng thứ thay đổi nhiều nhất vẫn là đôi mắt, đôi đồng tử màu trời của anh họ cậu giờ sâu hun hút như một đường hầm không thấy đáy, nuốt gọn cả ánh sáng lẫn những ai lỡ nhìn quá sâu vào trong đó.
“Anh không biết.”
“Khu rừng đã khiến anh phát điên sao? Thật sự có một con quái vật bên trong lòng nó như anh đã nói?”
“Đến thời điểm này, chính anh cũng không thể nói được đâu là sự thật, đâu chỉ là tưởng tượng mà bộ não điên loạn của anh tạo ra nữa. Có lẽ đúng là trong hầm mỏ đó có một con quái vật thật, cũng có thể chẳng có gì trong cái nơi ấy cả, tất cả chỉ là những ảo giác mà anh tự tạo ra để bao biện cho hành động giết người của mình. Có lẽ đúng là khu rừng đã làm anh phát điên, cũng có thể chính anh đã tự làm bản thân mình phát điên. Sau cùng thì, chỉ có hai người bọn anh ở một mình với người kia trong khu rừng đó, và cái người duy nhất có thể trả lời cho câu hỏi đã vĩnh viễn không còn lên tiếng được nữa rồi.” Không ai tin câu chuyện của Benjamin, đúng như Abel đã nói, vì bọn họ là một giống loài không tin vào ma quỷ, trong nỗ lực bảo vệ cho niềm tin ấy của mình, bọn họ đã phải chấp nhận một phiên bản méo mó hơn, của sự thật. Dù chính Benjamin cũng không chắc rằng thứ mình kể có phải sự thật hay không, hay chỉ là một ảo giác như những ngọn đuốc trong cái hang nằm ở nơi sâu nhất của hầm mỏ bỏ hoang.
Anh mỉm cười.
“Dù là gì đi nữa, thì việc anh đã giết hắn là không thể chối cãi. Abel là người bảo vệ của anh, dù là trong tâm trí hay ngoài đời thực, và cuối cùng thì anh lại giết hắn. Chỉ có bọn anh ở đó thôi, và nếu anh cứ thế mà bỏ đi, có khi cả tuần sau người ta mới biết về sự biến mất của hắn.”
“Nhưng anh đã không làm.”
“Sao anh làm vậy được chứ? Ai rồi cũng phải đối mặt với tội lỗi của mình thôi, dù cách này hay cách khác.”
“Anh có đang tỉnh táo không?”
“Không, Joseph ạ. Không. Có lẽ từ ngay bước chân đầu tiên vào rừng, anh đã phát điên rồi. Có thể chẳng có con ma nào ở đó hết, có thể đó chỉ là những hoang tưởng không hồi kết của một mình anh mà thôi.”
“Em xin lỗi, đáng lẽ em phải quan tâm đến anh nhiều hơn. Đáng lẽ em phải hiểu hơn về những điều đang đè nặng lên anh. Đáng lẽ em phải ngăn cản anh đến đó.” Giọng cậu hơi vỡ ra.
“Đừng xin lỗi, Joseph. Em đâu có lỗi. Chúng ta đều sẽ phải chịu trách nhiệm cho sự lựa chọn của mình, anh cũng vậy thôi.”
Trước khi thời gian thăm tù kết thúc, Benjamin lần đầu tiên chủ động lên tiếng.
“Joseph này, em làm cho anh một việc được không?”
“Việc gì hả anh?”
“Nếu được thì em xin họ cho anh một ít len để đan nhé. Len vàng ấy.”
“Anh vẫn còn giữ thói quen đó cơ à?” Joseph mỉm cười yếu ớt. Cái ngày mà cậu vênh mũi lên khoe được anh đan khăn cho tưởng đâu đã xa xôi lắm rồi. “Để em thử xem.”
“Cảm ơn em.”
Quản giáo dẫn Benjamin trở lại phòng giam. Họ đi qua một dãy xà lim, hầu hết đều bỏ trống, để trở về với cái của chính anh. Trên đường đi, anh có thể cảm nhận thấy vô số ánh mắt dán chặt vào mình, với đủ loại cảm xúc trong đó. Nhà tù của thành phố vốn đã bé như Lokheim cũng chẳng có mấy tù nhân, kể cả có thu nhận thêm những kẻ từ nơi khác chuyển tới, nơi đây không bao giờ chứa quá năm chục phạm nhân. Benjamin rất nổi tiếng trong số họ, một phần vì người gác rừng huyền thoại đã chấm dứt cho chuỗi tự sát ma quái trong rừng gần như đã trở thành văn hóa của nơi đây cuối cùng lại chết trong tay thanh niên tóc đen, một phần vì chỉ hai ngày sau khi thụ án, Benjamin đã xồ lên người cái kẻ từng là kẻ cầm đầu chỗ này, và suýt nữa đã móc mắt gã ra bằng một cái thìa anh giấu được từ lúc ăn cơm.
Anh không thực sự nhớ những việc xảy ra lúc đó lắm, có lẽ sau cùng thì chút gì đó điên loạn trong khu rừng có lẽ đã thực sự chảy vào trong anh. Benjamin biết nhân loại luôn luôn mong muốn phân tầng giai cấp ở bất kỳ đâu, dù là trong bốn bức tường đá của nhà tù, hay cái nhìn nhớp nháp của gã phạm nhân nọ có nghĩa là gì, và với những thằng như thế thì ra tay trước luôn là một việc đúng đắn. Thế là anh đã xồ đến...
Nụ cười mỉm của Benjamin khiến tên phạm nhân quắc mắt lên và chửi tục, chĩa ngón giữa về phía anh, đổi lại được một tiếng quát “Im lặng!” của quản giáo. Anh không nghi ngờ gì là nếu có cơ hội, gã sẵn sàng đè anh xuống và lột sạch đồ anh ra, nhưng gã sẽ không bao giờ có được điều đó, nụ cười u ám của anh đã khắc sâu vào trong lòng gã nỗi sợ hãi như nỗi sợ hãi với loài dã thú, và ngay cả lúc mà gã lườm anh, anh vẫn có thể nhìn thấy tay kẻ nọ run rẩy.
Không bao lâu sau đó, Benjamin nhận được điều mà mình muốn - sáu cuộn len màu vàng rực và kim đan. Ngay cả ngôi nhà đá này cũng không thể cắt đứt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, và so với việc tự thân đi xin xỏ những thứ lạ đời với một phạm nhân tiêu chuẩn như thế (thường thì họ muốn nhu yếu phẩm, hay thuốc lá), anh không ngại dùng những mối quan hệ của bác mình. Anh đan chiếc khăn vào thời gian đọc sách, nhẩn nha nhất có thể như đang tận hưởng việc đó, một mũi đan sai thôi cũng phải tháo ra đan lại cho đẹp. Một vài kẻ nhìn anh đan, nhưng không ai thật sự ý kiến về việc đó, nhất là khi nhìn phần đầu hơi nhọn của kim đan trên tay anh. Benjamin không được mang chiếc khăn đan dở về phòng, nhưng anh nghĩ với một chút hối lộ, quản giáo có thể mắt nhắm mắt mở cho anh nhét nó vào túi trở về buồng giam khi cái khăn đã xong.
Benjamin xin một cành cây nhỏ, lần này thì không được. Anh nghe quản giáo từ chối, rồi à một tiếng, quay đầu móc một cái chạc ba nhỏ bằng len, nhồi bìa cứng bên trong. Anh không ghét cái biểu tượng đó nữa, anh không bao giờ ghét nó nữa, dù nó chưa bao giờ là của anh, hay của Abel. Nó sẽ không bao giờ được treo lên cành cây ở Afata cùng với những người anh em khác, cũng như anh vĩnh viễn sẽ không trở lại nơi đó nữa.
Trời ở Lokheim rất lạnh, nhất là với một kẻ đã quen với thời tiết ấm áp ở Veda, và chiếc chăn mỏng dính, hôi mùi bãi nôn trong xà lim không giúp được gì nhiều, thường anh phải mất rất lâu mới thiếp đi được, và khi tỉnh dậy thì tay chân lúc nào cũng lạnh ngắt. Mỗi lúc cố dỗ mình vào giấc ngủ, anh lại tưởng tượng đến làn da lạnh lẽo của Abel khi da hắn áp vào da anh, và nụ hôn như tuyết đầu mùa của hắn rơi trên mắt, trên mũi, trên cổ và trên môi anh.
Abel là vệ thần của Benjamin, theo tất cả các nghĩa mà nhân loại có thể nghĩ ra, và cuối cùng anh lại giết hắn.
Có đôi khi, anh đã nghĩ không biết nếu anh cứ ở lại trong vòng tay hắn thì sẽ ra sao. Những lúc khác thì băn khoăn Abel sẽ nghĩ gì khi biết kẻ đã giết mình lại cứ dùng những hồi tưởng về hắn để an ủi bản thân không phát điên trong những tháng ngày chịu tội. Cho dù hắn có kinh tởm anh thì anh nghĩ cũng thế thôi, anh vẫn sẽ làm thế tiếp.
Abel đã gánh vác tội lỗi của dòng tộc Benjamin quá lâu, để giải thoát hắn, có lẽ đã đến lúc bọn họ phải đứng ra đối mặt với tội lỗi của mình. Anh không có gì để đền bù cho họ cả, chỉ còn cái mạng này thôi.
Benjamin biết cái ngày mà mình mãn án tù sẽ là cái ngày mà mình chết. Anh đã từ chối làm đơn giảm án do cải tạo tốt trong cái nhìn như nhìn một kẻ điên của quản giáo, chỉ cười cười bảo rằng như thế sẽ giúp anh sống lâu thêm được một chút.
Trong một thế giới khác, Abel đã hứa sẽ trở thành cô dâu của anh.
Benjamin cuộn mình trong chiếc chăn mỏng dính, cảm nhận hơi lạnh buổi đêm của Lokheim thấm vào từng nếp vải trên bộ áo liền quần. Anh nhớ lại buổi chiều hôm ấy trong giờ hoạt động ngoài sân chung, qua song sắt, anh đã nhìn thấy một con mèo xám đen với đôi mắt xanh đang ngậm trong miệng một con chim nhỏ đi ngang, cục lông nọ rũ xuống khỏi hàm con mèo, khẽ lắc lư theo mỗi nhịp bước của kẻ săn mồi.
Và Benjamin đã nghĩ, hẳn con mèo nọ đã đem lòng yêu con chim ấy nhiều biết chừng nào.
Would you know my name if I saw you in heaven?
Would it be the same if I saw you in heaven?
Because I know I don"t belong
Here in heaven
…