Một đêm mưa - Rỗng (1)
"And if I perish, I perish."― Esther, Kinh Cựu Ước (Esther 4:16)
“Nấu gì ngon ngon đi, bữa cuối mà.”
Abel cuộn tròn trên sofa nghịch sudoku trong máy Benjamin, uể oải nói khi thấy anh mở tủ lạnh.
“Anh đừng có dọa em coi.”
“Sợ thì về nhà đi.”
“Không.”
Benjamin chỉ đành cười cười lắc đầu, tình nguyện cam chịu tính cách khó chiều của người nọ. Anh ngẫm hắn nói cũng có lý, thế là trong tủ lạnh có gì nấu được mang ra hết, còn lôi cả chai rượu hôm trước Joseph mới gửi ra. Uống chút rượu sẽ làm người ấm hơn, chứ anh nghĩ tới nhiệt độ bên trong hầm mỏ thôi mà cũng phát rùng mình. Cuối cùng thì Abel cũng đồng ý cho Benjamin, nhưng hắn bảo phải đêm xuống thì mới thực hiện được, nên hai người quyết định ăn tối trước.
Trái với phong cách ngẩng đầu cúi đầu là bát chạm đáy của hắn, anh cố tình nhẩn nha hơn bình thường, mượn việc kéo dài thời gian ăn cơm để đè tâm trạng bồn chồn của mình xuống. Không hiểu sao, Benjamin cảm nhận được một nỗi bất an mơ hồ, như thể anh đã bỏ sót chi tiết nào đó, mà nghĩ mãi vẫn không ra. Cảm giác này kéo dài tới tận lúc rửa bát, khi Abel thay vì ngồi đợi, lại đứng cạnh bồn trông anh, vừa trông vừa chơi sudoku, trán nhăn lại vì tập trung. Từ lúc ăn anh đã để ý rồi, hắn ngồi sát anh hơn bình thường một chút, đó đáng lẽ là một việc đáng mừng, nhưng không hiểu sao nó còn làm anh lo lắng hơn.
“Em còn mấy quyển cho người mới ở trong vali đấy.”
“Khỏi đi.”
Abel uống thêm một ly khi anh khui rượu. Benjamin cho đó là dấu hiệu hắn thích, thế là tiện tay bỏ luôn vào tủ bếp cho hắn. Hai người thay sang quần áo ấm, Benjamin lôi ra cái hoodie dày nhất mình có, còn đối với Abel là quần áo đi săn. Anh cũng lấy ra cả chiếc khăn len vàng cũ quàng vào, và nhất quyết bắt hắn quàng chiếc khăn mà anh tặng. Hai chiếc khăn giống nhau đến từng mũi kim, trông giống như đồ đôi, làm Benjamin hết sức vui vẻ.
“Này, cái khăn đó..." Hắn nhíu mày khi săm soi thứ anh đang quàng với vẻ tự hào.
“Giờ anh mới nhận ra à? Muộn rồi, em đền cho anh cái khác rồi, em không trả đâu.”
Abel tặc lưỡi, nhưng cũng không nói gì thêm. Hắn để thanh đao to bản ở nhà, nhưng đưa cho Benjamin một trong những con dao găm của mình, bảo để lúc lấy máu vẽ pháp trận. Anh cất nó vào túi đeo chéo cùng với quyển thánh thư, thêm dây thừng và đèn pin. Trước khi đi, Benjamin mở lại sách ra xem lại, nhìn lại một lần nữa dòng cuối cùng được vết bên trong. Màu mực và nét chữ của nó khác hẳn với phần còn lại, nhiều khả năng là được thêm vào sau này. Không có ghi chú của Adley bên cạnh, nên chắc là cô chưa dịch được.
Đã là thiên địch, thì dù có ra sao đi chăng nữa, vẫn là thiên địch.
Câu này có nghĩa là sao nhỉ? Benjamin mở mảnh giấy anh thấy ở nhà kho ra, so sánh với thánh thư. Thứ khiến anh băn khoăn là sơ đồ hai vòng tròn và ba vòng tròn, anh cảm thấy mình đã suýt tóm được điều gì đó, nhưng lại vồ hụt vào phút cuối. Cái cảm giác lửng lơ này rất khó chịu, nhưng anh cũng đành ném ra sau đầu để theo Abel ra khỏi nhà. Đã qua hoàng hôn từ lâu, và Afata lại trở lại cái vẻ nham hiểm độc ác thường ngày, dù đã quấn một lớp áo dày, Benjamin vẫn thoáng rùng mình khi ánh đèn ấm áp của căn nhà nhỏ biến mất và bóng tối của rừng cây phủ xuống đỉnh đầu hai người. Chỉ hít thở thôi cũng cảm thấy nặng nề, như thể có cái gì đó đang bóp nghẹt hai buồng phổi anh. Hai dải sáng nhợt nhạt từ đèn pin của họ và tiếng gót giày đạp lên mặt đất sũng nước là thứ duy nhất cắt xuyên qua không khí im lặng đến ngột ngạt của màn đêm, cuối cùng thì anh cũng đã hiểu vì sao Afata luôn có cái vẻ tĩnh lặng nặng nề hơn những nơi khác, dù là bất kỳ thời điểm nào trong ngày.
Benjamin để mặc cho Abel dẫn mình đi, không hề thắc mắc khi tuyến đường hắn chọn gần như lệch hẳn so với bản đồ. Nước da người nọ vốn đã tai tái, giờ càng xanh xao trong ánh sáng nhập nhoạng, chỉ có đôi mắt là vẫn lấp lánh như một ngọn lửa không bao giờ tắt. Họ không nói gì, chỉ để sự im lặng ngột ngạt ngự trị, nhưng Abel không đẩy anh ra khi Benjamin cố tình ghé sát vào, thế là thanh niên tóc đen được nước làm tới, đầu tiên là chạm khẽ lên tay hắn, rồi bám hẳn vào vạt áo Abel. Không phải anh cố tỏ ra mùi mẫn hay gì cả, chỉ là khu rừng thật sự quá lạnh, chỉ có đứng sát vào hắn thì ảnh hưởng từ quyền năng của con quái vật mới giảm bớt xuống dưới mức chịu đựng được.
Đến lần thứ ba thì Benjamin đã không còn ngạc nhiên nữa khi họ chỉ mới đi hơn nửa tiếng mà đã đến khu mỏ. Khu mỏ bỏ hoang vốn nằm rất rất sâu trong rừng, người bình thường hiếm khi có thể đi tới đó từ phía đường quốc lộ trong một buổi sáng kể cả khi biết mình đang đi đâu. Cảm giác như thể khu rừng có một trật tự riêng vượt ngoài quy tắc vật lý thông thường, thứ người ta chỉ có thể hoặc tận dụng nó hoặc mắc kẹt bởi nó, Afata chưa bao giờ nguy hiểm chỉ vì nó là rừng tự sát hay bên trong nó là một con quái vật, mà bản thân khu rừng đã là một sinh vật sống rồi. Một sinh vật sống xấu xa là đằng khác.
Benjamin không hỏi, nhưng Abel vẫn kiên nhẫn giải thích cho anh lúc hai người trèo lên lối vào ở sườn núi. “Bám sát tôi, càng gần trung tâm khu mỏ, nơi đây sẽ càng bất định, đã lạc rồi thì không thể ra được đâu.”
Benjamin gật đầu, anh cũng không có ý định tách ra. Lần này, trước khu mỏ không còn dây chăng cảnh báo “Cấm vào” nữa, và lối vào cũng chỉ còn hai thanh chống sơ sài, phía bên trên còn đóng vào một tấm gỗ nằm ngang ghi “Lối vào khu B” được khắc thô thiển, khẽ kêu kẽo kẹt khi có gió thổi thốc, khiến sống lưng anh lạnh buốt một cách khó hiểu.
“Vào không?” Abel hỏi, đôi mắt vàng lỏng lấp lánh trong ánh đèn pin, phản chiếu gương mặt trắng bệch của Benjamin. “Vào rồi là không còn cơ hội hối hận nữa đâu.”
“Vào chứ.”
Benjamin dứt khoát bước vào hình chữ nhật tối đen nọ, kéo cả Abel theo. Bóng tối trùm lên người họ, một cơn gió nhẹ trườn tới từ sâu bên trong, táp vào mặt anh, mang theo mùi thịt thối. Mới chỉ hơi thoang thoảng, nhưng chắc chắn là nó, cái mùi thịt của một con vật đã chết ít nhất được hai ngày trời, anh thoáng nghĩ tới con hươu bị rạch bụng tối qua, nhưng lần này hẳn đã lổn nhổn giòi trắng. Cái cảm giác nhơm nhớp khó chịu đó bám chặt ở cổ họng anh, và dù cửa ra chỉ cách vài bước chân, anh biết ngay mình đã bước vào một thế giới khác, tăm tối hơn, chết chóc hơn, và chẳng hề yêu quý anh chút nào.
Benjamin cố kiềm ý nghĩ quay đầu lại và kéo Abel đi về phía trước. Trần lối vào cao hơn lần trước anh đến, nên hẳn nó đã từng sụp xuống vì thời gian, hoặc vì vụ sập hầm. Những thanh gỗ chống hai bên tường cũng đã biến mất, cho anh thấy mình đã thực sự đi vào một không gian siêu nhiên không thuộc về dòng thời gian ở thực tại. Đường khá hẹp, hai người phải đi sát vào nhau, thế mà vách đá gồ ghề hai bên vẫn cào xước vai áo họ. Chỉ có tiếng gió hun hút, tiếng gót giày đạp lên đá và tiếng thở của chính anh vang vọng, dội lại và nhân lên hàng nghìn lần, làm Benjamin rùng mình.
Hai người đi từ từ, chậm rãi, Abel không hối thúc anh, Benjamin cũng chẳng có lý do gì để vội vã. Sau cùng, họ còn cả đêm. Anh không biết hắn thế nào, nhưng anh đang sợ, và chỉ càng lúc càng sợ hãi hơn, mồ hôi lạnh chảy dọc lưng Benjamin, nhớp nháp vì lớp áo giữ nhiệt và áo hoodie dày, phần bốc hơi vì gió thổi thì lạnh như bị đông đá. Nỗi sợ thuần túy chảy theo từng mạch máu dưới da, như lúc anh nhìn thấy con quái vật khô quắt, không biết vì sao lại sợ, chỉ biết là nỗi kinh hoàng tột độ phủ kín trái tim mình như mạng nhện. Anh bắt đầu không nhớ được một ngày đầy nắng trông như thế nào, ấy còn là Benjamin đã dành cả đời mình ở Veda - một nơi lúc nào cũng vàng ruộm vì những ngày quang đãng. Anh không biết ấm áp là thế nào nữa, không biết thế nào là không lạnh, anh nghĩ mình có thể quấn mình bằng sự ấm áp như quấn chăn, nếu vẫn còn mạng mà rời khỏi đây.
Nơi này thật kinh khủng. Benjamin nghĩ thế, và anh nói ra miệng. “Nơi này thật kinh khủng.”
“Có muốn đi về không?”
“Không.” Anh miết ngón tay lên mu bàn tay Abel, chỉ để chắc chắn rằng hắn vẫn ở đây. Ngay cả khi luôn nhìn thấy người nọ qua khóe mắt, anh vẫn sợ nếu mình với tay sang, hắn sẽ tan thành ảo ảnh, và anh sẽ bị bỏ lại một mình bên trong lòng núi tối tăm.
Bọn họ đến ngã ba đường, và anh thấy ánh lửa.
Benjamin đã từng đọc ở đâu đó rằng đôi khi người ta sẽ dùng đuốc thay cho đèn ở những hang sâu để biết khi nào dưỡng khí sắp cạn, một vài chỗ khác lại nói điều đó dễ gây cháy nổ, và nguyên nhân của vụ sập hầm năm 1931, rất có thể cũng có nó can dự vào. Anh cũng không biết tại sao mình lại nghĩ đến việc đó lúc này, có lẽ đó là phản ứng bản năng của cơ thể để đánh lạc hướng tâm trí anh khỏi những điều bất khả giải mà nó không thể chịu đựng nổi. Đến bây giờ Benjamin cũng chẳng biết bên nào đúng, nhưng có vẻ những người thợ mỏ tin vào vế đầu hơn, nên khi hầm mỏ bỏ hoang trở lại thời hoàng kim khi đây vẫn còn là dự án trọng điểm của thành phố, vô số ngọn đuốc cháy sáng làm sáng bừng cả không gian, ánh lửa chờn vờn vì gió thổi qua những đường hầm, làm bóng anh in trên tường cũng như đang nhảy múa.
Benjamin rùng mình. Ngay cả khi xung quanh vang đầy tiếng lửa cháy lách tách, nơi đây vẫn lạnh kinh khủng. Vẫn chỉ có bọn họ là những sinh vật duy nhất còn sống bên trong lòng núi, anh nghe được tiếng máy ầm ầm vọng lại từ phía xa, và cũng chỉ vậy thôi. Hai chiếc xe cút kít chở đầy đất đá chạy trên đường ray mà không cần người điều khiển, lững thững đi ra từ một đường hầm, rồi lại chui vào đường hầm tối tăm ở phía đối diện. Anh chiếu đèn theo, nhưng ánh sáng chỉ soi được tầm vài mét, rồi bị con đường nuốt chửng như khi ta nhìn vào cổ họng một con quái vật khổng lồ.
“Giờ chúng ta đi đâu đây?”
Abel chỉ về một hướng, anh nhớ nó, đó chính là ngã rẽ nơi những bức tranh tường cổ được vẽ. Từ đó đường sẽ tách làm hai, một lối đi lên, một lối dốc xuống dưới, lối này chỉ càng tối tăm hơi lối kia. Sống lưng anh lạnh toát và Benjamin phải nuốt nước bọt khi nghĩ tới việc đến đó một lần nữa, nhưng anh vẫn gật đầu, để người nọ kéo mình đi. Đường hầm đã thông thoáng hơn, ba bốn người đi dàn hàng ngang cũng chẳng sao cả, nhưng Benjamin vẫn đi sát Abel nhất có thể. Nỗi sợ hãi âm ỷ trong lòng anh không giảm bớt, mà chỉ càng lúc càng tăng theo cấp số nhân, đến tiếng nước nhỏ giọt vọng lại từ đằng xa xa cũng làm anh giật mình ngoái lại, thần kinh luôn trong trạng thái căng như dây đàn, nếu không nhờ quyết tâm giải quyết cho xong chuyện này và sự hiện diện của người bên cạnh, anh chắc chắn đã chạy trối chết đến cửa ra rồi.
Nơi này thật kinh khủng. Benjamin nghĩ. Rồi lại nghĩ. Ý nghĩ đó trở đi trở lại trong tâm trí, như thể đó là thứ duy nhất bộ não anh chập lại được từ hằng sa số những thứ gãy vụn bên trong anh. Nơi này thật kinh khủng.
Đuốc không nhiều như ở ngã ba lớn đằng sau, nhưng vẫn được dùng xen kẽ với đèn điện, dù là cái nào cũng leo lét, yếu ớt như nhau, như thể thở mạnh một cái là tắt. Anh từng thử chạm vào một cây đuốc treo trên tường, nhưng ngọn lửa nọ cũng lạnh lẽo như khi anh ngâm tay mình vào nước đá. Tiếng bước chân của hai người đập vào đá rồi phản ngược lại trong đường hầm, nên lúc nào cũng nghe như thể có ai đó đang đi sau họ, đã hơn một lần anh phải ngoái đầu nhìn lại sau lưng. Từng chuỗi tiếng ầm ầm của máy móc từ xa vọng lại, rồi lại im ắng, rồi lại ầm ầm, như tiếng thở của một người khổng lồ ngáp ngủ.
Đã đến ngã ba đường, những bức tranh tường vẫn ở nguyên đó, sơn đen lấp lánh như bầu trời sao. Anh cố không nhìn về phía nó, để Abel kéo mình đi về ngã rẽ dốc xuống. Anh đã thầm hy vọng là họ sẽ chọn hướng ngược lại, vì đi xuống ở một nơi như thế này luôn khiến Benjamin có cảm giác như mình đang bị chôn sống. Tay anh mướt mát mồ hôi, thi thoảng lại phải lau vào quần.
Hai quầng sáng nhợt nhạt từ đèn pin của họ nằm song song nhau, chủ yếu là hắn soi mặt đất phía trước, anh thì thi thoảng soi linh tinh vì căng thẳng. Rồi ánh đèn của anh bắt gặp một vệt đen lấp lánh.
Benjamin nheo mắt nhìn kỹ. Vệt đen đó ngoằn ngoèo, như dấu vết dòng chảy của chất lỏng, rồi anh nhận ra không phải nó màu đen, mà là nó vốn là màu đỏ, rồi mới khô lại ngả sang đen. Ánh đèn chếch lên thêm chút nữa, anh nhìn vệt chuyển thành vũng, thấy một đoạn ruột trắng hếu nằm vung vãi, thấy cái bụng lông nâu ướt đẫm máu với một vết rạch ngang gọn gàng, những con ruồi bay lòng vòng phía trên xác con vật, một vài con khác thì đậu xuống bên cạnh những con giòi trắng bò lổn nhổn đang say sưa trong bữa tiệc thịnh soạn. Anh trông thấy xác con hươu thứ ba, và hắn là nguyên nhân của cái mùi thối rữa thoang thoảng mà anh đã ngửi thấy từ bước chân đầu tiên bước vào hầm mỏ.
Tay anh cứng đờ, dù cả người nổi gai ốc vì ghê tởm, vẫn không dịch đèn pin ra chỗ khác được. Benjamin túm lấy vạt áo Abel, nói trước khi kịp nghĩ. “Tại sao lũ hươu lại bị giết vậy, con quái vật đâu có ăn thịt chúng?”
“Vì cảm xúc của động vật khá đơn giản, nên nó ăn nỗi đau đớn thay vì nỗi buồn. Thường chỉ thế thôi cũng sẽ không đủ no, tôi đang điều tra nó lấy năng lượng ở đâu.”
“Em thấy con quái vật bên cạnh xác một con hươu khi đi tìm anh. Nhưng nếu con quái vật thật sự mang hình dáng một bóng đen như trên tranh vẽ trong thánh thư, thứ đó là gì?”
Hắn liếc xác con vật với vẻ thờ ơ, rồi chạm khẽ lên mu bàn tay anh như trấn an. “Hầu cận của nó. Cậu biết ma cọp vồ không?”
“Có từng nghe.”
“Kẻ nào bị cọp vồ, rồi sẽ trở thành tay sai của nó, dụ dỗ thêm nạn nhân cho chính kẻ từng giết mình. Những thứ như cái xác khô quắt đó là tai mắt chủ yếu của nó, khi đã bị nó bòn rút mọi thứ bên trong. Nếu nó ra được khỏi rừng sẽ thoát khỏi hạn chế của thể vật lý, rồi đi ám các nạn nhân từng tiếp xúc với quái vật, đặc biệt là những người chúng yêu khi còn sống. Cậu có thấy những vụ tự sát liên tiếp của những người cùng một gia đình không, đó là tác phẩm của chúng.”
Anh thoáng nghĩ lại những hồ sơ mình thu thập, trong đó có một vụ án cô con gái hai mươi tuổi đã tự sát trong Afata vì chấn thương tâm lý, không lâu sau đó, cha mẹ cô cũng treo cổ trong rừng nơi con gái họ chết. Trong thư tuyệt mệnh, hai ông bà bảo con gái họ đã gọi họ, nói rằng cô lạnh quá. Có rất nhiều vụ án tương tự như vậy, nhưng rồi vì không đủ bằng chứng, chỉ được cảnh sát kết luận là những người chết sau đã tự sát vì quá nhớ và quá đau buồn.
“Mẹ em chưa từng gọi em.” Benjamin nhớ lại câu cầu cứu của bà trong những giấc mơ mỗi đêm thâu, nhưng chúng không bao giờ mãnh liệt đến mức thôi thúc anh quay trở lại Afata. Nó chỉ ép anh sống lại những thời khắc đau khổ nhất.
“Vậy hẳn bà rất yêu cậu.”
Anh cố nhếch miệng cười theo bản năng, nhưng không sao cười nổi. Anh không biết là bà yêu anh thật, hay chỉ là vì bà chẳng muốn dính dáng đến anh nữa, nên mới chẳng quay về.
Họ vòng qua con hươu, tiếp tục đi tiếp. Lại một ngã ba đường nữa, nhưng đường ray chỉ chạy về một hướng, hướng còn lại nhỏ hơn, tối tăm hơn, anh nghiêng người sang ngó mà cũng phát rùng mình vì mùi ngòn ngọt thối rữa phảng phất. Abel lại tiếp tục dắt anh xuống sâu hơn, chẳng cần phải nói, là lối đi mà anh không thích.
Hai người sóng vai đi một lúc lâu, không có gì đặc biệt ngoài những ngã rẽ liên tiếp, tất cả đều dốc xuống. Rồi anh nghe tiếng Abel thở dốc và hắn đứng khựng lại, mắt mở to.
“Adley.”
Hắn nhìn thấy bên trên chiếc thùng phuy rỗng là một cô gái trẻ ngồi bó gối, đúng tư thế yêu thích của cô khi còn sống. Mái tóc nhuộm xám bạc buộc đuôi ngựa cao như thói quen cố hữu, đuôi tóc chạm vào chiếc áo hoodie xanh lá bất ly thân, khi cô nàng chẳng bao giờ chịu mặc đồng phục, đế bốt dày cui đập vào thành thùng nghe cồm cộp. Nghe tiếng gọi, cô quay lại, nhưng gương mặt cô không quắt queo như những cái xác rỗng không của lũ hầu cận, mà vẫn trắng trẻo, bầu má hơi tròn, hệt như lúc còn sống. Cô đang cười.
“Ông chú, chú kiếm được hậu duệ giáo chủ rồi cơ à?”
Tim hắn nhói đau. “Adley, cô không nên xuất hiện ở đây.”
“Tại sao tôi lại không thể ở đây? Tôi đi theo chú mà.”
Hắn mím môi.
“Bởi vì cô đã chết rồi.”
Adley vẫn cười. Nhưng nụ cười của cô cứng đờ, giống như được vẽ lên.
“Cô không còn ở đây nữa, đó chỉ là quyền năng của con quái vật, và tôi để cho nó chảy vào trong mình chỉ để tiếp tục được nhìn thấy cô.” Trong tâm trí hắn hiện ra hình ảnh lúc trong vườn, khi cô nàng nhõng nhẽo đòi ăn nấm, khi hắn nhìn nhầm Benjamin thành cô lúc nấu ăn, khi Adley bay đến níu áo Abel báo cho hắn biết anh đang lần mò trong khu mỏ lúc đêm về và bị lũ hầu cận nhắm tới. Tất cả đều không có thật, chỉ là hắn nói chuyện với khoảng không trống rỗng, giả vờ rằng nơi đó vẫn còn linh hồn của cô gái tóc xám bạc.
“Lúc chú khuyên người khác thì mạnh mồm lắm mà, sao giờ lại sướt mướt thế này?”
“Đúng, nói lúc nào cũng dễ hơn làm cả. Tôi đã suy nghĩ rất lâu, cuối cùng tôi đã hiểu rồi.”
Đám tang luôn là phần dễ dàng nhất trong cái chết của một ai đó. Thứ đáng sợ là tất cả những ngày sau đấy, khi khoảng trống sinh ra từ sự rời đi của họ, là một nửa ghế sofa trống rỗng, là bữa ăn chỉ còn một cái bát, là đường dây nội bộ chẳng nối đến đâu cả, dần trở nên không thể chịu đựng nổi. Người ta chỉ có thể chấp nhận nó, hoặc bị nó ăn rỗng cả thần hồn.
Abel hít một hơi sâu. “Tôi xin lỗi, Adley. Tôi không nên bỏ cô lại một mình ngày hôm đó. Tôi sẽ không bao giờ có thể tự tha thứ cho bản thân, nhưng điều đầu tiên tôi cần phải làm là chấp nhận rằng cô đã chết rồi.”
Hắn xòe tay ra. “Tôi phải làm điều đúng đắn, tôi phải để cô rời đi.”
Adley nhìn xuống tay mình, đầu ngón tay cô đã bắt đầu hóa thành những hạt bụi li ti lấp lánh khi Abel đẩy lời nguyền của con quái vật ra khỏi cái góc nó đã chiếm cứ tâm trí hắn suốt gần ba tháng nay. Cô ngước lên nhìn hắn, đuôi mắt cong cong, nở nụ cười như cô đã làm vào ngày đầu tiên tới Afata.
“Đừng nghe lời bộ phim vớ vẩn đó nói, Abel. Tôi rất vui vì mình đã gặp được chú.”
Rồi cô biến mất, để lại Abel và Benjamin lại bên trong bóng tối đặc quánh. Anh nắm tay hắn, cảm nhận cơ thể người nọ thả lỏng dần từ trạng thái căng cứng, như thể hắn vừa buông cả thế giới khỏi vai mình. Không có gì ở nơi tầm mắt hắn hướng vào cả, cũng như vào buổi chiều ở sân sau, khi Benjamin không nghe thấy bất kỳ ai đáp lại giọng nói của Abel.
“Chúng ta đi tiếp thôi.” Abel trở lại là người đàn ông sắt đá mà Benjamin quen thuộc, nhưng hắn không giãy ra khỏi cái nắm tay của anh.
Hai người tiếp tục đi xuống, càng xuống càng sâu, càng xuống càng dốc, thật sự giống như đang lần mò xuống địa ngục. Benjamin thoáng nhớ lại Dante, và anh phải cố gắng lắm mới không nhụt chí đòi trở lại mặt đất. Mới chỉ là mấy tiếng kể từ lần cuối anh thấy ánh sáng ban ngày, mà như thể đã cả đời người trôi qua. Anh tự tưởng tượng lúc ra được khỏi hầm mỏ, mình đã biến thành một lão già tóc bạc phơ, nằm lăn ra đất uống ánh nắng lúc bình minh như uống nước, bên cạnh là Abel, tóc vẫn đỏ và trông vẫn như mới bốn mươi tuổi.
Những ngọn đuốc đã dày đặc trở lại, và trên tường bắt đầu xuất hiện những bức tranh tường ma quái, xoắn vặn, méo mó, vừa giống chú văn, vừa giống tranh, vừa giống một đống hỗn loạn đen xì một đứa trẻ con quệt bậy. Lúc này đã không còn là địa phận của khu mỏ nữa, mà là đất thánh của giáo phái, từng viên đá, từng hạt bụi, từng dấu vết để lại đều chỉ mang tới một mục đích: hiến tế.
Anh cố không nhìn vào chúng, cảm nhận cơ thể người bên cạnh cũng căng lên trong trạng thái phòng vệ bản năng. Mắt hắn liên tục đánh sang hai bên, đề phòng bất cứ dấu hiệu khả nghi nào dù là nhỏ nhất. Có tiếng khóc lóc của lũ hầu cận vọng tới từ xa xa, rất may là hướng từ bên phải hoặc phía trước, chứ không phải đằng sau.
Nơi này thật kinh khủng. Ý nghĩ đó trở lại, rõ ràng hơn bao giờ hết, lâm râm dưới da anh như một cơn sốt rét. Nơi này thật kinh khủng không thể chịu đựng nổi. Đuốc càng lúc càng dày, thế mà anh chỉ cảm thấy lạnh, cả người run lẩy bẩy như thể mới bò lên từ dưới đáy hồ băng. Đến ánh lửa cũng không bình thường, cách mà chúng uốn éo cũng trông như những con quái vật đang giương nanh múa vuốt. Dù vậy, đầu óc Benjamin đã trở lại minh mẫn, và anh bắt đầu lặng lẽ ngồi ghép những mẩu thông tin vụn vặt lại, hoảng hốt khi thấy chúng càng lúc càng chỉ cho anh thấy một kết luận cực kỳ đáng sợ.
“Đó.” Abel chỉ cho Benjamin thấy một cái vòm hang, có thể thấy khoảng không phía sau vòm hang đó sáng bừng lên như thể ban ngày, hẳn là vì đốt cực kỳ nhiều đuốc. Thường thì một nơi thông khí kém như thế này phải hạn chế đốt lửa quá to, nhưng lúc này đâu thể dùng kiến thức khoa học thông thường được nữa.
“Abel.” Khi chỉ còn một đoạn được ngắn nữa là đến nơi, Benjamin đột ngột đứng khựng lại, khiến hắn phải ngoái đầu lại nhìn. “Anh không có gì muốn nói với em sao?”
Hắn nhíu mày. “Nói cái gì?”
“Đến bây giờ rồi anh vẫn nói dối em?” Giọng Benjamin run rẩy, gần như vỡ ra. “Lễ tế mà anh nói là giả đúng không? Không phải nó không yêu cầu vật tế, thậm chí em cũng không cần phải chết, mà là... mà là..."
Anh phải siết chặt tay lại để không òa khóc. “Mà là em sẽ phải hiến tế anh cho con quái vật.”
Abel mím môi. Hắn không cãi lại. Benjamin vô thức lùi lại một bước, như thể cái vòm hang và người đàn ông anh yêu đều đã biến thành một sinh vật đáng sợ. “Thánh thư nói ‘Trả lại mọi thứ về nơi bắt đầu’, nhưng nếu em chỉ làm lễ trả lại vận may của gia tộc và đuổi con quái vật đi, thì anh sẽ là kẻ bị thừa ra, bởi vì lúc ban đầu không tồn tại ai tên là Abel cả. Điều kiện lúc này không được thỏa mãn.”
Những hình ảnh chồng chéo lên nhau bên trong tâm trí Benjamin - thánh thư, dòng chữ “Trả lại mọi thứ về nơi bắt đầu”, đồ hình ba bên vẽ trên tờ giấy ở nhà kho, và câu nói ở trang cuối cùng “Đã là thiên địch, thì dù có ra sao đi chăng nữa, vẫn là thiên địch”. “Con quái vật có thói quen hấp thụ kẻ được hiến tế cho mình,” Anh nhớ lại bức tranh bóng đen phủ trùm lên người bị cắm dao vào tim. “Nếu nó hấp thụ anh, nó sẽ như nuốt thuốc độc vậy. Anh không trở thành đồ ăn của nó kể cả khi bị hiến tế, vì anh vẫn là thiên địch.”
Đó là lý do tại sao thái độ của Abel quá kỳ lạ so với tác phong ngày thường của hắn, vì hắn biết nếu nói thật về nghi lễ hiến tế cuối cùng, Benjamin sẽ không đời nào đồng ý. Hắn chỉ có thể lừa anh đến đây, rồi ép anh thực hiện khi đã không còn đường quay lại.
“Abel, nói với em rằng đó không phải là sự thật đi.” Benjamin khẩn thiết cầu xin. “Nói với em rằng em chỉ đang suy luận lung tung đi. Cười vào mặt em vì đã lo bóng lo gió đi, em cầu xin anh.”
Abel thò tay vào túi lấy ra một mẩu giấy đưa cho anh. Benjamin run rẩy mở ra, là kiểu chữ in giống hệt như mảnh giấy trong nhà kho, trên đó viết Phải hiến tế Abel cho con quái vật, với kẻ làm lễ là hậu duệ của giáo chủ. Hắn quay mặt đi khi anh ngước lên.
Thanh niên tóc đen lắc đầu nguầy nguậy, lại lùi thêm một bước nữa, rồi một bước nữa, cho tới khi lưng anh chạm vào vách đá phía sau lưng, không còn đường trốn nữa. Mặt Benjamin trắng nhợt như tro, nước mắt lăn dài xuống gò má, thấm vào khóe môi, đắng chát, mặn đắng. Anh ước gì đây chỉ là một giấc mơ, rồi giây tiếp theo anh sẽ tỉnh dậy trên chiếc sofa trong căn nhà nhỏ, với Abel bên cạnh, không bao giờ phải lo nghĩ thêm về bất kỳ điều gì nữa trên đời. Nhưng cho dù Benjamin có cắn má trong đến tê dại một bên mặt vì đau, anh vẫn không thoát ra được khỏi cơn ác mộng này.
“Anh ghét em phải không, Abel? Anh ghét em vì em là lý do mọi người chết. Hay anh cứ giết em đi, hay để em tự hiến tế mình có được không?” Benjamin bật khóc trong tuyệt vọng. “Đừng, làm ơn đừng, em xin anh, bất cứ thứ gì trừ điều này. Em không thể đi một quãng đường quá dài đến đây, chỉ để thật sự trở thành một kẻ giết người như em vẫn luôn sợ được.”
Abel tiến thêm một bước. Anh hoảng sợ rít lên, càng ép người vào vách đá hơn nữa, như thể muốn chui vào đó để trốn tránh, dù mẩu đá sắc nhọn đã cào một đường dài trên cánh tay cũng không để ý. “Đừng, đừng tới đây. Phải có cách nào khác chứ? Đừng làm như vậy với em, Abel ơi, em cầu xin anh. Chẳng lẽ cả đời em sẽ phải chịu đựng việc rồi tất cả những người em yêu thương nhất đều sẽ vì em mà chết ư?”
“Benjamin..."
“Làm ơn, Abel ơi, anh nói với em là em đã sai đi. Em xin anh, em thề em sẽ chỉ đòi hỏi một lần duy nhất này nữa thôi, rồi anh bảo em làm gì cũng được. Anh giết em đi, thà là anh giết em đi còn hơn là bắt em phải làm việc này.”
Benjamin né sang phải khi Abel cố kéo anh lại, vừa lùi vừa khóc. Đột nhiên, chân anh hẫng vào khoảng không, tay phải anh chới với, nhưng không bám được bất kỳ điểm tựa nào, và Benjamin ngã thẳng ra đằng sau, vào một cái dốc hẹp mà cả anh lẫn hắn đều chắc chắn là nó chưa từng có ở đó vài phút trước.
“Á!”
Abel chạy đến, và lối rẽ đóng sập lại, như cách mà nó luôn làm để những kẻ xui xẻo lạc đường mãi mãi lang thang đến chết bên trong lòng núi tối tăm.