Mấy tháng qua, cái nắng nóng dường như lên đến đỉnh điểm. Không khí như đặc quánh lại, tiết trời hanh khô đến ngột ngạt. Hễ đi ra đường vào buổi trưa, chỉ mỗi việc hít thở thôi cũng cảm nhận rõ khí nóng làm khô rát cuống phổi. Sáng nay thời tiết chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Thế mà đến trưa đã bắt đầu chuyển biến mạnh. Không khí ẩm tràn về nhanh chóng. Khoảng xế chiều những đám mây dông đen kịt xuất hiện, chẳng mấy chốc đã phủ kín cả bầu trời.
Trời nhá nhem tối, mưa như trút nước, gió rít lên từng hồi. Lâu lâu, một tia sét sáng loáng, chằng chịt tựa rễ tre giáng xuống như muốn xé toạt bầu trời đầy mây đen u ám. Ngay sau đó là một tiếng nổ vang trời. Tần suất sấm sét kéo đến càng dày đặc, khoảng cách giữa tia chớp lóe lên và tiếng sấm càng gần. An đang lỡ đường trong chuyến đi công tác ở Rạch Giá. Nhìn tình hình trước mắt, cô nghĩ bụng: “Nổ gần thế này, hẳn là sét đã rất gần đây. Nguy hiểm quá, phải nhanh chóng tìm nơi nào trú mưa mới được.”
Bên trái là sông nước mênh mông, bên phải thì nhà dân kín cổng cao tường. Phía trước mặt, một cổng chào hiện ra, Khu Di tích lịch sử văn hóa Mộ và Đình Nguyễn Trung Trực, An siết thêm tay ga cho xe chạy nhanh vào đình trú chân.
Trong đình vắng tanh không một bóng người. An cởi chiếc áo mưa ra máng lên xe rồi đi vòng qua chính điện. Lỡ đường ghé vào trú chân, An cũng không chuẩn bị trước vật phẩm để cúng cụ Nguyễn. Cô đặt ba lô xuống một góc rồi vào thắp nhang cho vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực để tỏ lòng thành và xin tá túc qua cơn mưa lớn.
Theo làn khói mờ bay lên từ nén hương vừa cắm vào hương án, An hướng mắt nhìn lên bức hoành phi ghi bốn chữ: “Anh Khí Như Hồng”[1]. Bỗng câu nói khẳng khái ngày nào của người anh hùng ấy như hiện rõ mồn một trong đầu An: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”[2].
Sau khi đi một vòng tham quan, An ra bên hiên chính điện, đứng nhìn ra ngoài để chờ mưa tạnh thì chợt nhận ra trời cũng đã sập tối. Ánh đèn đường heo hắt chiếu sáng một khoảng sân. Bóng dáng pho tượng của người anh hùng họ Nguyễn vẫn đứng sừng sững trong mưa, tay trong tư thế tuốt gươm sẵn sàng chiến đấu.
Nhìn ra xa, phía gần cổng, cây cổ thụ to trầm mặc, lẳng lặng đứng đó càng làm cho không gian thêm phần cổ kính và trang nghiêm. Cũng đã lâu lắm rồi, An mới có dịp ghé thăm một nơi thuộc về tâm linh như vậy.
An miên man suy nghĩ, nơi này – Rạch Giá – là nơi công tác của một người mà cô từng quen. Một người chỉ muốn làm anh của cô mà thôi. Mãi cho đến lúc ra đi đột ngột ở tuổi ba mươi, chắc là anh cũng chẳng từng nhớ về cô. Nhẩm ra, con số ba mươi ấy trùng hợp cũng chính là số năm tại thế của cụ Nguyễn. Đấy là độ tuổi đẹp nhất khi con người ta bắt đầu bước vào giai đoạn chín muồi của sự trưởng thành, hầu như tư duy và hành động cũng dần trở nên chín chắn hơn. Đó cũng chính là giai đoạn bắt đầu gặt hái được những thành công nhất định, ấy vậy mà họ lại bất hạnh rời đi khi còn đang thành tựu.
An vội đưa tay quẹt nhanh giọt nước mắt vừa rớt ra khỏi hàng mi cong. Anh đi hơn một tháng thì bạn bè anh mới gọi cho cô hay. An cũng không tiện đến viếng. Mà thật ra, An cũng không biết nhà anh ở đâu để mà đến thăm. Chỉ biết anh quê ở Đồng Tháp, tốt nghiệp đại học xong thì về Rạch Giá công tác.
An quen anh khi cả hai còn là sinh viên, anh học trước An một khóa, dù khác ngành nhưng cả hai thường gặp ở thư viện. Một lần do thư viện không còn chỗ trống nên An mượn sách đến khu nhà tự học để học bài thì vô tình biết anh ở ký túc xá. Mà tình cờ phòng anh lại nằm đối diện với phòng tự học mà An chọn vào ngồi nên sau đó cả hai đã chính thức làm quen với nhau.
Hai năm đầu học đại học, An lặng lẽ bên anh trong những giờ tự học như thế. Anh cũng quan tâm và chăm sóc cho An. Sau những giờ học căng thẳng, An cũng hay rủ anh chơi vài ván cờ ca-rô để giải khuây. Người thua sẽ phải chịu một hình phạt nhỏ do người thắng quy định. Nhưng người thua thường là anh. Thế nên anh hay bị cô sai vặt như đi mua nước cho cô chẳng hạn, hoặc anh phải ngồi yên cho cô vẽ bậy lên tay. Cô thích hình dạng trăng khuyết nên thường bắt anh nắm chặt bàn tay trái đang không bận viết bài rồi đặt yên trên mặt bàn, để phần da trở nên căng cứng dễ bám mực hơn và tô vẽ lên bờ nắm tay anh một hình trăng khuyết đầy mực mà cô gọi đó là hình xăm. Anh cũng rất nuông chiều cô, một tay vẫn thoăn thoắt viết các công thức hóa học, một tay vẫn để yên cho cô mặc sức mà phá phách. Suốt buổi học vẫn không cố bôi vết mực như một sự tôn trọng đối với tác phẩm nghệ thuật. Mọi việc cứ thế trôi qua êm đềm cho đến khi An đang trong học kỳ cuối của năm ba, anh bất ngờ giới thiệu bạn gái cho An biết mặt và anh cũng thường dẫn bạn gái theo học bài cùng An.
Thấy mình không nên chen vào không gian giữa anh và bạn gái, dần dần An cũng ít xuất hiện trước mặt họ. Ngày anh tốt nghiệp, An không đến dự. Sau khi anh ra trường, chỉ thi thoảng anh nhắn tin hỏi thăm tình hình học tập của cô. Khi An làm lễ tốt nghiệp, cô cũng không dám làm phiền đến anh. Trong lòng cô nghĩ, chỉ cần anh sống tốt, mình cũng sống tốt, vậy là ổn rồi.
Nhưng dòng đời đâu dễ bình yên đến vậy... Đoạn ký ức cũ kỹ chẳng hiểu vì lý do gì mà lại ùa về khiến An chùn lại. Cô ngồi xuống, hai tay ôm chân như thể tự an ủi, tự sưởi ấm rồi vô thức nhìn xa xăm. Anh đi đến nay có lẽ cũng đã tròn năm, An không biết chính xác ngày anh mất.
An lại đưa tay quẹt vội dòng nước mắt lần nữa rơi ra. Lần này dòng nước mặn đắng ấy trào ra mãnh liệt hơn, cứ cố chấp tuôn ra như thể đang thi đua với giọt nước mưa rơi liên hồi từ trên mái đình xuống sân.
Một tia sét lại xẹt qua khoảng trời trước mặt. An siết chặt tay trong tư thế bó gối, tự trấn an mình vượt qua nỗi sợ. Đã không còn ai dùng quyển giáo trình to đùng lật đôi ra để che chắn cho cô như ở những giờ tự học mà mưa dông kéo đến ngày nào. Đã không còn ai cố thu hút sự tập trung của cô vào những câu đố hóc búa để quên đi không gian sáng rực tia lửa trời và âm thanh ầm ầm vang dội bên ngoài.
Mỗi một tiếng sấm rền vang lên, An lại càng siết chặt tay, thu nhỏ người hết mức có thể. Bụng đói cồn cào, An lại bị đau bao tử mấy năm nay vì ăn uống thất thường. Cái lạnh càng làm cho cảm giác đói tăng lên thêm vài phần khó chịu khiến cô bất giác hít hà nhăn mặt. Cô cố giương tầm mắt ra xem xét để dự đoán khi nào thì trời bớt mưa.
Vô tình, An lướt ánh mắt nhìn về phía gốc cây cổ thụ, hai viên bi xanh sáng rực như hai hòn lửa nhỏ bất động, lơ lửng, là đà không chạm đất. An giật thót người, đứng bật dậy, lùi về sau cho đến khi lưng chạm tường, mắt thì nhắm nghiền như thể không thấy thì sẽ không sợ nữa. An vừa lẩm nhẩm khấn trong miệng vừa từ từ mở mắt ra:
- Cụ Nguyễn ơi, hãy bảo hộ cho con!
Khi An lấy lại bình tĩnh, mắt đã mở to hết cỡ để suy xét xem vật gì vừa mới ở đó thì ngay vị trí lúc nãy chỉ còn là một khoảng không gian tối ngòm. An đưa tay lên vuốt trước ngực, nhẹ nhàng thở ra một hơi kèm theo hy vọng là mình vừa hoa mắt. Chợt từ đằng sau, một giọng trầm vang lên:
- Cháu vào trong đình nè ngồi cho ấm.
An giật mình quay người về hướng phát ra âm thanh. Một ông cụ tóc bạc trắng với dáng người hơi khom đang từ điện phụ tiến về phía cô. Đi theo cụ là một chú mèo mun đuôi dài, dáng đi vững chãi, oai vệ... và ánh mắt xanh lam sắc lạnh như đang soi xét vị khách lạ là cô. Đúng cái khoảng màu xanh mà cô vừa bắt gặp lúc nãy bên gốc cây ngoài kia. An thở phào nhẹ nhõm, thầm nghĩ: “Hẳn là chú mèo này chính là hai cái đốm xanh làm mình hết hồn lúc nãy đây mà. Lông đen mun thế kia, đứng trong bóng tối thì chỉ còn thấy mỗi đôi mắt xanh lam ấy đang phát sáng mà thôi.”
An khom người nâng chiếc ba lô nặng trịch đựng cả quần áo cho hai ngày công tác và chiếc máy tính để xử lý công việc, cô ái ngại nói:
- Dạ, cháu chào ông ạ. Do lúc nãy cháu vào đình đục mưa, không thấy ai nên cháu cũng không dám tự tiện đi lung tung. Cháu chỉ vào thắp hương cho cụ Nguyễn rồi ra đây ngồi chờ mưa tạnh đặng đi tiếp.
Ông cụ lại niềm nở:
- Cháu vào đây, uống miếng nước trà cho ấm bụng. Tối rồi mà đi đâu thế này. Nhìn cháu không giống dân ở đây hén?
An lễ phép vừa đi theo ông cụ vào nhà trong, vừa trả lời:
- Dạ, cháu đi công tác. Không rành đường nên đi lạc. Trễ hơn dự liệu, lại gặp mưa dông to quá.
Ông cụ nghe thấy thế bèn nhiệt tình mời:
- Vậy là chưa cơm nước gì đâu đúng không? Thôi vào đây ăn cơm với ông. Cơm cũng mới vừa chín tới. Nãy giờ ông lui cui phía sau lo cơm nước nên không hay trên đình có khách.
An ái ngại gãi đầu, nhưng với cái chất mộc mạc của dân miền Tây, cô cũng thiệt tình thưa chuyện:
- Dạ, thiệt là cháu chưa có gì trong bụng từ trưa đến giờ. Mà cháu xin cơm thì có tiện không ông?
Ông lão cười sảng khoái:
- Có gì đâu mà tiện hay không tiện. Một miệng ăn, một bữa cơm, có tốn bao nhiêu đâu. Ông cũng chỉ có một mình, nấu đơn giản, cháu không chê là ông vui rồi.
An theo sau mặc dù biết ông không nhìn thấy hành động của cô, nhưng cô vẫn xua tay liên tục, bảo:
- Dạ, cháu dễ nuôi lắm, không dám chê khen gì đâu ông. Ông cho cháu cơm ăn là cháu mừng lắm ạ.
Đi bên cạnh An, chú mèo mun dường như trở nên thân thiện hơn lúc mới gặp, chiếc đuôi dài như cố tình nghiêng sang, cạ vào chân cô. An nhìn thấy cử chỉ khá thân thiết ấy, cô chuyển chiếc ba lô từ cầm trên tay sang mang trên vai. Sau đó, cô khom người bế chú mèo lên, ẵm gọn trong vòng tay.
Chú mèo khá dạng người, nằm yên phối hợp chứ không hề cào cấu hay giẫy giụa. Ánh mắt xanh trong lối hành lang mờ tối càng trở nên sáng quắc. An đưa tay vuốt ve đầu chú mèo. Lâu lâu, cô lại ghẹo nó bằng cách vuốt từ cằm đến cổ nó vài cái. Chú mèo cũng phối hợp ngửa cao cổ ra, gừ gừ tận hưởng. Một bàn chân trước của chú còn vòng qua như để ôm lấy bàn tay của cô gái lạ biết cách chiều chuộng mình, để lộ ra một chỏm lông màu trắng trên mu bàn chân trước tựa hồ như có hình trăng khuyết.
Ông cụ vô tình xoay người lại, nhìn thấy cảnh tượng ấy thì chợt cười xen lẫn ngạc nhiên bảo:
- Con mèo này là mèo hoang, không phải ông nuôi. Cháu cẩn thận coi chừng nó cào đấy.
An dịu dàng nhìn xuống nhúm lông đen thui ngoan ngoãn nằm trong vòng tay mình. Âm thanh gừ gừ phát ra từ cổ họng của chú mèo nhỏ đang hưởng thụ cảm giác được vuốt ve. Nhìn đôi mắt hơi lim dim không một chút đề phòng của nó, An đáp lời ông:
- Dạ, chắc không sao đâu ông. Em ấy khá ngoan.
Ông lại cười, bảo:
- Khoảng một năm trước, bất ngờ nó xuất hiện ở gần gốc đa phía trước. Không hiểu ban ngày nó đi đâu, ông cũng không thấy. Lâu lâu, nó mới về đình buổi tối thôi. Không vào xin cơm. Cũng không vào trong đình. Nhưng hôm nay không biết thế nào mà chui vào bếp, kêu meo meo mấy tiếng rồi dẫn ông ra trước chính điện thì gặp cháu đấy.
An sững người không bước tiếp, tay bất giác ngừng hành động xoa đầu chú mèo, cô hồn nhiên nhìn xuống sinh linh bé bỏng ấy, ân cần hỏi như đang trò chuyện với một người bạn nhỏ:
- Em lo cho chị đúng không?
Ông cụ đứng lại chờ vì phát hiện đã bỏ xa vị khách lạ vài bước chân, ông nói:
- Mèo đen có linh tính dữ lắm!
An bước nhanh hơn để tiến kịp lại gần ông cụ. Vào đến nhà bếp, ông cụ vừa rót một ly trà nóng đưa cho An vừa hỏi:
- Ông thứ Bảy, cháu tên gì?
An lễ phép nhận lấy ly nước, nói:
- Dạ, cháu cảm ơn ông Bảy. Cháu tên An ạ.
Ông Bảy trầm ngâm, rồi nói:
- Thân gái một mình, đường xa mà trời tối thế này, cháu không sợ à?
An cười ấm áp như để trấn an ông cụ mà cũng là tự trấn an mình:
- Dạ, việc quan trọng nên phải đi. Với lại, cháu đặt khách sạn cũng gần đây à ông, theo Google Maps thì còn khoảng bảy cây số nữa thôi.
Ông Bảy vừa nhanh nhảu lấy chén đũa, dọn cơm và thức ăn ra bàn vừa nói:
- Cháu đi thẳng tới trước, nhìn bên trái là nhà vệ sinh, vô rửa tay rồi ra ăn cơm.
Bữa cơm với người lạ, một ông cụ và một con mèo. An vừa ăn vừa trò chuyện cùng ông lão, nghe ông kể những câu chuyện về lịch sử của ngôi đền, về những chiến tích hào hùng của cụ Nguyễn và đội quân của cụ, về gia đình của cụ Nguyễn. Dưới ánh đèn, câu chuyện cứ thế tiếp diễn, như thể một cuốn phim chiếu chậm, theo luồng ký ức truyền từ đời này sang đời khác được kể lại bởi một ông cụ giữ đình và người nhận hưởng những ký ức quý giá ấy lại là một cô Kỹ sư Khoa học máy tính. Một chuyên ngành nghe có vẻ không liên quan gì đến những trải nghiệm mà cô vừa có được, nhưng với cái đầu nhạy bén, An đã nhen nhóm trong suy nghĩ một dự án có thể giúp ích cho nơi này.
Trời tạnh mưa cũng đã tầm tám giờ rưỡi tối. An từ giã ông cụ và chú mèo mun rồi tiếp tục lên đường. Khi đến khách sạn nhận phòng, An tắm rửa xong, mệt mỏi ngả lưng lên chiếc giường nệm lúc này chẳng khác nào một vị cứu tinh cho chiếc lưng mỏi nhừ vì cả ngày lái xe đường dài.
Dù mệt lả người, nhưng do lạ chỗ nên An cũng không thể nào ngủ sâu giấc được. Nửa đêm, An mơ màng nghe tiếng cạy ngoài cửa sổ. Cô định hình lại trí nhớ của mình, cô đang ở tầng năm của khách sạn, bên ngoài cửa sổ không có ban công, cửa sổ chỉ để thông gió và có khung sắt rất chắc chắn, trước khi đi ngủ cô đã cẩn thận kiểm tra cửa sổ và cửa phòng đều được khóa chặt. Sau khi tổng hợp đầy đủ thông tin, loại trừ trường hợp trộm đột nhập hay những sự cố ngoài ý muốn, An cố gắng mở đôi hàng mi nặng trĩu vì mệt, chớp mắt vài cái cho tỉnh, rồi với tay lấy cặp kính cận mang vào và nhìn về phía hướng vừa phát ra âm thanh. An sợ bóng tối, lại ở nơi xa lạ nên cô để đèn khi ngủ. Bên ngoài, không còn âm thanh nào phát ra. An hoài nghi, ngồi bật dậy, cố rút vào một góc, suy nghĩ một lúc rồi cô cũng lấy hết can đảm, nhìn quanh tìm vật gì có thể tự vệ được nhưng không thấy. Cô với tay, cầm lấy chiếc gối to trên đầu giường, vừa ôm chắn trước ngực vừa nhè nhẹ tiến lại gần cửa sổ để kiểm tra.
Không gian bên ngoài là một khoảng trời tối om, thành phố đã chìm vào giấc ngủ, An lại ở trên tầng năm nên cũng không nhận rõ được ánh đèn nào từ bên ngoài hắt vào. Khi tiến đến sát cửa sổ, An hít một hơi thật sâu, lấy hết can đảm áp sát vào tấm kính cửa để nhìn ra ngoài. Không thấy gì ngoài một màu tối đen như mực, An dùng tay gõ vài tiếng vào cửa sổ để mong với âm thanh ấy có thể xua đuổi được thứ gì đó đang ở phía ngoài kia. Không có âm thanh nào đáp lại, An gõ thêm lần nữa để chắc chắn rằng không có gì bên ngoài, nếu có thì hẳn là khi nghe tiếng động như thế nó cũng phải chạy mất. Cô nhìn lên chiếc chốt cửa vẫn còn y nguyên tình trạng được khóa kỹ lưỡng thì an tâm quay lại giường và từ từ chìm vào giấc ngủ.
Đến khoảng bốn giờ sáng, An lại bị đánh thức bởi âm thanh rột rẹt bên ngoài cửa sổ. Lần này, An cẩn thận hơn vì nghĩ rằng có lẽ lần trước do cô phát ra tiếng động sớm quá. Là một người không mấy gan dạ, nhưng An cũng có khối óc tò mò và quyết đoán. Cô luôn muốn mọi việc khi đã là vấn đề thì phải được giải quyết rõ ràng và triệt để. Thế nên, cô không thể để thứ gì đó không có đáp án rõ ràng cứ luẩn quẩn trong tâm trí mình được.
Khi đến bên cửa sổ, An nhìn ra, lúc này bên ngoài đã có một số nhà sáng đèn, thành phố bắt đầu thức giấc và có tiếng xe chạy dưới đường. Ánh sáng bên ngoài cũng bắt đầu rõ dần đủ để cô nhìn thấy và phán đoán thủ phạm gây ra tiếng động chính là một chú mèo đen đang ngồi trên một tấm gờ được xây nhô ra chừng nửa mét dùng để che mưa nắng cho cửa sổ tầng dưới. An mở nhẹ chiếc chốt cửa, lùa cánh cửa sang một bên, nhìn xuống tò mò như để cố xác định cách chú mèo có thể trèo được lên tận đây. Kiến trúc của tòa nhà này được thiết kế giống nhau giữa các tầng, từ vị trí của cô nhìn xuống, những tấm gờ được xây thẳng tắp, cứ tầng trên lại che được cho tầng dưới.
An đưa tay ra ngoài cửa sổ, vừa vẫy vừa nhỏ nhẹ lên tiếng gọi:
- Mi Mi, em có cần chị giúp đi xuống không? Lại đây nào. - Dù không biết chú mèo có tên không, nhưng An chỉ nghĩ đơn giản một điều, cứ hễ mèo là gọi Mi Mi thế nào nó cũng nghe hiểu được.
Chú mèo đang trong tư thế ngồi quay mặt ra ngoài. Nếu đó không phải là một con mèo, An đã thoáng nghĩ hẳn là chú ta đang tận hưởng khoảnh khắc thành phố thức giấc, lắng nghe từng nhịp thở ở nơi này. Quả nhiên, nghe tiếng của An, chú mèo ngoáy đầu lại, ngước nhìn lên phía An. Một ánh mắt xanh lam với đồng tử giãn ra, long lanh đến mức An ngạc nhiên thốt lên:
- Trùng hợp thế, có phải là em không mèo?
An không thể tin có nhiều sự trùng hợp như thế được. Bởi cô chỉ thường gặp những chú mèo có đôi mắt màu vàng, màu cam hay màu xanh lá. Cô biết mắt mèo có nhiều màu, và màu xanh lam cũng không phải là hiếm nhưng cô chưa từng có dịp gặp ngoài đời lần nào. Lần đầu tiên cô gặp một chú mèo như thế chính là chú mèo mun tối qua ở khu đền thờ cụ Nguyễn. Và bây giờ, trước mắt cô lại là một chú mèo đen với đôi mắt xanh lam sâu thẳm.
Chú mèo lặng lẽ nhìn An thêm một lúc, có lẽ chú đang quan sát và phán đoán xem đối phương có vô hại đối với mình không. Không nhận thấy bất kỳ sự uy hiếp nào từ cô gái bên trong cửa sổ, chú mèo thản nhiên quay đầu nhìn về phía trước, giữ tư thế ngồi xổm thường thấy ở một chú mèo. An cũng lấy một chiếc ghế đặt cạnh cửa sổ rồi ngồi đó hồi lâu, hướng mắt nhìn xuống đường. Chốc lát, cô lại nhìn xuống xem coi chú mèo còn ngồi ở đó không.
Gió mang theo chút sương lạnh của buổi sớm hừng đông và không khí trong lành như được cơn mưa tối qua gột rửa. Không gian man mát cứ thế dần dần bao trùm xung quanh cô gái trẻ như một người mẹ dịu dàng vỗ về đứa con yêu. Một lúc lâu sau, An lại chìm vào giấc ngủ bên cửa sổ, mãi cho đến khi chuông báo thức trên chiếc điện thoại vang lên, báo hiệu đã đến giờ An thức dậy, chuẩn bị cho buổi đầu tiên gặp đối tác.
An nhận nhiệm vụ đi triển khai dự án và tập huấn sử dụng phần mềm do đội nhóm của An phát triển dành riêng cho đối tác lần này. Dự kiến kế hoạch làm việc là hai ngày, gồm một buổi cài đặt và cấu hình phần mềm lên máy chủ của khách hàng, còn lại hai đến ba buổi sẽ tập huấn sử dụng cho từng phân quyền người dùng.
Sau ngày làm việc đầu tiên, An đi ăn cùng đối tác và trở về khách sạn cũng gần bảy giờ tối. Nghĩ đến chú mèo cô gặp sáng nay, không biết là nó có được cho ăn đầy đủ không, An ghé vào một tiệm tạp hóa gần khách sạn, mua một bịch xúc xích mang về phòng. Việc đầu tiên sau khi vào phòng là An tiến ngay đến cửa sổ xem chú mèo đen có ngồi ở đó không.
Tấm gờ phía dưới cửa sổ trống không. An có chút thất vọng, giống như một ai đó vừa thất hẹn với mình. Cô quay trở vào lấy bộ quần áo ngủ còn lại đã chuẩn bị sẵn trong ba lô rồi vào phòng tắm. Sau một ngày làm việc vất vả, An muốn tắm gội cho thật sạch sẽ và nghe chút nhạc yêu thích để thư giãn. Công việc khá trơn tru nên có lẽ cô chỉ cần một buổi tập huấn nữa là hoàn thành nhiệm vụ. Nếu ngày mai công việc kết thúc sớm, An sẽ trả phòng và trở về nhà trong ngày.
An bước ra khỏi phòng tắm với mái tóc còn ướt sũng. Kéo ngăn tủ không thấy khách sạn chuẩn bị sẵn máy sấy tóc cho khách, An lại lười mượn nên cô cứ lau cho tóc bớt ướt rồi để khô tự nhiên. An lại tiến đến cửa sổ, kéo mở cửa để tìm chú mèo lần nữa.
May mắn là lần này chú đã ngồi chờ sẵn ở vị trí cũ. Nghe tiếng mở cửa, chú lại ngước lên nhìn. An đoán có lẽ đây là vị trí yêu thích của chú. Cô quay trở vào trong, khui bịch xúc xích và lấy ra một que. Sau đó, cô cắt một đầu rồi đẩy phần thịt bên trong ra vừa đủ vài lần cắn. Xong, cô quay lại cửa sổ, chìa cây xúc xích ra ngoài và gọi:
- Mi Mi, đói không? Chị cho em cây xúc xích nè. Mau ăn đi.
Chú mèo xoay hẳn người lại, chòm lên, đứng trụ bằng hai chân sau, cẩn thận đưa mũi ngửi. An thấy điệu bộ thận trọng của chú thì nhiệt tình nhích cây xúc xích đến gần miệng của chú thêm một chút nữa. Chú mèo ngoan ngoãn và từ tốn như một quý tộc, nhấm nháp từng miếng xúc xích nhỏ. Ăn đến đoạn gần cuối, chú còn cẩn thận rứt nhẹ miếng xúc xích ra khỏi vỏ bọc để không cắn trúng tay An. Thấy thế, An cười tươi bảo:
- Em ngoan quá, chờ chị một chút. Chị lấy thêm cây nữa cho em nhé!
Chú mèo ngoan ngoãn đứng yên tại chỗ và chờ đợi. Ít giây sau, An cầm theo cây xúc xích thứ hai đã khui sẵn bước ra. Lúc này, An mới nhìn kỹ và nhận ra đây đúng là chú mèo mà cô gặp hôm qua. Trên chân trước bên trái của chú có một mảng lông nhỏ màu trắng hình lưỡi liềm. Một tay An vẫn giữ giúp cây xúc xích cho chú mèo dễ cắn, một tay cô lại đưa ra xoa vào chỗ lông hình trăng khuyết. Bất giác, cô nói, giọng thỏ thẻ như đang tâm sự cùng một người bạn:
- Em biết không, chị rất thích hình trăng khuyết, giống trên tay em vậy nè. Cũng từng có người, mặc kệ mọi ánh nhìn xung quanh mà để chị vô tư phá phách, vẽ hình trăng khuyết lên tay anh ta. Em thật là may mắn, chỏm lông này lại có tự nhiên, không cần phải vẽ lên. Có những thứ, muốn cưỡng cầu cũng không được. Cố vẽ lên bao nhiêu lần thì cũng sẽ phai nhạt. Chỉ có những vết bớt hằn sâu lên da thịt thì mới không thể bôi xóa được mà thôi. Chị ngốc quá đúng không em? Chị từng nghĩ, dù không được định sẵn là của nhau, ta cứ kiên trì bên nhau, vì nhau mà sửa từng chút một. Sẽ có một ngày, những mảnh ghép cũng trở nên vừa khít. Nhưng ý muốn con người sao thắng nổi tạo hóa đây?
Giọt nước mắt rơi, vô tình rớt xuống thềm cửa sổ. Chú mèo nghiêng đầu, chăm chú nhìn thẳng vào An, bàn chân trước có dấu trăng khuyết động đậy, khều liên tục trong không trung. Đôi mắt xanh lam to tròn như hai viên ngọc, bất ngờ chuyển trạng thái, đồng tử co lại thành một khe hẹp nhường chỗ cho phần xanh lam chiếm diện tích nhiều nhất có thể. An nhìn sâu vào đôi mắt ấy, không phải chỉ đơn thuần là một màu xanh lam, mà có lốm đốm nhiều chấm xanh đậm hơn ở sâu bên trong, như những ngôi sao nhỏ trên bầu trời đang lấp lánh. An vừa quẹt nước mắt, vừa xuýt xoa:
- Quao, đôi mắt của em đẹp thật đấy! Em có phải là vua của bóng đêm không mà sao đôi mắt đẹp đến thế? Nhìn một lần mà làm người ta muốn say đắm theo luôn ấy. Thế mà tại sao lại là mèo hoang nhỉ? Hay là em đi lạc? Em đẹp thế cơ mà, sao chủ của em đành lòng bỏ em được?
Không một tiếng “Meo” đáp lại, An trách:
- Em đấy nhé, kiệm lời… giống người đó dễ sợ. Người ta nói biết bao nhiêu điều với em rồi. Thế mà em cũng chẳng thèm nể mặt phối hợp lại tí nào cả.
Trách yêu như thế thôi chứ An có vẻ càng thích chú mèo này, cô đưa tay xoa đầu chú vài cái rồi lại tiếp tục thở dài, luyến tiếc:
- Tiếc quá, có lẽ trưa mai chị xong việc là về rồi. Không ở lại chơi với em được. Em hãy tự chăm sóc cho mình nhé. Đừng có leo cao quá. Trời mưa thì phải tìm chỗ an toàn mà trốn, đừng trốn vào gốc cây to như hôm qua nguy hiểm lắm có biết không, lỡ sét đánh trúng thì dù em có chín cái mạng cũng không đủ xài đâu đấy. Và nhớ tránh xa đường điện ra, nguy hiểm lắm có biết không hả?
Nghĩ một lúc, An lại nói:
- Mà chị thắc mắc lắm đấy nhé. Tại sao một quãng đường xa như vậy mà em vẫn có thể tới được đây vậy? Lại còn biết chị đang thuê phòng ở đây nữa chứ. Hay lại là trùng hợp nhỉ?
An tự hỏi rồi lại tự lắc đầu khó hiểu. Sau cùng, cô chạch lưỡi một cái, tự khẳng định câu trả lời cho mình bởi vì dù sao thì đối phương cũng không thể nói chuyện được:
- Có lẽ là lúc chị ẵm em trên tay, em đã nhận ra mùi của chị đúng không? Người ta thường nói, chó – mèo có khứu giác nhạy bén lắm. Nhưng em theo chị làm gì thế? Hay là địa bàn của em rộng nhỉ? Cũng đúng, nhìn em có vẻ oai vệ thế kia hẳn là em cũng có chút tiếng tăm trong giới mèo hoang nhỉ? Nhưng tại sao em lại giúp chị nhỉ? Ông Bảy nói em chưa từng vào nhà xin cơm của ông, em cũng chưa từng vào đình, tức là em không thân với ông từ trước, vậy lúc đó sao em lại quyết định kéo ông ra ngoài với em để dẫn chị vào nhà vậy? Chị có thể tự cho là em đang giúp chị, có đúng không? Hay em cảm thấy chị giống chủ cũ của em chăng? Nhưng người ta lại nói mèo nhận diện mùi hương giỏi lắm, chỉ cần có vướng chút mùi lạ là mèo phân biệt được liền cơ mà. Lẽ nào em lại nhầm cho được!
Chú mèo như muốn lãng tránh các câu hỏi dồn dập của An, hoặc là chú cảm thấy nhàm chán với những thứ nhạt nhẽo mà con người kia đang nói. Chú lại tiếp tục xoay người ra ngoài, ngồi đúng vị trí cũ, chăm chú nhìn xa xăm. Thấy hành động lạnh lùng của chú mèo, chả thèm quan tâm gì đến một người lạ vừa quen đang huyên thuyên phía trên cửa sổ là cô. Nên An cũng trở nên im lặng, ngồi nhìn ra ngoài, khuỷu tay chống lên thềm cửa sổ, hai bàn tay áp vào má, người tì hẳn lực vào hai tay, tự mình suy nghĩ, tự mình phỏng đoán, để trả lại không gian yên tĩnh cho chú mèo ngắm cảnh thành phố từ trên cao.
Lát sau, An quyết định đi vào trong, bật ti vi lên xem một chút trước khi ngủ. Cửa sổ vẫn mở để chú mèo ngồi bên ngoài cảm thấy vẫn có người bạn bên trong. Thế nhưng An nằm coi một lúc thì ngủ quên một giấc dài. Đã vậy, cô còn nằm mơ. Đó là một điều lạ vì An ít khi mơ. Một giấc mơ thật đẹp.
Trong mơ, An thấy mình như đang quay về thời sinh viên. Cô đang ngủ gật ở phòng tự học. Giờ nghỉ trưa nên Huy – người anh khóa trên mà cô thầm thương mến – nhận nhiệm vụ đi mua cơm trưa ở căn tin về cho hai đứa. Chợt có một bàn tay lạnh ngắt, gầy guộc, nhẹ nhàng xoa lên má cô. An cảm nhận được rất rõ lòng bàn tay ấy có những vết chai do tuổi thơ vất vả mưu sinh. Dù có phần thô ráp và lạnh lẽo, nhưng sự dịu dàng không phải đến từ bàn tay ấy mà toát ra từ tính cách của người sở hữu nó. Bàn tay ấy có phần vụng về như đang cố học cách nâng niu một đóa hoa mỏng manh. An bối rối không dám mở mắt ra, vì cô biết bàn tay đó của ai. Đôi bàn tay ấy khiến cô luôn thổn thức muốn nắm lấy thật lâu chỉ vì một lần vô tình chạm trúng. Một đôi bàn tay lạnh và chai sần khiến cô muốn dùng sự mềm mại và nhỏ nhắn của đôi tay mình để truyền qua một chút hơi ấm. Thế giới của An không quá màu hồng nhưng cô vẫn muốn dùng sự dịu dàng và ngọt ngào mà mình có được để chữa lành những năm tháng cơ cực mà anh từng trải qua. Bằng sự đơn thuần và hồn nhiên của người con gái mới lớn, cô đã nhiều lần nghịch ngợm cầm lấy đôi bàn tay ấy để giữ cố định mà vẽ vời lên. Còn anh thì chưa một lần rụt tay lại trước sự nghịch ngợm ấy của cô, anh quả thật như một người anh bao dung với đứa em gái nhỏ. Chỉ là tại khoảnh khắc này đây, ngoài sự nuông chiều có phần bất lực từ anh thì cô còn mơ hồ nhận ra một điều gì đó rất khác, một chút kham nhẫn, một chút dè dặt, một chút ngại ngùng nhưng cũng có một chút trìu mến. An sợ rằng khi mình mở mắt ra, cảm giác được nâng niu ấy sẽ không còn nữa, thay vào đó sẽ lại là cách đối xử cứng nhắc, chừng mực như thường ngày của một người anh trai, không hơn không kém.
Chợt, bàn tay ấy đi chuyển sang bên tai, vén gọn những sợi tóc mai ra sau tai giúp cô vì chúng đang che một phần chiếc gò má phúng phính. Hai tay khoanh tròn làm gối kê đầu của cô cũng được nhẹ nhàng thay bằng một vật có lông mềm, mịn và thoải mái. Cô đưa tay ôm lấy chiếc gối lông vừa mới thay chỗ. Một âm thanh lạ cứ rù rù bên tai đều đều khiến An giật mình tỉnh giấc.
An ngạc nhiên khi nhận ra mình đang gối đầu lên mình của chú mèo mun. Một chân trước của chú còn đang gác lên gò má của cô. Hóa ra, âm thanh rù rù mà An nghe được trong mơ lại là tiếng thở của chú mèo này. An định thần lại, nhìn ra cửa sổ, thắc mắc:
- Khe cửa sổ nhỏ thế cơ mà, sao em vào được đây? Người ta nói không sai mà, cơ thể mèo là chất lỏng.
An nhìn đồng hồ, đã mười hai giờ đêm. Cô bước xuống kéo cửa sổ lại để ngăn gió lạnh ùa vào, nhưng không khóa, cô bảo:
- Bên ngoài lạnh thật. Chị khép cửa hờ nhé. Khi nào em muốn đi thì đẩy sang một bên. Biết làm chứ?
Không đợi chú mèo hiểu hay không những lời cô nói. An quay lại giường, chui vào chăn, sửa lại chiếc gối to kê đầu rồi ra hiệu cho chú mèo cũng chui vào chăn ngủ cho ấm. Chú mèo nhìn cô, dè chừng nhưng cũng rón rén làm theo. Chú chui vào chăn cuộn tròn sát vào người An như muốn dùng mớ lông mịn và thân hình ấm nóng của mình sưởi ấm cho cô bạn mới quen. An cũng dịu dàng nghiêng người sang ôm lấy thân thể ấm áp ấy của chú mèo, ngón tay cái không quên di chuyển tới lui như một người chủ đang ru thú cưng của mình ngủ.
Nhờ có cuộn lông ấm áp ấy mà An ngủ rất ngon. Khi An giật mình dậy thì trời đã sáng rõ. Chú mèo đen đã đi tự lúc nào. An nhìn ra phía cửa sổ. Cửa sổ đã đóng và… được khóa từ bên trong như chưa từng có vị khách mèo ghé thăm tối qua. An sững người, lấy tay vỗ vào đầu vài cái như cố xốc lại ký ức. Rõ ràng là từng có chú mèo lén vào phòng cô, từng có chú mèo cuộn tròn làm gối cho cô nằm, từng có chú mèo rút vào chăn cô mà ngủ. Vậy mà sáng nay, không có chú mèo nào trong phòng và cửa thì khóa trái như mọi khi. An quay lại giường nhìn thật kỹ trên miếng nệm dày trắng tinh như cố tìm bằng chứng, nhưng không một chiếc lông mèo nào dính lại trên ra trải giường. An ngồi thừ người một lúc, không hiểu chuyện gì là thật, chuyện gì là mơ ảo nữa. Cho đến khi chuông báo thức trên điện thoại lại reo lên, An mới đứng dậy đi đánh răng rửa mặt chuẩn bị cho ngày công tác cuối cùng ở Rạch Giá.
Sau buổi tập huấn cuối cùng, công việc kết thúc thuận lợi. An thu xếp đồ đạc, trả phòng và đi ăn trưa rồi bắt đầu chuyến hành trình lái xe về lại quê hương. An đang làm việc theo hình thức từ xa, chỉ khi có việc gì cần gặp trực tiếp cô mới đến công ty. Bởi vì công ty cách xa nhà cô tận hai trăm cây số. An ở nhà vừa làm việc từ xa vừa chăm sóc cho bà nội. Cha của An đã mất do bạo bệnh, mẹ của An thì đã ly hôn với cha cô trước khi ông mất hai năm và hiện tại mẹ cô đang có gia đình mới. Cha của An là con một, nên sau khi cha mất, An là người duy nhất ở lại và chăm sóc bà. Chính vì vậy, sau khi hoàn thành công việc ở nơi xa, An tranh thủ trở về với nội.
An về đến nhà cũng gần bảy giờ tối. Thời tiết hôm ấy thuận lợi nên đoạn đường dường như cũng được rút ngắn lại. Nội của An đang cặm cụi nhóm lửa hâm lại ấm nước đã đun sôi mấy lần để cho cháu gái tắm, vì sợ cháu đi đường xa về sẽ lạnh, tắm trễ bằng nước lạnh dễ sinh bệnh. Nhìn thấy nội bên bếp lửa hồng, tấm lưng còng kiên nhẫn ngồi đẩy từng que củi nhỏ vào bếp, An thương nội vô cùng. Cô lấy ra đưa cho nội hai chai nước mắm Phú Quốc và một bịch khô cá thiều nướng sẵn, những món quà cô mua về từ thành phố Rạch Giá.
Tối hôm ấy, An kể lại cho nội nghe những chuyện kỳ lạ mà mình gặp trong chuyến đi công tác. Nội im lặng ngồi nghe không bàn luận gì thêm, sau khi nghe xong, bà chỉ hối thúc cháu gái đi ngủ sớm để lấy lại sức. Sau đó, bà tiến lên nhà trước, nơi có đặt bàn thờ Phật[3] và bàn thờ gia tiên. Nội thắp nén nhang để báo bình an với tổ tiên và cảm ơn chư Phật đã phù hộ cho cháu gái mình tai qua nạn khỏi. Xong việc, nội lại ra sân, tiến về phía ngôi miễu nhỏ ở bên góc trái sân, cạnh hàng rào để thắp nhang cho ông Tà[4].
An lấy làm lạ, vì nội thường dặn, thắp hương cho ông Tà thì không nên thắp quá trễ, vì khi đó ông đã rời miễu đi hành quân. Nhưng hôm nay nội lại phá lệ, có lẽ nội có việc quan trọng gấp gáp cần khấn báo với ông chăng.
Ở quê An, cũng có vài ngôi miếu thờ ông Tà, có nơi còn có cả tượng đúc với nhân dạng rất kỳ dị và tượng thường trong tư thế ngồi. Nhưng cũng có nhiều gia đình thờ ông Tà trong ngôi miễu nhỏ xíu trong khuôn viên nhà, thường là trước sân. Bên trong ngôi miễu thường thờ một hoặc vài hòn đá tròn nhẵn mà gia chủ gọi là ông Tà. Nhưng không phải nhà nào cũng có nhân duyên để thờ ông Tà, vì nếu không đủ duyên, dù có thỉnh về thờ phượng thì ông cũng sẽ rời đi. Còn nếu hữu duyên, dù có ném đi nơi khác, ông cũng sẽ lăn về. Ông Tà ở nhà An cũng vậy.
Nội của An từng kể, từ hồi nội của An còn trẻ, ông Tà đã xuất hiện trước sân nhà. Khi nội của An quét sân, nhìn thấy một hòn đá gần như tròn trịa, trơn nhẵn, to bằng quả trứng ngỗng nằm ở một góc sân. Lúc đầu, bà không biết nên cứ lấy chổi quét vào sát gốc cây chanh. Nhưng hôm sau, khi bà quét sân lại thấy hòn đá nằm ở vị trí lần đầu tiên bà gặp. Nội của An bắt đầu thấy kỳ lạ, thế là bà nhặt hòn đá quăng xuống con mương cặp mé hông nhà. Sáng hôm sau nữa, bà lại thấy hòn đá ấy xuất hiện ở vị trí ban đầu. Lúc ấy, bà đem chuyện kể lại với cha của bà, mới được cha cho biết đây là hiện thân của ông Tà. Thuận theo ý muốn ở lại cư ngụ trên mảnh đất này, gia đình bà lập một cái miễu nhỏ trước sân, ngay vị trí lần đầu tiên ông xuất hiện. Lúc đầu, nội của An cứ nghĩ, để cho người lớn trong nhà thỉnh ông vào miễu ở. Nhưng khi vừa đưa ông vào buổi sáng thì trưa đã thấy ông lăn ra khỏi miễu, nằm trơ trọi bên ngoài. Thấy vậy, nội của An phải đích thân đốt nhang khấn vái và thỉnh ông vào thì từ đó về sau ông mới chịu yên vị trong ngôi miễu đó.
Câu chuyện ly kỳ về ông Tà, An cũng được nghe nhiều người lớn tuổi trong làng kể lại, trong đó có cả nội của An, người từng chứng kiến nhiều lần những tia lửa xanh xẹt qua trước sân rất nhanh. Chính vì vậy, từ lúc An còn nhỏ, đã được người lớn dạy rằng vào lúc chạng vạng tối, khi mặt trời lặn, trẻ con không nên chơi trước sân vì khi ông Tà đi hành quân, sẽ di chuyển với tốc độ rất nhanh. Trẻ con chạy giỡn sẽ ngáng đường ông đi, gây trễ nải việc trừng trị tà ma quấy nhiễu dân lành, hoặc cản trở sự vụ đuổi vong vất vưởng về địa phủ. Đặc biệt, nếu có cơ duyên nhìn thấy ông xoẹt qua, hãy đứng yên, không được réo gọi nhau ra cùng xem hay chỉ trỏ về phía ông, như thế là bất kính. Vì dân gian quan niệm rằng ông Tà rất thương dân làng, sẽ hết lòng bảo hộ cho con người, nhưng ông cũng rất khó tính, hễ sai phạm, ông sẽ trừng phạt rất nặng.
Không ai xa lạ, chính An khi còn nhỏ cũng từng bị ông phạt. Cô còn nhớ có lần, cũng vào buổi xế chiều, An mê chơi ngoài sân mà không chịu vào ăn cơm. Khi đó cha và mẹ của An còn sống chung với nhau. Mẹ của An là người nóng tính, gọi mãi không thấy An vào rửa tay ăn cơm, bà mang roi ra dọa. An khóc la, lăn ra sân ăn vạ mong cha và nội nghe thấy để ra bênh vực cho mình. Không thấy ai bước ra, An càng khóc lớn hơn, hai chân chòi đạp vẫy vùng dưới mặt đất mà không để ý rằng bản thân đang ngồi trước cửa miễu không xa.
Lát sau, tay chân cô tự nhiên co quắp lại, cứng ngắt, quẹo quọ như đang bị chuột rút. Mẹ của cô lúc ấy mới ngừng la mắng, ngồi xuống xoa bóp mãi mà gân tay chân không thể trả về vị trí cũ. Lúc này, nội của An sau khi nhốt bầy vịt vào chuồng, từ phía sau hè đi lên thấy thế vội đốt một cây nhang mang ra miễu. Đồng thời, bà dẫn An đến trước cửa quỳ xuống vái lạy mong ông Tà tha lỗi. Sau khi An nói theo lời nội và vái lạy ba cái thì các ngón tay và chân cũng từ từ được thả lỏng dần rồi trở lại bình thường.
Từ đó, An trở nên rất ngoan, không còn quấy khóc vô cớ nữa. Cô cũng biết ngôi miễu nhỏ trước nhà mình rất linh thiêng nên tuyệt đối tôn kính và không bao giờ dám bất kính. Một số bà con trong làng có khi cũng đến ngôi miễu trước sân nhà An thắp hương nhờ và khấn vái ông Tà khi gặp điều trúc trắc trong cuộc sống.
Tối nay, thấy nội phá lệ ra thắp hương cho ông Tà khi trời đã quá muộn khiến An có chút lo lắng. Lẽ nào trong chuyến đi công tác vừa rồi, An đã gặp điều không nên gặp hoặc giả là có lẽ cô có hành động nào không đúng, khiến nội phải lo lắng mà gấp gáp đi thắp hương trong đêm như thế.
Ngày hôm sau, mọi việc diễn ra bình thường như mọi khi khiến An nghĩ: “Không sao, mọi việc đều bình thường, không sao cả!”. Cho đến hai ngày sau đó nữa, khi An đang ngồi trên xích đu trước nhà nhìn ra con lộ lớn. An giật mình khi lại nhìn thấy hai cái đốm sáng xanh lè lơ lửng, là đà cách mặt đất chừng một gang tay. Đốm sáng di chuyển song song, qua lại liên tục như mất phương hướng. An chăm chú nhìn kỹ hơn khi đốm sáng xanh tiến lại gần cổng rào. An thở phào nhẹ nhõm, tự nói một mình:
- À, thì ra là một con mèo đen.
Trong ánh sáng lờ mờ của buổi chiều sập tối, cánh cổng rào cách chiếc xích đu đặt ở hàng ba mà An đang ngồi khoảng chừng năm mét. An giật mình nhìn thấy bàn chân trước của chú mèo kia có đốm lông trăng trắng nổi bật trên nền lông đen tuyền toàn thân khi chú cố cào vào cánh cửa rào. Cửa rào nhà An khá chắc chắn, được làm bằng sắt và những khe hở cũng khá to, nhưng chú mèo không chui vào mà dùng chân trước cào vào cánh cửa như muốn xin phép được chủ nhà cho mới vào.
An đứng bật dậy, cô muốn kiểm chứng xem có phải chú mèo ngoài kia là chú mèo mà cô từng gặp ở Rạch Giá hay không. Khoảng cách hơn trăm rưỡi cây số, không thể nào là nó, nhưng nhìn rất giống. Một phần trong lòng cô có chút do dự và hoài nghi không thể giải thích được về sự biến mất của chú mèo lúc rạng sáng hôm ấy. Lần đầu tiên, An phân vân không muốn tìm ra đáp án, mặc dù có thể đáp án ấy chỉ còn cách cô năm mét mà thôi.
An quyết định mặc kệ, cô xem như chưa nhìn thấy, bèn xoay người định đi vào nhà. Chợt bên ngoài cửa rào, chú mèo kêu lên “Meo” một tiếng, rồi chen người qua khe cửa để tiến vào trong sân nhà của An. Khi nghe tiếng kêu của chú mèo, An ngoái đầu lại nhìn thì thấy chú mèo đã chui qua được cánh cửa. An xoay hẳn người ra phía cửa rào, gọi:
- Mi Mi, Mi Mi, vào đây!
Nhưng khi chú mèo vừa bước được một bước, một tia lửa xanh xoẹt ngang nhanh như chớp hướng về phía chú mèo. Mèo là loài nhanh nhẹn và khéo léo, nhưng cũng không kịp né tránh. Chú bị đánh bật lại, văng trúng vào cánh cửa kêu rầm một tiếng rõ to. Chú mèo có vẻ choáng váng nhưng vẫn cố đứng vững rồi lại tiếp tục tiến đến chỗ An. Sự việc diễn ra bất ngờ đến nỗi An chưa kịp phản ứng. An định thần lại, lẽ nào vừa rồi là ông Tà vừa đi ngang qua như trong truyền thuyết.
An bất giác bước đến định xem chú mèo có sao không thì vệt sáng xanh ấy lại xoẹt ngược trở lại lần nữa. Chú mèo lại bị va trúng lần nữa. Cú va chạm khiến chú mèo không còn đủ sức để đứng dậy. Vệt sáng xanh dừng lại trước mặt chú mèo. An đứng yên nhìn kỹ, là một ngọn lửa xanh rì, phía dưới liên tục phát ra những tia lửa nhỏ nhiều màu như pháo hoa.
Chú mèo như bị thuần phục, cúi rạp đầu xuống đất. Ánh mắt mất đi vài phần xanh sáng của lúc ban đầu. Trong đầu An lúc ấy vẫn còn văng vẳng trong đầu, khi thấy ông Tà đi qua, tuyệt đối không được nói chuyện, tuyệt đối không được gây ra tiếng động. Nhưng trước mắt An lúc ấy là một chú mèo mắt xanh lam đang bị thương, một lời giải chưa kịp cho kết quả cuối cùng. An cũng không hiểu vì sao chú mèo ấy lại bị ngăn chặn không được vào khuôn viên nhà cô. An không biết sẽ làm gì tiếp theo. An cũng không biết chú mèo đó sẽ bị xử lý như thế nào. Nhưng nếu An không làm gì cả thì chắc chắn chú mèo ấy không thể sống nổi với hai cú đánh mạnh và nhanh như thế.
An lấy hết can đảm, khuỵu hai gối quỳ xuống, hai tay chấp lại thành khẩn thưa:
- Ông… ông ơi…, con mèo ấy từng cứu con. Con xin ông hãy tha cho nó lần này!
Nói rồi, An cũng cúi rạp người xuống, hai tay đặt song song hai bên ngay ngắn trên mặt đất, đầu dập xuống, không dám ngẩng đầu lên nữa. Chừng vài phút sau, không nghe động tĩnh gì nữa, An từ từ ngẩng đầu lên, ngước mắt nhìn về phía vừa xảy ra vụ việc nhưng không thấy chú mèo đâu. Ngọn lửa xanh cũng không còn nữa. An chạy lại gần cổng rào, tìm kiếm nhưng cũng không thấy gì.
Cả đêm ấy, An dường như lo lắng đến mất ngủ. Không biết trong khoảng vài phút ngắn ngủi ấy, chuyện gì đã xảy ra.
Như một thói quen, dù nó chỉ lặp lại vài lần trước đây, An mở cửa sổ trong phòng, ngó ra hàng rào bên hông nhà để tìm kiếm xem chú mèo có lén trở lại hay không. Nhưng không có gì ngoài một khoảng tối đen, có lẽ chú mèo bị thương nặng lắm. An gác tay lên trán trằn trọc mãi đến gần hai giờ sáng mới lim dim chìm vào giấc ngủ thì có âm thanh như một vật gì đó được ném vào trúng cánh cửa sổ. An ngồi bật dậy, nhìn ra ngoài sân, dưới ánh sáng lờ mờ của vầng trăng khuyết, An nhìn thấy hai viên bi màu xanh phát sáng. Lần này hai viên bi không tròn đều nữa mà hơi dẹt. An đoán rằng chú mèo cố mở mắt để báo cho cô biết rằng chú vẫn ổn, nhưng không đủ sức để mở to đôi mắt xanh lam ấy nữa.
An mừng rỡ, nói thì thầm bằng hơi để nội không phát hiện:
- Có phải là em không Mi? Nếu đúng là em, hãy gật đầu một cái ra dấu với chị nhé!
Quả nhiên, hai viên bi dẹt màu xanh ấy từ từ hạ xuống một chút gần mặt đất rồi di chuyển lên cao trở lại. Dù không thấy gì ngoài hai đốm xanh lam đang di chuyển, nhưng An cũng tưởng tượng ra hành động cúi đầu của chú mèo kia. Nội đang ngủ ở phòng kế bên, An không dám mở cửa ra ngoài vì sợ làm nội thức giấc. Lại không dám gọi chú mèo mạo hiểm vào nhà nữa, An đành ngồi dựa cằm vào cửa sổ, nhìn về phía hai viên bi xanh đó mà thì thầm tiếp:
- Chị xin lỗi em nhé! Nếu không phải tại chị gọi, em cũng không bước qua cánh cổng, cũng sẽ không bị ông đánh cho bị thương thế này.
Chợt hai viên bi xanh di chuyển thoăn thoắt, uốn lượn quanh gốc cây xoài theo hình xoắn ốc, bay dần lên cao rồi yên vị trên một nhánh hơi chìa về hướng cửa sổ của An. Có lẽ chú mèo đã leo lên cây xoài để đến gần An thêm một chút. An lại tiếp tục thì thầm:
- Sao em lại ngốc như thế chứ? Đi theo chị về đây làm gì?
Một phần vì thấy có lỗi, một phần vì xót xa, xen lẫn với sự khó hiểu bởi chẳng rõ nguồn cơn, An cảm thấy bất lực mà rơi nước mắt. Cô thút thít, vai run lên bần bật vì cố nén cảm giác bất lực đến khó chịu ấy xuống tận sâu trong lòng. Cảm giác tương tự như cái ngày Huy dẫn bạn gái đến giới thiệu với cô, một cảm giác xa vời, người đứng ngay trước mặt nhưng cô lại cảm thấy xa đến nỗi không thể nào chạm tới.
Gió bên ngoài rì rào, làm cho những chiếc lá xoài va vào nhau trong đêm thanh vắng, An nghe rõ từng tiếng cọ quẹt xào xạc trên cây. An ngước lên nhìn về phía hai viên bi xanh đã nhỏ dần thành hình trăng khuyết, có lẽ chú mèo đã mệt nên đang lim dim. Chợt cô phát hiện xung quanh đôi mắt xanh rì ấy là một chú đom đóm đang chớp tắt chiếc đuôi phát sáng sinh học của mình. Cô phì cười bảo:
- Em ở trên ấy cũng không cô đơn đâu nhỉ?
An yên tâm nằm xuống tiếp tục suy nghĩ miên man rồi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.
Trời sáng rõ, An lao ra ngoài như tên bắn, nhắm hướng vị trí chú mèo xuất hiện đêm qua. Quả nhiên, chú đang nằm trong bụi hàng rào râm bụt, mắt vẫn nhắm nghiền vì trọng thương. Không có vết thương hở, chỉ thấy trên bả vai và lưng của chú mèo bị cháy xém hai mảng lông lớn, lộ ra khoảng da trắng loang lổ vết bầm xanh đen. An vào nhà lấy một ít nước để chú mèo liếm vài ngụm cho đỡ mệt. Sau đó, cô cẩn thận giã nhuyễn một ít muối hột rồi đắp lên vết thương cho chú mèo để tan máu bầm.
Nội của An thấy cháu lui cui ngoài hàng rào thì cũng ra xem và biết chuyện. Bà lắc đầu thở ra:
- Nghiệp duyên phải trả xong rồi mới đi được.
Bà đi vào nhà, nằm lên võng, vừa đu đưa vừa kết áo gối từ những mảnh vải vụn. Nội của An là một thợ may khéo tay từ nhỏ. Sau này lấy chồng nhưng sau đó chồng bà ngoại tình, bà và ông ly hôn khi cha của An chỉ mới tròn tháng. Bà về nhà cha mẹ ruột, ở vậy nuôi con rồi nuôi cháu. Cứ thế một đời người mấy chốc đã đến tuổi xế chiều. Mỗi ngày, bà đều đặn may những mảnh vải vụn thành hình lục giác nhỏ, khi đủ nhiều thì bắt đầu kết chúng lại thành hình hoa văn. Dù là vải vụn tưởng chừng như bỏ đi, nhưng với sự sáng tạo và thẩm mĩ cao, nội của An lại làm ra những chiếc áo gối với hoa văn độc đáo, có một không hai. Cứ làm được chừng chục cái thì bà lại đem giao cho sạp bán đồ may sẵn ngoài chợ để lấy tiền thù lao.
Thấy An đi vào nhà, bà gọi An đến ngồi gần rồi nói:
- Chút nữa con lấy cây nhang, đốt, rồi đem con mèo kia theo ra miễu vái lạy xin ông Tà cho nó ở nhờ trả duyên.
Nội An sống ở cái tuổi hơn tám mươi, đã trải qua bao nhiêu chuyện ly kỳ, điều bà nói có lúc chứa đựng những huyền cơ mà một người trẻ như An không thể hiểu được. An chỉ biết làm theo lời chỉ dẫn của nội.
Lúc đầu, chú mèo rất ngoan ngoãn nằm yên trong vòng tay An cho đến khi nó phát hiện ra mình bị đưa đến ngôi miễu của ông Tà. Chú mèo tỏ ra sợ hãi, tung người tháo chạy. Nhưng An đã kịp lên tiếng ngăn nó lại:
- Nếu em đi, thì đừng bao giờ quay lại nữa. Vì nếu không có sự đồng ý của ông, em sẽ chẳng thể nào ở lại nhà chị được.
Chú mèo đứng sững lại, hai tai cụp xuống, đầu hơi hạ thấp, rồi quay lại trước cửa miễu với An. An quỳ xuống, hai tay cung kính cầm cây nhang đưa cao lên trước trán, khấn theo lời nội dạy. Đoạn, cô cắm nhang vào lư hương rồi kéo chú mèo mun đến trước chính diện, cầm hai chân trước của nó áp sát vào nhau, đưa lên cao rồi từ từ hạ xuống ba lần cho nó hành lễ bái lạy ông Tà.
Sau hôm ấy, quả thật chú mèo được yên ổn sống ở nhà An. Sáng nào cũng tầm bảy – tám giờ, nó đều ra trước miễu ngồi rất lâu, ánh mắt hiền lành cụp xuống, đầu hơi cúi xuống như một kẻ chiến bại bị thu phục trước đấng quyền năng. Sau thời gian hành trì đều đặn như thế, chú mèo mới ung dung nằm xuống như một lính gác trước cửa miễu.
Một tối nọ, An lại mơ. An thấy chú mèo mun ấy hóa thân thành một chàng trai trước mắt mình. Hình ảnh của giấc mơ mờ ảo khiến An không nhận ra đường nét gương mặt nhưng dáng hình của người đó thì rất quen. Với một chiếc sơ mi đen, quần âu đen lịch lãm, trên mu bàn tay có một hình trăng khuyết, đôi mắt ánh lên một màu xanh lam. Chàng trai dịu dàng đưa tay chạm vào má An, xoa nhẹ và nói:
- Anh còn nợ em một lời xin lỗi. Vì đã từng nói dối một điều khiến em đau lòng. Anh chỉ có thể rời đi khi em tìm được hạnh phúc thật sự thuộc về em. Còn từ giờ đến đó, anh vẫn sẽ luôn ở đây để bảo vệ em.
Nói rồi chàng trai nhẹ nhàng đặt vào tay An một chiếc lắc tay bạc có treo xen kẽ phụ kiện hình trăng khuyết và ngôi sao nhỏ, ở đầu dây được gắn thêm một chiếc lục lạc nhỏ xinh. Sau đó, chàng trai từ từ hóa lại thành chú mèo mun, đến cạ vào chân An, rồi nằm xuống cạnh chân cô. An choàng tỉnh nhìn xuống, bên ngoài mùng, chú mèo mun nằm cuộn tròn dưới chân cô. Trên tay cô vẫn cầm chiếc vòng tay lạ. An ngạc nhiên không rõ chiếc vòng tay từ đâu mà lại xuất hiện trên tay cô thế này. An hoảng sợ vội ném chiếc vòng ra xa. Nhưng ngay sau đó, chú mèo mun như có linh tính, chú chui vào trong mùng, tiến về phía chiếc vòng tay rồi gặm lấy nó. Chú mang đến đặt lại vào tay An như muốn bảo cô hãy giữ lấy nó.
Hai tháng sau, An quay trở lại ngôi đình lần trước, mang theo máy quay chuyên dụng và xin phép ông Bảy được thu thập hình ảnh 360 độ của ngôi đình. Cô cũng ghi chép kỹ lưỡng và tìm hiểu chi tiết thông tin về các trận đánh nổi tiếng của cụ Nguyễn để dựng mô phỏng trận chiến trên chương trình máy tính giúp người tham quan trải nghiệm thực tế ảo trên ứng dụng này có thể cảm nhận rõ nét hơn về khí thế và diễn biến của các trận đánh ấy.
Khi trở về nhà biên tập lại hình ảnh, An bất ngờ phát hiện ra, một vài bức ảnh cô chụp được có sự xuất hiện của chú mèo mun với đôi mắt màu xanh lam, chân trước có dấu trăng khuyết màu trắng đang nhìn về phía ống kính. An nghĩ: “Không lẽ lại trùng hợp đến thế sao?”. Thế là An vội chạy đi tìm chú mèo của mình đến để thử so sánh. Mặc dù đây là chuyện khó có thể xảy ra nhưng bằng một thứ linh cảm nào đó, không hiểu sao An vẫn thoáng ngạc nhiên vì cho rằng đấy chính là chú mèo của mình chứ không phải một sự trùng hợp.
Nhưng khi cô ẵm chú đến định hỏi tại sao chú lại có mặt trong bức ảnh được chụp cách đây hơn 150 kí-lô-mét trong khi lúc ấy lẽ ra chú vẫn đang ở nhà. An chỉ tay về phía màn hình, ngay vị trí chụp được chú mèo để tra hỏi chú thì chợt khi cô nhìn lại, trên bức ảnh đã không còn hình ảnh nào của chú mèo mun nữa. Ánh mắt xanh lam của chú mèo sáng lấp lánh như bầu trời ngàn sao vẫn vô tư nhìn An tựa hồ như đang chứng minh bản thân mình chẳng làm điều gì bí ẩn ở đây cả, khiến An bất giác thở phào tự nhủ:
- Có lẽ, chỉ là do chị nhớ em quá mà thôi.
Cô đưa tay vuốt đốm lông hình trăng khuyết trên tay chú mèo. Âm thanh từ lục lạc của chiếc lắc trên tay cô theo từng cử động vuốt ve mà phát ra tiếng kêu leng keng. An khẽ cười bảo thêm:
- Tối nay, khi ngủ, hãy kể chị nghe về hành trình của em nhé!
- Hết -
[1] Hàm nghĩa: Khí tiết của người anh hùng sáng rực như cầu vồng bảy sắc.
[2] Nguyễn Trung Trực (1838 – 1868).
[3] Chữ Phạn là Buddha, trong Phật giáo nghĩa là Bậc Giác Ngộ, một vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
[4] Một vị thần trong văn hóa dân gian và tín ngưỡng thờ cúng thần linh ở một số vùng quê Nam bộ Việt Nam, có quyền năng giữ đất, canh giữ tà khí, không cho ma quỷ quấy phá dân lành.




Bình luận
Chưa có bình luận