Cái hiệu thuốc ảm đạm nằm bên rìa Kẻ Dày, mặt tiền khuất sau tán cây cổ thụ rậm rạp, thoạt nhìn lại càng có vẻ âm u cổ quái. Tạ An xốc lại cái hòm đựng đồ đeo sau lưng, nhướng mày ngước lên nhìn tấm bảng hiệu “Mộc Tỉnh dược đường” đã bám bụi đầy.
Tên dược đồng đi phía trước là một thiếu niên độ mười ba, mười bốn. Trước ngạch cửa, nó bỗng dừng lại, ra chiều bí hiểm, nhẹ giọng dặn dò:
“Chủ hiệu không ưa mấy kẻ lắm miệng đâu. Ngài cứ tùy ý giới thiệu hai câu rồi đi theo tôi là được.”
Tạ An đáp: “Được.” Nói đoạn liền nhấc chân, toan bước vào trong hiệu.
Ai dè, chưa đi được nửa bước, tên dược đồng chết giẫm đã dang tay chặn lại, nói:
“Khoan đã. Tôi chưa dặn xong. Thuốc ở đây đều là thuốc quý, nên tôi cứ dặn trước không thừa. Thứ lỗi… Ngài nên cẩn thận, đừng đụng chạm vào tủ thuốc đấy.”
Tạ An đứng một bên, bụng bảo dạ rằng nếu gã chủ nọ mà ghét kẻ nói lắm, thì đoán chừng thằng oắt này sống cũng chẳng dễ dàng.
“Lâu lắm rồi mới có người tới đây, tôi đã chuẩn bị phòng ốc cho ngài đâu vào đó rồi. Nếu mai này ngài đỗ đạt…”
Thằng nhãi vẫn tiếp tục lải nhải. Trong lúc đợi nó nói cho cạn miệng, Tạ An tiện đưa mắt ngắm nghía tòa nhà một phen. Liếc trái liếc phải, thấy khắp nơi bám đầy mạng nhện. Y tự nhủ, chắc chủ của mấy tấm mạng này cũng phải hóa hình người, bỏ đi được mấy kiếp rồi chứ chẳng chơi. Một nơi ế ẩm như thế này, chẳng biết mở ra để làm cái gì.
Bất giác, y lại nóng lòng gặp vị chủ nhân nọ. Biết đâu lại đúng là như thế.
Mà thôi đi. Hy vọng là không phải.
Thằng oắt nói xong, bèn bắt chước phong thái của mấy tay dịch mục[1], đưa tay làm động tác mời. Tạ An vén vạt áo, bước qua cái ngạch cửa, trên miệng đã nặn ra được một nụ cười mà tự y đánh giá là hết sức ra dáng một Cống sĩ lên kinh ứng thí. Hẳn là y không nhìn được cái bĩu môi của tên dược đồng phía sau.
Bên trong chẳng kê gì nhiều, chỉ có đúng cái tủ thuốc nhiều ngăn kê thẳng chính sảnh và một bộ bàn ghế gỗ sơn đen. Dược đường nhìn bên ngoài phủ mạng nhện, ai ngờ bên trong lại sạch đến chẳng có một hạt bụi. Trống trải, nhưng không khí tràn ngập hơi thở của con người.
Hóa ra đúng là không phải thật.
Trước tủ thuốc nhiều ngăn, một nam tử đang trầm mặc ngồi, nhẹ tay chấp bút viết gì đó. Tóc đen buông dài thả sau lưng, nhìn đẹp tựa một bức tranh thủy mặc.
Tạ An nhẹ nhàng thở ra một hơi, rồi chắp tay lên tiếng:
“Tại hạ là Tạ An, tự Tử Ninh, Cống sĩ thành Hoài Giang. Được Phùng Diễn pháp[2] gửi lời, xin được nương nhờ tại dược đường đến khi đỗ đạt.”
Nam tử trước mặt lúc này mới ngẩng mặt lên. Ánh nắng xuyên qua lớp lá cây, hắt vào từ cửa sổ, nhè nhẹ phủ lên bờ mi dài và gương mặt như ngọc tạc của hắn. Mắt sâu mũi cao, đúng là một dung mạo đẹp hiếm có. Hắn liếc đôi mắt đen bén sắc như dao qua Tạ An một cái.
Nam tử kia chỉ nhìn Tạ An trong chốc lát, rồi lại cúi đầu điểm mực viết tiếp, đoạn mở miệng nhạt nhẽo nói:
“Ra là người thành Hoài Giang. Cống sĩ cứ ở lại đây. Sau này nếu đỗ đạt, mong chiếu cố cho.”
Nghe là biết chẳng hề có chút thành ý nhờ “chiếu cố” nào sất. Hoặc có thể nói, kẻ này vốn chẳng hề tin Tạ An sẽ đỗ.
Tạ An thử lục tìm trong trí nhớ xa mờ của mình xem thứ cảm giác “ngờ ngợ” này đến từ năm mấy tháng mấy, nhưng rồi lại mau chóng phủi cả đi. Dù sao bản thân y cũng chẳng phải người có trí nhớ tốt, quên mất một vài chuyện đã qua cũng nào phải chuyện lạ gì. Có lẽ, trong quá vãng dài đằng đẵng, y và kẻ kia đã từng gặp nhau chăng? Dẫu sao, giờ đây việc ấy đã chẳng còn quan trọng.
Y cúi chào kẻ kia, rồi theo chân tên dược đồng rời khỏi chính sảnh. Khi bước vòng ra đằng sau, liền giật mình phát hiện căn nhà này được hợp lại từ bốn dãy nhà nối liền, ở giữa xếp thành một hình chữ khẩu[3]. Ngẩng mặt lên, bốn mặt ngói giáp nhau, ở giữa lộ ra một cái giếng trời sâu hun hút. Ra là ý chữ “Mộc Tỉnh” là chỉ cái giếng này.
Khoảnh đất dưới giếng trời chỉ vừa đủ trồng một cây liễu nhỏ cùng mấy khóm cỏ xương bồ. Mỗi khi gió thổi lại phất phơ cành lá, nom càng nhuốm màu u ám.
Thầm tưởng tượng, nếu ban đêm đi qua dãy hành lang này mà xem.
“Ngài thấy đấy.” Tên dược đồng rời khỏi sảnh chính lại bắt đầu líu lo. “Ban đêm ý mà, tốt nhất là bọn ta cứ ở im trong phòng thôi. Tôi từ bé đã yếu bóng vía. Chẳng hiểu sao cứ phải trồng mấy cái ối giời ôi thế này không biết.”
Cũng tội cho thằng oắt con. Tạ An vừa nghe ngóng, vừa nghĩ ngợi. Không biết có phải liên quan đến lão già họ Phùng kia không. Liễu vốn là loài nặng âm, theo lẽ thường chẳng có ai đi trồng trong nhà, trừ phi mấy lão ở đạo quán nhúng tay. Rõ là nơi ở của con người còn sống sờ sờ, nhưng lạnh lẽo như… Tạ An lắc đầu, gạt bỏ ý tưởng vừa lóe lên trong bụng. Rốt cuộc y cũng chỉ sống tạm ở đây mấy tháng, đến lúc xong việc là rời đi ngay. Tốt hơn hết là không khơi ra những gì mà gia chủ không muốn khơi ra.
Nghĩ vẩn vơ một hồi, y đã đi theo dược đồng vào phòng. Thằng oắt xem chừng cũng tháo vát, sắp xếp ổn cả. Tạ An cũng được coi như là kẻ đã sống lâu năm, đương nhiên chẳng thể không “biết điều”. Hắn vừa dúi vào tay thiếu niên mấy đồng, vừa nói:
“Coi như là quà ra mắt. Từ giờ đến lúc đó ta còn trông nhờ chú mày nhiều.”
Dược đồng cũng là đứa thức thời, cất kỹ tiền rồi cười đon đả:
“Cảm ơn Cống sĩ. Tôi tên là Dương, ngài nhớ nhé. Tôi ở ngay phòng bên trái ngài. Tối nay có gì ngài cứ gọi cái là tôi sẽ sang ngay.”
“Chữ ‘dương’ nào?” Tạ An buột miệng hỏi.
Tên dược đồng khẽ xoa cái mũ đội đầu, cười trừ đáp:
“Tôi đâu có biết nhiều chữ như vậy. Nghe ông chủ bảo… Cái gì ấy nhỉ?”
Tạ An thấy thằng Dương gãi đầu gãi tai, cũng không đả động về chủ đề này nữa, mà nói:
“Được rồi, tối nay nếu có gì thì ta sẽ sang gọi ngươi.” Đoạn, y ngừng một lát, nhìn quanh rồi cảm thán. “Mà ta không ngờ hiệu thuốc lại rộng rãi thế này. Ở đây chỉ có ngươi và ông chủ hiệu thôi à?”
“Ngày thường thì đúng là có hai người thôi. Mà mỗi dịp triều đình mở kỳ thi, cửa hiệu đều cho các vị Nho sinh tá túc. Ba năm trước cũng có hai vị đến ở dãy bên này.” Dương trả lời đến đấy rồi thôi. Rõ là trong số mấy vị sĩ tử kia, chẳng có ai làm nên cơm cháo.
Tạ An gật gù, tiện miệng hỏi: “Không biết phòng ông chủ hiệu thuốc ở đâu nhỉ?”
“À phải rồi, nãy quên không giới thiệu cho ngài. Ông chủ thích yên tĩnh nên ở dãy nhà đối diện kia.”
Dương chỉ tay sang phía đối diện. Xuyên qua lá liễu phất phơ, Tạ An thấy một căn phòng đang đóng kín. Đoạn, y lại ngẩng đầu lên cái giếng trời, bất giác nghĩ, cái nhà này xem ra cũng có đôi phần tiện lợi.
—
Đêm là lúc người tốt thì đi ngủ, kẻ xấu và yêu ma quỷ quái thì bò dậy. Dương nằm co ro trên giường, cả người toát mồ hôi. Hôm nay nó lỡ uống hơi nhiều nước.
Trằn trọc mãi, đến lúc nhu cầu bức thiết đánh bại nỗi sợ, Dương mới đành xuống giường, thắp đèn, khom người đi ra khỏi cái hành lang. Giờ muốn đi thì phải vòng qua cái giếng trời, đi qua cây liễu, băng ra phía sau vườn thuốc. Phía bên ông chủ và vị Nho sĩ kia có lẽ đều đã ngủ, khắp nơi tối đen.
Không gian tĩnh lặng đến chẳng có một tiếng côn trùng. Bỗng vang lên tiếng cót két rất khẽ. Thằng Dương giật mình, quay phắt ra đằng sau. Ra là tiếng cửa nó chưa đóng kỹ. Nó tự nhủ. Nó đành phải cài cửa lại thật chặt, rồi lấy hết can đảm mà đi.
Đêm đầu tháng, trăng non tỏa ánh sáng mờ mờ. Cây liễu phất pha phất phơ trong đêm lạnh, càng nhìn càng quỷ quái. Dương cố gắng tránh mắt khỏi cây liễu, trên đường đi liên mồm lẩm bẩm “Nam mô A di đà Phật”, chỉ mong cho nhanh đến vườn thuốc. Vườn thuốc ban đêm cũng hãi đấy, nhưng ít ra còn ấm hơn chút ít, nào giống như cái hành lang này.
Cả đường đi lẫn đường về mất độ gần một khắc. Dương bước trở lại cái hành lang, cố mở vai ưỡn ngực để tỏa ra thứ gọi là “chính khí đuổi tà”. Nó tránh nhìn thẳng vào cây liễu, đưa mắt lên trên nóc nhà, rồi ba chân bốn cẳng, chạy thẳng vào phòng.
Phía trên mái nhà, một cặp mắt tròn xoe, đen láy vẫn dõi theo mọi động tĩnh của mấy kẻ trong nhà.
Dưới ánh trăng non, một bóng chim vút bay lên, tĩnh lặng như ma.
—
Trải qua một đêm, trong hiệu thuốc, mọi người vẫn bình an vô sự. Bây giờ là giờ Mão, mặt trời vừa ló dạng. Nắng nhạt, tuy chẳng ấm, nhưng được cái bớt lạnh.
Tạ An rửa mặt sau giếng nước sân sau, vừa bước về hành lang liền thấy gian trà thất cạnh phòng của ông chủ hiệu thuốc đang mở toang cửa, đón sáng từ cái giếng trời. Liếc mắt trông qua, đã thấy nam tử kia ngồi trong phòng, vừa nhàn nhã thưởng trà, vừa hướng gương mặt tuấn tú về phía mình, khóe mắt cong cong, ngậm ý cười.
Chắc là vì ánh mắt ngày hôm qua của vị chủ nhân này, Tạ An chỉ muốn tránh va chạm với người này càng nhiều càng tốt. Y thuận lễ, chắp tay chào một cái, rồi chân rảo bước, muốn nhanh chóng quay trở về phòng. Ai ngờ chưa kịp đi, đã nghe tiếng:
“Đêm qua chẳng hay Cống sĩ ngủ có an giấc không?”
Tạ An đành dừng bước, quay lại nhìn nam tử kia. Hắn đương ngồi trên sập, trên bàn thấp bày một bộ trà cụ tinh tế, phía đối diện đã bày sẵn chỗ cho ai đó. Tạ An đâm ra chột dạ, nói: “Ồ, ông chủ dậy sớm thật đấy. Tối qua ta cũng ngủ khá ngon. Cảm ơn ông chủ đã hỏi thăm.”
Tạ An trả lời bâng quơ một câu, coi như đáp lễ, đoạn lại toan cất bước quay đi.
Nam tử nhìn vị khách đang định chuồn mất, cất giọng từ tốn hỏi vọng qua cửa sổ: “Tạ Cống sĩ đứng lâu mà không mỏi sao? Vào đây ăn miếng bánh, uống với ta chén trà cái đã.”
Nam tử ngưng một lúc rồi nói thêm: “Cống sĩ đến ở nhà ta, mà đôi bên vẫn chưa ngồi nói chuyện với nhau tử tế. Âu cũng là ta chưa phải phép.”
Nghe đến đấy, trong lòng Tạ An thầm than vài câu. Rõ là nhà ngươi lấy cái uy chủ nhà để ép ta đây. Đương nhiên nghĩ bụng là vậy, chứ ngoài mặt vẫn phải bày ra bộ mặt ôn hòa, dẫu sao mình vẫn còn ở nhờ nhà người ta mà. Thôi thì dẫu miễn cưỡng cũng phải giao lưu một chút vậy. Nghĩ đoạn, bèn đi vòng theo hành lang về phía trà thất.
Càng lại gần, hương trà càng rõ. Lúc y bước qua ngưỡng cửa gian phòng nọ, chẳng hiểu sao lồng ngực quặn lên một cái. Nam tử kia dường như vừa ngủ dậy, dây áo ngoài còn chưa buộc chặt. Hơi thở ngấm mùi trà, quyện với hương da thịt đàn ông xộc vào mũi Tạ An. Nếu y không vững tâm, chắc hẳn đã theo phản xạ lảo đảo lùi về sau. Y nhíu mày, gạt bỏ cảm giác kỳ quái đang luồn vào trong ngực.
Dù sao kẻ trước mặt cũng không dùng bùa phép gì, mình cũng bước vào đến đây rồi, không thể bỏ chạy như đám gà rừng. Nghĩ đoạn, y bèn bỏ giày, trèo lên sập.
Cho đến khi yên vị ngồi đối diện nam tử trước mặt, chẳng hiểu sao Tạ An vẫn cảm thấy như mình vừa lạc vào một cái bẫy đã bày sẵn. Y nhìn làn khói trà đang tản trong không khí, rồi cố gắng hạn chế nhịp thở, ngoảnh mặt về phía cửa, ngắm kỹ cây liễu đang phất phơ ngoài cửa sổ.
Nam tử cất tiếng: “Ta là Phương Diên.” Giọng hắn trầm ấm, ngữ điệu không còn lạnh nhạt như hôm qua nữa.
Tạ An vội hồi thần quay lại, lễ độ nhận chén trà thơm ngát hương nhài trước mặt. Đoạn, nghe Phương Diên hỏi: “Phùng Diễn pháp và Cống sĩ là họ hàng ư?”
À, ra là điều tra thân thế ta đây mà, Tạ An nghĩ bụng, thầm thở phào. Hắn đáp:
“Thật ra cũng chẳng phải là họ hàng. Chẳng qua ta và Diễn pháp có một chút duyên gặp gỡ mà thôi.”
Nghe y cười nói, Phương Diên nheo mắt. Cái nhìn hệt như hôm qua, tựa muốn lột trần người đối diện, khiến Tạ An có đôi phần nhộn nhạo.
“Phùng Diễn pháp quả là có nhiều mối duyên thật đấy.”
Phương Diên vừa nói, vừa đẩy cho Tạ An mấy miếng bánh bột lọc bọc lá hòe, ý bảo y cứ tự nhiên.
“Kể ra cũng phải, Phùng Diễn pháp thường đi công vụ khắp nơi cơ mà. Đợt này nghe nói lại về phía Quảng Hưng thì phải?”
Phủ Quảng Hưng nằm ở phía đông nam, giáp biển, nổi tiếng có nhiều cổ mộc quái thạch. Tạ An nghe vậy liền mỉm cười, thấy trong lòng nhẹ đi một nửa. Ít ra, y đã đã biết kẻ trước mặt muốn biết điều gì. Y vừa bóc bánh, vừa gật gù nói:
“Phải rồi. Hôm nọ nghe ông ấy nói chuyến này đi phải tháng sau mới trở về.”
“Mấy tháng gần đây quanh vùng này có sự quái lạ xảy ra.” Phương Diên vừa rót trà, vừa đột ngột chuyển chủ đề. “Chẳng hay Tạ Cống sĩ có nghe Diễn pháp nhắc tới chăng?”
“‘Tử bất ngữ quái, lực, loạn, thần.’[4] Ta đọc sách thánh hiền, xin không bàn về quỷ thần. Nếu người không làm gì phạm vào chính đạo, ma quỷ chẳng thể hại người.”
Nghe đến đấy, khóe miệng Phương Diên bèn cong lên rất khẽ. Đoạn, lại nghe hắn bâng quơ một câu:
“Canh ba tối qua, dường như có tiếng động trên mái nhà, chẳng hay Tạ Cống sĩ có mất giấc ngủ không?”
Tạ An nhướng mày, ngạc nhiên hỏi lại: “Canh ba hôm qua? Có lẽ tối qua ta ngủ say, chả hay biết gì…”
“Đúng vậy. Tối qua, nó ở…” Tạ Diên mỉm cười, tay trỏ trên trần nhà. “Khoảng chỗ kia, thẳng đầu của Cống sĩ.”
———
Chú thích
[1] dịch mục (役目): Thời Lê Trung hưng, theo “Thượng kinh ký sự” của Lê Hữu Trác, bản Hán ký hiệu R.1112, các trang 2 và 17/97, “dịch mục” là kẻ đứng đầu mọi việc sai phái trong dinh. Đến thời Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 18, “dịch mục” trở thành tên chức quan của đội trưởng trạm dịch. Ở đây dùng theo nghĩa trong "Thượng kinh ký sự".
[2] Diễn pháp: Một chức quan cho Đạo sĩ thời Hậu Lê, làm việc tại cơ quan mang tên Đạo lục ty. Theo quan chế năm 1721, Diễn pháp thuộc hàng Chính Cửu phẩm.
[3] hình chữ khẩu: 口
[4] “Tử bất ngữ quái, lực, loạn, thần”: Một câu trong sách “Luận ngữ”. Dịch nghĩa: "Tử không nói những chuyện quái lạ, sức mạnh, làm loạn và quỷ thần". Nguyên văn chữ Hán: “子不語: 怪, 力, 亂, 神”.




Bình luận
Odnoliub
Ồ...