Những chiếc lá vàng cuối thu lặng lẽ lìa cành, để lại những ngọn cây khẳng khiu trơ mình trước gió. Mùa đông chậm rãi tiến bước, mang cái lạnh đến vùng đất phương Nam của vương quốc, bất chợt đổ ập xuống trong một cơn mưa tuyết, phủ kín cảnh vật dưới tấm màn trắng tinh khôi.
Đêm. Tuyết rơi mỗi lúc thêm dày, che khuất những ánh sao nhợt nhạt trên bầu trời. Náu mình giữa cánh rừng đại ngàn, ngôi làng Belltree nhỏ bé chìm sâu vào giấc ngủ.
Trong màn đêm tĩnh lặng, ngọn gió làm chủ không gian nơi nhịp sống đang đình trệ. Nó treo mình trên cành cây trơ trụi, vít chúng oằn xuống đến gãy lìa. Nó xới tung ruộng tuyết trắng bằng phẳng, cuộn lên từng đợt sóng tuyết dập dìu. Nó rít qua từng khe hở trên những vách gỗ đơn sơ, cao vút tựa con dã thú cất tiếng tru.
Ẩn trong thanh âm của gió, có bước chân rất khẽ của kẻ nào đang dạo quanh. Một con sói cẩn trọng đưa mắt nhìn ngắm lũ cừu béo tốt ngờ nghệch, háo hức cho buổi săn đầu đời.
Sáng hôm ấy, dưới sắc trời u uất của mùa đông, con cừu non đầu tiên được tìm thấy trên nền tuyết nhuộm đỏ.
Con sói, khoác lên mình tấm da cừu, bình thản hòa vào đám đông khiếp đảm.
Cơn đói tạm được thỏa mãn, nó không việc gì phải vội.
Bàn tiệc đã được bày sẵn, và khi đông tàn, nó sẽ ngấu nghiến hết thảy.
~
Đã quá nửa đêm, nhưng Alfred Easton lại vô cùng tỉnh táo, hậu quả việc trót cầm nhầm ly cà phê của cha dượng. Vị cà phê đắng nghét lẩn quẩn nơi cuống họng, dẫu đã ngậm viên đường cũng chẳng thể rửa trôi. Cậu tự hỏi làm sao ông Edmond có thể nạp vào thứ thức uống kinh khủng ấy ngày qua ngày mà vẫn chưa gây tổn hại đến vị giác. Mà biết đâu được, nhiều khi vị giác của ông vốn đã đi đời cũng không chừng.
Alfred thử trò đếm cừu, rồi bỏ cuộc khi đến con thứ năm mươi lăm. Đành vậy, cậu thở dài. Có tiếp tục cố vào giấc ngủ cũng chẳng ích gì. Vốn dĩ cậu cũng hay thức đến khá muộn. Chỉ vào buổi đêm, khi tất cả đã say giấc và dinh thự trở nên vắng lặng như tờ, mới là thời khắc lý tưởng để Alfred chú tâm vào việc của riêng cậu mà không sợ bị ai khác quấy rầy.
Lọm cọm bò dậy khỏi đống chăn, cậu vuốt lại mái tóc bù xù, quờ tìm hộp diêm nơi tủ đầu giường, thắp lên ngọn nến.
Bàn chân trần chạm xuống sàn gỗ lạnh buốt khiến cậu rùng mình. Alfred vơ lấy chiếc chăn trùm kín người, mò tìm đôi dép không hiểu sao chui tọt nơi gầm giường. Cậu tiến đến chiếc bàn kê cạnh cửa sổ, ngao ngán nhìn mớ lộn xộn trên bàn. Một hai cuốn sách đang để mở, còn lại chất thành chồng, cũng tạm coi là đường hoàng. Bút lông chim, lọ mực, những món đồ linh tinh nằm rải rác không theo một thứ trật tự nào.
Vài bức vẽ nguệch ngoạc xếp ngay ngắn nơi góc bàn, chặn bên trên là hộp màu của Lily. Cô tiểu thư nhà Grimshaw thật không có ý thức giữ gìn đồ dùng. Nếu không vì Alfred mò nhặt lại từng cây sau mỗi lần con bé nằm ườn trên sàn mà vẽ vời, hộp màu có lẽ đã lạc mất gần nửa.
Ngoài kia, cảnh vật chìm trong màn đêm lặng lẽ. Sau những ngày nổi giông mịt mù, tuyết ngừng rơi, nhường lại nền trời sâu thẳm cho vầng trăng vành vạnh. Phía xa, nơi trảng đất trống cạnh bìa rừng Belltree, có thể nhìn thấy dáng hình đơn độc của căn chòi gác. Nó đã ở đấy dễ đến hàng trăm năm, dựng lên bởi những kẻ lưu vong đầu tiên đã chọn mảnh đất này làm chốn dừng chân.
Trái tim của ngôi làng, người ta từng trìu mến gọi nó thế, cái lò đá chưa một ngày ngơi nổi lửa mỗi khi tà buông, đỏ rực và cháy bỏng, tựa hơi thở căng tràn của sự sống.
Nhưng đêm nay, và những đêm sau, ngọn lửa ấy sẽ chẳng còn được thắp lên giữa đêm đen. Khi người gác đêm bỏ mạng dưới hàm nanh của dã thú, không một ai đủ can đảm tình nguyện thay thế vị trí của ông ta. Nhận việc đó lúc này thì khác chi tự đâm đầu vào chỗ chết.
Căn chòi liêu xiêu bị bỏ mặc hoang tàn trước gió đông. Khi trái tim ngừng đập, liệu ngôi làng có sẽ lụi tàn?
~
Nó không dừng lại, không thể.
Một khi đã biết đến hương vị máu thịt con người, biết đến niềm hưng phấn khi sinh mạng con mồi dần tan biến dưới hàm nanh nghiến chặt, nó không thể ngừng ham muốn đang sục sôi này.
Nó vẫn là một đứa trẻ. Tham lam, kiêu ngạo, không tự chủ.
Nhưng chẳng hề gì, nó cần thời gian để học hỏi.
Và thời gian, thời gian là thứ nó chẳng hề thiếu.
~
Ánh trăng, đẹp đẽ và thanh bình, dửng dưng trước tấn bi kịch giáng xuống ngôi làng nhỏ. Mười ba nạn nhân, mười ba cái chết khủng khiếp và tàn bạo, danh tính kẻ thủ ác vẫn tiếp tục ẩn sau màn sương mờ.
Dọn dẹp đã tạm đâu vào đấy, Alfred tiện tay mở ngăn bàn, lôi ra một xấp giấy dày. Đôi mắt cậu liếc nhanh qua trang đầu rồi lại đặt xuống, không kìm được một tiếng thở dài.
Danh tính; ngày giờ, địa điểm tìm ra thi thể, lời khai của thân nhân và láng giềng; báo cáo khám xét những nơi ẩn náu khả nghi. Mười ba tập hồ sơ, từng con chữ đều đã đọc đi đọc lại đến nằm lòng, vậy mà vẫn chẳng tìm được một lời lý giải.
Không một dấu vết để lại. Không một nhân chứng. Như nhạo báng những nỗ lực tìm kiếm sự thật.
Như thể trò đùa của quỷ dữ, người ta kháo nhau, thì thầm thật khẽ để tránh khỏi đôi tai của trưởng làng.
Alfred vân vê lọn tóc lòa xòa trước trán, lại hắt ra một tiếng thở dài chán nản. Những ngày này, khéo cậu đã thở dài nhiều hơn trong cả đời cộng lại. Cậu liếc nhìn chồng sách. Celestia sử ký tập ba, Điển tích và thần thoại Schneewelt, Rogwyn du ký. Từ hôm án mạng xảy đến, ngay cả sách - thứ mà Alfred tưởng chừng yêu thích nhất, cũng chẳng gợi được cho cậu chút hứng thú nào, thậm chí tâm trạng để đọc dù chỉ một đoạn ngắn cũng chẳng còn.
Cuốn sách cậu đang tìm không phải vì sở thích hay để giết thời gian. Thực ra, cậu từng không ưa nó là đằng khác.
Alfred tiếp tục dò tìm trong chồng sách. Lịch sử hình thành và phát triển các vương quốc phía Đông, Nhập môn thảo dược học, không phải chúng.
Cuốn nằm dưới cùng bọc bìa da một màu đen tuyền, đôi chỗ đã bắt đầu bong tróc, lạc lõng giữa những quyển sách mới cứng đẹp đẽ. Lướt ngón tay dọc gáy sách nhẵn nhụi, Alfred cẩn thận kéo nó khỏi chồng.
Cuốn sách không có tựa, thay đó đầy rẫy dấu tích của chủ nhân đời trước. Những bức phác hoạ lạ lùng, những vết giây mực và tô gạch bừa bãi, những mẩu ghi chép chi chít bên lề, viết tháu đến độ phải căng mắt mà dò từng từ mới hiểu được. Hai chữ William Leighton chễm chệ góc trái trang phụ bìa, hệt như một cậu học trò ghi tên vào vở.
Nhưng nội dung quyển sách không hồn nhiên như cách nó bị chủ cũ đối xử. Quái thú, ma quỷ, tà thuật, những câu chữ bên trong như trích từ những mẩu chuyện rùng rợn người ta vẫn thường đem dọa nhau đêm hội hè.
Năm lên bảy, nhận được cuốn sách từ tay mẹ - cuốn sách đầu tiên thuộc sở hữu của riêng cậu - Alfred đã hào hứng vô cùng. Nhưng chỉ vừa lật vài trang đầu, hàng loạt bức vẽ kì quái đập vào mắt, cậu liền đóng sập nó lại mà đem nhét kẹt tủ.
Cũng nhờ nó mà cậu đâm sợ bóng tối, trí tưởng tượng trẻ con khiến cái bóng hắt trên tường cũng trở nên sống động.
Mẹ cố dỗ dành cậu, dù bất thành. Chúng không làm hại con được đâu, mẹ nói, bàn tay dịu dàng xoa lên mái đầu. Mẹ lập đi lập lại những lời ấy như một câu thần chú, như thể người cần được trấn an vốn chẳng phải đứa con đang cuộn tròn trong lòng.
Con sẽ an toàn. Chúng ta sẽ an toàn. Tại đây.
Nhưng mẹ đã sai, rất sai.
Tận mắt cậu đã chứng kiến những vết tích nó để lại, toang hoác nơi cổ và ổ bụng, sắc đỏ gai mắt của máu thịt lẫn lộn vào nhau. Liệu loài dã thú nào có thể gây nên những thương tích như thế? Quá khủng khiếp, tựa một cỗ máy giết chóc hoàn hảo. Một phát cắn uy lực nhắm thẳng vào cuống họng, cú kết liễu gọn gàng không chừa cho nạn nhân một cơ hội giãy giụa, thậm chí là thét lên. Đôi khi, một cái tay, một cẳng chân, đứt lìa, hệt con búp bê vải rách bươm, để lộ đoạn xương trắng bị nghiến gãy. Và rồi bụng, xé rách bởi thứ móng vuốt sắc bén tựa dao, phơi bày lục phủ ngũ tạng bầy nhầy nhớp nháp.
Nhưng nếu thực sự tồn tại một con thú tàn bạo đến vậy, sao nó lại không nhắm đến lũ gia cầm gia súc - những miếng mồi ngon dễ dàng hơn bội lần? Lũ vật nuôi, tuy tỏ ra kích động và khiếp hãi, vẫn bình an vô sự.
Càng cố tìm kiếm lời giải, hoá ra chỉ càng đào bới thêm ngàn vạn câu hỏi vì sao. Bằng cách nào nó có thể lẻn vào trong nhà mà không đánh động ai, cả vết tích của việc đột nhập hay trận giằng co cũng không để lại? Cớ sao tha mạng cho những kẻ còn lại, khi bọn họ đang say giấc cách đó chỉ vài bước chân? Tại sao lại cất công lôi nạn nhân ra ngoài, khi có thể nhanh chóng kết thúc tại đó?
Luôn là dưới trời tuyết, và nạn nhân luôn là một thiếu nữ, với duy nhất người gác đêm là ngoại lệ. Con thú nào có thể tinh ranh dường ấy?
Trước những câu hỏi vô phương lý giải theo lẽ thường ấy, đành đi đến một kết luận tưởng chừng viển vông: đó là một con quỷ.
Belltree đã không còn an toàn như lời mẹ từng bảo, cho cậu, hay cho bất kì ai.
Nhưng riêng mẹ, từ lâu đã chẳng còn gì tổn hại thêm bà được nữa.
Alfred chớp đôi mắt ráo hoảnh. Chẳng muốn tiếp tục nghĩ ngợi vẩn vơ, cậu lật ra trang sách đang đánh dấu, theo thói quen ngẫu nhiên chộp lấy cây bút mà xoay xoay.
Trên trang sách đang mở là hình vẽ một đứa trẻ nằm vắt vẻo trên lưng trâu. Nó trần như nhộng, thân hình teo tóp mỗi da bọc xương. Thằng bé đang cười, cái nụ cười ngoác ra tận mang tai để lộ hàm răng trắng ởn, lởm chởm. Quanh cổ nó đeo một xâu hạt dài, còn nơi lẽ ra là đôi mắt lại tô đen ngòm như hai cái hốc sâu. Vật cầm trong tay nó thoại trông qua như khúc sáo, nhưng nhìn kỹ hóa ra lại là một đoạn xương.
Quỷ Mục đồng, dòng chữ dưới hình vẽ chú thích. Dẫn dụ nạn nhân bằng tiếng sáo. Đối tượng: trẻ con dưới mười hai. Giữ mắt nạn nhân làm chiến lợi phẩm.
Đôi mắt những cái xác luôn nguyên vẹn, và họ đều đã quá tuổi mười hai. Không phải nó.
Những trang còn lại trong cuốn sách chẳng còn bao nhiêu. Chưa bàn đến tính xác thực, Alfred bắt đầu lo ngại rằng con quỷ cậu đang tìm không nằm trong số đấy.
Vả lại, một khi đã tìm ra danh tính của nó, phải làm gì tiếp theo đây?
Để tiêu diệt một con quỷ, thoại nghe lý thuyết suông có vẻ đơn giản, nhưng thế khác chi vừa học xong bài nhạc cơ bản đã vỗ ngực tự xưng nhạc sĩ đại tài. Alfred chưa dại dột đến nỗi tự đưa mình ra thí mạng. Gọi tình huống ấy là trứng chọi đá hẵn còn quá nhân nhượng. Thực chất, dân làng Belltree có đồng lòng hợp lại cũng chẳng thể nắm chắc phần thằng trong tay, cả khi con quỷ ấy chỉ thuộc hàng thấp kém.
Tự trong thâm tâm, Alfred biết những gì cậu đang làm chẳng qua chỉ để nguôi ngoai cảm giác lực bất tòng tâm của bản thân, để có thể tự bao biện rằng mình đã không trơ mắt đứng nhìn, không hơn không kém.
Lối thoát của thảm kịch này vốn dĩ chỉ có một - những Thợ Săn Quỷ.
Tuần trước, cha dượng cậu đã gửi thư viện đến sự giúp đỡ từ thị trấn Rosewood. Dẫu thẳng thừng bác bỏ những lời phỏng đoán của người dân, ông Edmond hẳn đã sớm linh cảm được sự hiện diện của một thế lực ma quái mà bản thân ông chẳng thể đối đầu.
Không rõ ông đã viết cho họ những gì. Liệu ông có đề cập đến những nghi ngờ ấy trong thư? Và liệu Hội Đồng sẽ đi đến kết luận gì khi đọc qua lá thư ấy?
Dù thế nào, cậu cũng chỉ biết chờ đợi diễn biến tiếp theo mà thôi.
Alfred lật sang trang, giấc ngủ tạm thời rơi vào quên lãng.
~
Kẻ nào đó đang đến.
Nó ngước lên, cơ thể nhập nhụa trong máu ấm.
Là con người, một con người cả gan xâm phạm lãnh địa của nó.
Lần đầu tiên trong đời, nó biết được thứ cảm xúc gọi là căm ghét.
Những âm thanh gầm gừ phát ra trong cổ họng. Cơn hưng phấn khi ngấu nghiến con mồi nhanh chóng bị dập tắt.
Nó tức giận. Nó muốn giết chóc. Nó muốn xé toạc thành từng mảnh nghiến nát từng mẩu xương hút cạn máu thịt linh hồn hắn. Cơn thịnh nộ thiêu cháy từng tấc da thịt nó.
Nhưng bản năng buộc nó chạy trốn.
Nó đứng đó, tắm mình dưới máu và ánh trăng, điên cuồng và giằng xé.
Chắc chắn là con người, nhưng có điều gì ở kẻ đó thật khác thường, khiến nó tò mò và sợ hãi.
Nó không hiểu, tại sao nó lại sợ?
Tấm da cừu đã ảnh hưởng đến nó trong vô thức. Nỗi sợ nguyên thủy tiềm tàng trong những con cừu, nỗi sợ những điều không thể lý giải, lần này cứu nó một mạng.
Kẻ đó đang tiến đến gần hơn, rất nhanh.
Mười ba, con số xui xẻo.
Nó quyết định quay về, nhưng nó sẽ không bỏ qua.
Một cái chết chậm rãi và ngọt ngào đang chờ đợi hắn.
~
Tiếng hí văng vẳng vọng lại khiến Alfred giật bắn. Cây bút trong tay rơi xuống, quệch một đường trên trang sách, lăn ra góc bàn. Cậu chớp chớp mắt, ngỡ ngàng nhìn vết tích xấu xí.
Một khoảng lặng dài, chỉ có độc âm thanh gió rít hòa lẫn cùng nhịp đập đều đặn nơi lồng ngực. Có lẽ chẳng thực sự dài đến thế. Nhưng giữa đêm đông hiu quạnh, dường như thời gian của tiềm thức đã bị kéo giãn so với thực tại, khiến vài phút ngắn ngủi bỗng hóa thành đằng đẵng.
Hẳn tâm trí mệt lả đã đánh lừa cậu. Alfred nhổm dậy toan nhặt cây bút, cơn choáng váng bất ngờ bổ đến. Cậu thiếu niên nhắm nghiền đôi mắt, xoa xoa bên thái dương. Không biết cậu đã ngồi đấy được bao lâu, nhưng đôi chân tê rần thầm mách đã đủ lâu để nó dấy binh nổi loạn, cái đầu bưng bưng nhức nhói ra sức đồng tình. Có vẻ đã đến lúc Alfred nên lết về giường.
Nhưng tiếng hí ấy lại vang lên, lần này không lầm vào đâu được. Dõng dạc, vang dội, có phần bực dọc. Âm thanh của một con ngựa đầy sung mãn.
Chẳng kịp nghĩ ngợi, Alfred chồm về trước, áp mặt vào khung kính lạnh buốt.
Trong phút chốc, tim cậu như ngừng đập.
Dưới ánh trăng, một bóng hình dần dần hiện ra.
Kẻ ấy cưỡi trên lưng con tuấn mã đen tuyền, toàn thân phủ kín dưới lớp áo choàng, che khuất khuôn mặt, không phân biệt được là nam hay nữ. Con ngựa tiến bước trước những luồng gió dữ quăng quật, dáng điệu thong dong như thể chúng chỉ là ngọn gió hè thoảng qua. Chiếc bờm dài tung bay cùng vạt áo, tựa làn khói đen tỏa vào màn đêm.
Như bị thôi miên, Alfred không thể thôi dán mắt theo cặp người lẫn ngựa kia. Tận khi họ dừng bước, cậu mới nhận ra đích đến của vị khách bí ẩn không đâu khác chính là dinh thự Grimshaw.
Hàng loạt câu hỏi lập tức ngổn ngang trong. Hắn là ai? Nếu là khách của cha dượng, lẽ ra họ đã được thông báo trước. Vì sao, và làm sao hắn đến được đây? Giữa đêm đông lạnh lẽo này?
Hắn có thật là người không?
Bóng tối ập xuống tựa sóng lớn, nhấn chìm căn phòng dưới đáy sâu âm u. Kẻ đó ngẩng đầu nhìn lên. Trong một thoáng chốc ngỡ chừng là chiêm bao, ánh mắt đôi bên xoáy vào nhau. Dưới vạt áo, đôi đồng tử rực lên tựa ánh lửa, sáng quắc. Vài lọn tóc rũ trước trán, đỏ một cách dị thường, đỏ như máu tươi trên nền tuyết.
Alfred hoảng hốt lùi về sau. Cậu vấp phải thứ gì đó, mắt cá nhói lên một cái mà loạng choạng ngã xuống giường. Đôi mắt Alfred mở to, trừng trừng vào bóng tối vô định, nhịp tim dồn dập vì những cảm xúc hỗn loạn đan vào nhau.
~
Gã thợ săn bước vào bàn tiệc.
Những bánh răng số phận dần khớp lại, bắt đầu luân chuyển.
Bình luận
Hi Nguyên