Gia Đình (Rawon)



Rawon Fostoria rút đoản kiếm bằng gỗ tần bì ra khỏi bao kiếm tự tưởng tượng bên eo, tiếng roẹt vang lên từ miệng thằng nhóc vờ như tiếng rít của lưỡi kiếm bằng sắt thép ma sát vào bao kiếm bằng da. Hành động rút kiếm của nó mang theo làn sóng khí thế vô hình lan tỏa ra xung quanh, và rồi cha Rawon nhìn nó bằng ánh mắt tự hào. Nó ngước lên bầu trời, những hột đậu màu đen sải cánh chao liệng vào lúc hửng sáng. Dường như có gì đó lắng đọng lại sau cơn mưa đêm qua. À, mùi của sương ẩm ướt hơn so với thường ngày, và lạnh hơn nữa, cùng với đó là mùi cỏ ngai ngái, hương phân cừu và dê lượn lờ trong không khí với xạ hương từ chuồng gà gần đó.

Mùa đông sắp tới, mang theo bão tuyết.

Hồi năm ngoái, năm kia hay năm kìa gì đó, nó còn lùn hơn bây giờ. Tuyết cao tới tận cổ nó, có khi qua luôn cả đầu khi những cơn bão mùa đông nhấn chìm một màu trắng xóa cả Elthyria, nơi rìa đông bắc Lục địa Trung tâm.

Nó hạ cằm xuống, đôi mắt xanh thẫm tựa biển sâu nhìn cha. Máu trong người nó dường như đúc từ kẻng sắt, và ai đó gõ nhịp lên đấy, khiến từng mạch máu của nó ngân lên thành khúc gõ tùng-tùng-tùng, vang động cơ thể đứa trẻ như thể đang lắng nghe hồi trống báo hiệu một trận chiến. Trong các cuộc chiến thì chắc chắn không có vụ trống đánh, nhưng các vở kịch của nhà thờ thì đôi khi có, để các giáo dân, cụ thể là lũ trẻ con hưng phấn khi xem.

Ôi, Rawon mê những vở kịch đó! Nó mê kiếm và dao hơn là súng. Những khẩu súng đôi khi có thể trở nên vô dụng khi trời mưa, và, theo cha nó nói, các cuộc chiến đối với những kẻ có khả năng dùng khả năng siêu nhiên để cường hóa thể chất, người dùng súng thường dễ gặp bất lợi.

Một tay cầm dao găm dài, một tay cầm đoản kiếm, nó phóng như bay nơi sân sau nhà của khu làng quê bình yên. Gót chân nó tung bụi đất lên sau mỗi nhịp chạy, hai tay ngày càng nắm chặt hơn. Nó hô vang “hây yaaaaa, Cikkari!” tựa người Zokkath từ lục địa lạnh giá phía đông, bên kia biển Giao Thương rộng lớn. Cikkari, theo ngôn ngữ người Zokkath, có nghĩa là “cuộc chiến nhuộm máu tuyết trắng”.

Những tộc người man di Zokkath thường rống lên từ này khi bắt đầu đánh nhau.

Khi lao qua nửa đường tới cha nó, người đàn ông trông trạc tuổi hai mấy gần ba mươi – mà thực chất đã gần bốn mươi – đứng đối diện đang thủ thế với thanh vũ khí, mũi chân nam của thằng bé không kịp nâng cao mà vấp vào ụ đất bé xíu, chỉ hơi nhô lên từ dưới đất bằng, khiến nó loạng choạng nhún mấy bước về trước. Nó chới với, ú ớ, cố giữ bản thân thăng bằng trở lại nhưng bất thành, và rồi ngã như một thân cây bị chặt bằng rìu.

“Ui da!”

Mặt Rawon đáp xuống đất, mấy ngón tay phía tay phải buông lỏng thanh đoản kiếm, khiến kiếm rời khỏi tay và văng đi, nảy dưới đất kêu lạch cạch. Tay còn lại của nó cầm dao găm gỗ dài vẫn giữ chắc.

Ôi mẹ ơi, đau quá! Thằng bé run rẩy ngồi dậy, hơi méo mặt. Cả người nó ê ẩm, chân ran rát. Nó ngồi phịch xuống đất, thở khò khè do phổi thiếu khí và không hít vào nổi.

Nó cố chống chịu cơn thắt ở cổ, và khi mọi thứ dần ổn, nó nghĩ: Nhục nhã thật. Rodrick mà thấy cảnh này thì liệu anh ấy có cười mình không?

Nó thấy mình trông như vừa trải qua một cơn bão lớn dù thực chất không tới mức đó. Nhưng đau vẫn là đau. Và nó chẳng phải một đứa trẻ Zokkath.

Một thằng nhóc Zokkath với mái tóc nâu sẫm và đôi mắt đen như màu cà phê mở to, hơi trờn trợn. Theo Rawon biết thì lũ nhóc Zokkath thường được cha mẹ dạy phải luôn mạnh mẽ. 3 tuổi được cho ngồi lưng ngựa. Khoảng 5 tuổi thì được học cầm cung nhỏ và dùng dao, cưỡi ngựa giỏi và không được kêu đau hay khóc khi té. Từ khi 8 tuổi, chúng đã bắt đầu được cầm kiếm hoặc đao ngắn, loại đao một lưỡi cong nhẹ của người Zokkath, tựa hình chữ J ngược gọi là Mohakk – Liềm Hoang Dã.

Và khi lên 13, 14, những đứa trẻ đó sẽ được tham gia các cuộc săn hoặc những cuộc chiến nhỏ.

Còn nó thì sao?

Nó chỉ là Rawon Fostoria, một đứa trẻ từ Thánh Quốc Elthyria thuộc Lục Địa Trung Tâm Trenton. Ít nhất thì nó biết cưỡi ngựa. Cha đã dạy nó trong những lúc rảnh rỗi.

“Ui da...” Nó rên lên lần nữa, nhưng không khóc. Ít nhất nó sẽ không khóc. Một phần là vì cha đang nhìn, một phần khác, nó không muốn bản thân yếu đuối.

Jonathan Conklin, cha của Rawon, chạy tới với vẻ mặt lo lắng. Ông xem xét tình hình và thấy đầu gối con mình bị trầy. Vết thương đang dần đỏ lên và chảy máu, những giọt máu tinh khôi của nó.

“Hậu đậu quá đấy, Rawon.” Cha nó vừa nói vừa phủi đất cát trên mặt, tay và chân cho nó.

Nó nhăn mặt phản đối. “Con lỡ vấp chân... Con không hậu đậu mà!”

“Rồi, rồi, con ngoan, con không hậu đậu.” Cha nó cười, cầm hai thanh vũ khí bằng gỗ của con và khéo léo bế nó vào trong nhà, để nó ngồi trên bàn bếp.

Rawon nhoài người, nhấc một bên chân đặt lên mép bàn, chân còn lại thả xuống. Mỗi lần cử động là nó cảm thấy ê ẩm chỗ đầu gối bị thương, từ đầu gối, cơn ê ẩm đó chạy lên đoạn giữa ngực và bụng. Nó nhìn chăm chăm vào vết thương đầu gối đang rướm máu trong khi cha đặt mấy thanh kiếm gỗ xuống cạnh bên.

Rawon cố làm giọng cứng rắn và nói, “Chảy máu rồi, cha ơi! Con không có khóc đấy nhé.”

Cha suýt bật cười, nhưng có tiếng thốt lên bất ngờ đằng sau. “Lạy Nữ Thần, trời ạ!”

Jessica, mẹ của Rawon, bỏ cái khăn choàng cổ đã đan được một nửa – thứ dành cho mùa đông sắp tới – xuống giỏ đựng len và sốt sắng đứng dậy, mau mau chạy tới. Bà có mái tóc vàng óng và khuôn mặt xinh đẹp so với tuổi thật.

“Lạy Nữ Thần!” Bà cảm thán lần nữa khi nhìn rõ đầu gối phải của Rawon. “Sao nó bị thương vậy?” Mẹ nắm nhẹ hai bên hông đầu gối nó, tránh chạm vào vết thương.

“Đang tập kiếm thì bị té.” Cha nó nhếch môi cười, mắt hơi cong lên.

“Còn ở đó cười được à?” Mẹ nhăn mặt với cha, buông đầu gối Rawon ra và liếc nhìn cha, lúc này trông bà như hổ dữ. “Rửa vết thương cho thằng bé chưa đấy?”

“Chưa ạ...” Rawon quan sát hai người nãy giờ, trề môi mách lẻo, chỉ chỉ vào vết thương đang chảy thành từng sông nhỏ màu dâu nhạt, nhỏ giọng đáng thương. “Con đau lắm mẹ ơi.” Và nó đau thật.

Jessica chống nạnh, ngang ngạnh nhìn chồng mình bằng đôi mắt xanh lục khiến ông rục lại. Bà thở một hơi, lại nhìn hai cha con, lắc đầu rồi bế Rawon đi về phía nhà tắm.

“Để anh làm cho.” Cha nó vuốt bộ râu lún phún chưa cạo. Ông Jonathan Conklin không phải người thích để râu. “Một người đàn ông mà không biết chăm sóc con mình thì chỉ là hàng phế thải.”

“Không, để mẹ làm!” Rawon phản đối, ôm cổ mẹ. Nó nhìn cha như bảo rằng: Con thắng rồi nhé!

“Oắt con!” Jace nói.

Rawon chề môi, rồi lè lưỡi. “Oắt con bị cha làm té ngã!”

“Con tự ngã mà.” Cha chỉ ra. “Lúc nãy cha thấy con mếu máo sắp khóc đấy.”

Rawon lại mè nheo. “Mẹ ơi!”

“Đừng chọc ghẹo con nữa, Jace.”

“Rồi rồi, phu nhân yêu dấu.” Cha nó nhún vai, bước về phía bàn và rót ly táo pha mật ong để uống. Ông thở dài, vẻ mặt rõ chẳng thích nổi thứ nước đó. Rawon biết cha chỉ thích cà phê và nước lọc, hai thứ như nguồn nạp năng lượng sống của ông.

Mẹ múc nước trong xô, đầu tiên là rửa mặt còn dính lấm tấm bụi, rồi tới rửa vết thương ở chân cho Rawon. Thằng nhóc hơi co chân vì rát. Nhiều thôn quê Thánh Quốc Elthyria không như thành thị, vẫn chưa có hệ thống nước chảy, đã thế nơi này còn là vùng rìa biên giới phía nam gần như hẻo lánh. Muốn có nước thì múc giếng trong làng, hoặc đi một đoạn tới con suối Rolbym gần làng khoảng một cây số rưỡi, tầm hơn mười lăm phút đi bộ.

Mẹ để Rawon tự bước đi khập khiễng về phía chiếc ghế dài của phòng khách, rồi quay sang cha với cái cau mày gần như thường trực. “Không phải anh bảo hôm nay có nhiều việc ở sở Vệ Binh nên rất bận à? Em nghĩ anh nên chuẩn bị đi thì hơn?”

“Đúng rồi,” Như thể trên đầu cha có ánh đèn khí đốt vừa được bật sáng – Rawon chợt nghĩ tới những cột đèn khí than trên đường mỗi đêm được thắp lên. Nhiều lần lên thị trấn Altur cách làng Ciura cả một khu rừng Hammer lớn, phải đi xe ngựa mấy ngày đường để vòng qua, thậm chí cả tuần, hay tuần rưỡi, tại đó nó được thấy chúng – cha mở miệng chữ O, rồi cười tươi.

Cha Rawon cười, một nụ cười yêu thương với mẹ nó. “Anh quên mất, để anh đi thay đồ.”

“Cha là đồ đãng trí!” Rawon cười lớn, rồi ré lên vì bị mẹ đổ thuốc mỡ vào chân, giãy nảy. “Đau quá mẹ ơi! Đau! Đau!”

Lúc này cha đã lên lầu để thay đồ.

“Đau thì mới mau hết.” Mẹ dùng ngón tay thoa đều. “Con hết đánh nhau với lũ trong làng, giờ ở nhà cũng bị thương nữa.” Dù câu nói có vẻ trách móc, nhưng giọng mẹ lại tự hào, vì rõ ràng đứa nhóc nhỏ con của bà không dễ bị bắt nạt.

“Đau quá!” Rawon lại kêu, chân rục lại trong lúc mẹ nó nhúng khăn vải vào rượu ngũ cốc khử trùng và thoa vết thương. “Tụi con chỉ chơi đánh trận giả thôi mà. Cũng có tí xích mích thôi.”

Mẹ không để ý lời biện hộ của Rawon. Mẹ đã từng thấy mấy vết thương bầm mắt tím mũi xước môi mà Rawon gây ra với thằng nhóc Rodrick Ludvig to gần gấp rưỡi hồi năm trước, cũng như nghe rằng khả năng dùng cặp vũ khí của Rawon có thể thắng kha khá thằng nhóc to hơn nó, bà biết nó mạnh mẽ hơn cái vẻ hay làm nũng của nó trước mặt bà. Chưa kể việc Rawon không chối nó đã đánh nhau với người ta, bản thân nó cũng bầm dập không ít lần.

Điều ngạc nhiên hơn nữa – ngay cả bản thân Rawon cũng ngạc nhiên – là anh Rodrick và nó sau đó lại chơi thân, tới mức giờ Rodrick qua nhà như cơm bữa.

Bà buột một cái khăn đã được tẩm ít rượu vào chân Rawon. “Để tránh nhiễm bẩn nếu lỡ có té nữa. Giữ thế này trong hôm nay, cấm tháo ra.”

“Cám ơn nhạc mẫu đại nhân!” Rawon mỉm cười trêu chọc.

“Đừng có học cái tính đó của chú Yuvik.” Bà nói, nhìn thằng con trai bằng ánh mắt cảnh cáo như thể biết tính con mình. Chưa gì mà Rawon đã thấy ngứa tay muốn giật phăng cái khăn tẩm rượu tuyệt trùng ra, tự hỏi mẹ sẽ nhìn nó bằng ánh mắt thế nào.

Đột nhiên có tiếng nói cất lên: “Cậu chủ Rawon lại bị thương à? Bà chủ nên để tôi chăm sóc cậu mới phải.”

Đó là Mina, cô hầu gái nhà Conklin thuê cũng được một năm rồi. Cô đã 22 tuổi, có mái tóc vàng nhạt ngả nâu và đôi mắt lục sáng, màu tóc và màu mắt phổ biến của dân phía bắc Trenton. Mẹ nó cũng có mắt màu lục, nhưng tóc vàng rực không chuyển sang nâu khi trưởng thành như bao người. Đó là đặc điểm của gia tộc Fostoria.

Cô giúp việc đang cầm cây chổi dài dùng để quét bụi trần, vì theo Rawon nhớ là mới nửa tiếng trước mẹ nó nhờ cô ấy lên gác mái để dọn bụi.

“Chị không nghĩ em có thể phân thân để làm hai hay ba chuyện cùng lúc.” Mẹ nó cười châm chọc. Rawon cũng bật cười.

Mina đỏ mặt, một tay gãi đầu, tay kia cầm chổi đặt dưới bụng. “À vâng, tôi xin lỗi bà chủ!”

Mẹ lắc đầu, mặt nhăn lại, nói với giọng không hài lòng. “Em đừng có hay xin lỗi nếu không phải lỗi của bản thân, chị đã nói nhiều lần mà không nghe.”

“Em...”

“Đừng có xin lỗi nữa đấy.” Mẹ chặn trước, như thể vừa lấy keo dính làm từ bột mì dán miệng Mina lại.

Rawon khúc khích trong họng, rồi cười phá lên. Cả mẹ và Mina cũng cười theo, tiếng cười vang vọng khắp cả căn nhà.

“Dường như quỷ cười vừa ám gia đình mình à?”

Rawon quay lại và thấy cha đang đứng ở ngưỡng cầu thang, bóng của ông hắt lên nhàn nhạt trên tường nhờ ánh sáng buổi sớm. Ông khoác lên người chiếc áo làm từ da nai sừng tấm, lấp ló nơi cổ áo khoác ngoài là áo phông đen bằng vải lanh. Quần dài ôm sát làm bằng sợi hỗn hợp giữa vải lanh, tơ gai và da thú mỏng. Giày da được đo ni vừa vặn. Nơi ngực áo là huy hiệu của Huyết Tâm Vệ Binh, một cái khiên, ở giữa là trái tim đỏ với hai thanh kiếm đan chéo, biểu tượng của những người bảo vệ biên giới.

Đó là đồng phục của Huyết Tâm Vệ Binh.

Ở khu vực biên giới với Noxra, các Huyết Tâm Vệ Binh luôn phải chuẩn bị sẵn sàng cho những cuộc chiến, nên trang phục rất khác so với nhóm đội Chiến Binh Thập Tự.

Tiêu chí rất rõ ràng: thoải mái, dễ mặc, dễ chiến đấu ngay lập tức khi có chuyện xảy ra.

Có hai loại đồng phục cho mùa hè hoặc mùa đông. Đồng phục cha đang mặc là dành cho mùa hè và giữa thu. Vì trời chỉ mới vào tháng Chín se lạnh nên ông chưa chuyển sang đồng phục mùa đông: áo và quần đều làm bằng da gấu nâu vuốt sắc để giữ ấm, riêng quần tăng thêm độ đàn hồi bằng tơ tằm.

Tại các làng, thị trấn hoặc thành phố trong nước thì Chiến Binh Thập Tự thường mặc vest đuôi chim yến kèm sơ mi tựa một quý ông Thánh Quốc và Liên Minh Bắc Trenton, loại đã được chỉnh sửa một chút như chất liệu tơ may làm từ tơ tằm xám có đàn hồi cao để có thể chiến đấu, nhưng vẫn không thoải mái cho việc vận động như đồng phục của Huyết Tâm Vệ Binh nơi biên giới. Đó là những gì Rawon nghe được từ cha.

Tơ tằm xám là loại vật liệu cao cấp cho giới quý tộc và các phú ông giàu có, còn bình thường thì các quý ông dùng loại vest bằng vải lanh hoặc gai.

“Chỉ là chút chuyện vui sáng sớm.” Mẹ lau nước mắt vì cười quá nhiều. “Anh chuẩn bị xong hết chưa?”

“Ừm, anh đi đấy nhé.” Cha cười tít mắt.

“Cẩn thận đó.”

“Biết rồi mà, phu nhân!” Cha dùng giọng điệu của các quý tộc.

Cả hai cười với nhau, cảm giác như vừa trở về thuở đôi mươi. Họ chẳng để ý Mina và Rawon cũng đang có mặt tại đó. Mina tế nhị bước đi chỗ khác, tiếp tục việc nhà bằng cách phủi bụi nơi nhà bếp ở góc phòng.

“Cha ơi, cho con đi chung với!” Rawon cắt ngang màn mùi mẫn tình tứ một cách sốt ruột, đi cà nhắc tới.

Cha cúi xuống và xoa đầu nó. “Chúng ta nói chuyện này với nhau nhiều lần rồi.”

Cha và mẹ đã kết hôn tại làng Ciura, dưới sự chứng kiến của linh mục Bentham và nhiều người khác. Rawon ước gì được ở đó để chứng kiến tận mắt.

Thời điểm tại giáo đường đầy hoa mẫu đơn và đứng dưới cạnh cây thông trắng non để thề non hẹn ước – loài hoa và cây tượng trưng cho tình yêu trong văn hóa Thánh Quốc – của cha mẹ Rawon mới đây đã tám năm, và cũng gần tròn bảy năm kể từ khi Rawon được ra đời, còn khoảng một tháng nữa nó sẽ lên bảy. Thằng bé khá nhỏ con từ lúc sinh ra (một ca sinh sớm), và giờ vẫn vậy nếu so với lũ trẻ cùng tuổi.

Rawon từng hỏi mẹ khung cảnh lúc đó như thế nào thì mẹ nó nói: “Mẹ tưởng mình đang được chôn trong biển hoa mẫu đơn cùng tình yêu của cha con. Cả giáo đường lúc đó hít thở bằng sức sống của tự nhiên, Rawon à. Và cây thông trắng nhỏ xinh trong chậu được linh mục Bentham cầm trong tay, đó quả thật là một loài cây xinh đẹp.”

Cây thông trắng thuở lễ đường kết hôn đã được mẹ trồng ở sau vườn suốt một thời gian dài, nhưng rồi một cơn bão đã khiến nó bật gốc vào năm Rawon lên bốn. Cả mẹ và cha đều buồn bã, cho tới khi một cây non khác mọc lên một cách thần kỳ sau một năm tại nơi cây thông trắng tượng trưng cho tình yêu của họ bị ngã bởi cơn bão, họ luôn chăm bẵm nó như thể nó là đứa con thứ hai. Cũng theo phong tục Elthyria, thân cây khắc chữ đầu của tên vợ chồng và con cái họ sinh ra. Hiện tại nó đã cao hơn Rawon kha khá.

“Không được!”Mẹ cương quyết nói. “Con vẫn chưa đủ tuổi, còn chẳng có khả năng tự vệ. Con đi cùng cha sẽ rất nguy hiểm.”

“Con đủ rồi mà! Con chỉ xem thôi. Dù gì con cũng gần bảy tuổi rồi mà” Rawon nũng nịu. “Mẹ ơi, cho con đi đi mà mẹ!”

“Con phải biết rằng việc này rất nguy hiểm.” Cha giải thích nhẹ nhàng trước khi mẹ nổi đóa. Cha biết mẹ là người cần ai đó mớm lời trong những trường hợp thế này, nếu không thì bà sẽ dễ nổi giận. Nó luôn ước có được khả năng làm xiêu lòng mẹ như cha. “Có những con quái vật có sức mạnh mà thậm chí dù có người chắn trước mặt thì con vẫn có thể gặp nguy hiểm.”

“Nghe cha con nói rồi chứ?” Mẹ tiếp lời bằng giọng “chấm dứt chủ đề”.

Rawon phụng phịu, ánh mắt buồn bã. Nó muốn đi, thực sự muốn đi. Rawon đã thấy những con quái vật đó trong các bức tranh nhưng chưa từng thấy ngoài đời, và nó muốn thấy tận mắt.

Chợt cha bế nó lên, mỉm cười véo má nó. “Được rồi, mẹ con nói đúng đấy, Rawon. Không đi được đâu. Nếu mang con theo mà lỡ con gặp chuyện gì thì cha ăn nói sao với mẹ và gia tộc Fostoria của con đây?” Ông bồi thêm một câu hỏi khiến Rawon thấy đúng thật mình đã sai. Nhưng trong lòng nó vẫn có gì đó khó chịu và cứng đầu.

Đó là tính cách mà nó đã thừa hưởng từ mẹ, hiển nhiên cha nó biết việc đó, vì dù gì nó cũng là con trai của ông.

Rawon nhìn mặt cha mình, cả hai trông giống nhau như đúc: tóc đỏ nâu, sống mũi cao, đôi mắt to thu hút với mống mắt màu xám tựa như có một cơn bão bên trong. Nó có được vẻ mềm mại từ ngũ quan của mẹ, màu mống mắt và tóc từ cha. Người ta bảo rằng cha nó, Jonathan con trai của Johan, có dòng máu của người Valaro cổ xưa, những người mang dòng máu chiến binh với đôi mắt xám bão kiên định. Người Valaro gần như đã tuyệt diệt suốt một ngàn năm sau Cuộc Nội Chiến Valaro. Những người có đôi mắt xám bão thuần khiết như cha nó hay nó hiện tại không còn nhiều. “Chán ghê... Với lại con cũng là con của nhà Conklin, không chỉ là nhà Fostoria ạ!”

Cha nó cười tươi, cả mẹ cũng bật cười. Cha nói, “Nếu con cố gắng học hành và luyện tập, cha chắc chắn rồi sau này con cũng sẽ giống cha, bảo vệ người dân khỏi những thứ nguy hiểm.”

Vừa nói tới đó, chợt ánh mắt của cha có phần đăm chiêu. “Hoặc vầy đi, cứ tính trước một tháng là con đã bảy tuổi, trong khoảng sáu năm nữa từ giờ cho tới khi con mười ba, nếu khả năng của con có thể vừa ý cha, thì khi đó cha sẽ cho con đi theo để quan sát cách cha và mọi người chiến đấu. Nhưng,” Cha nhấn mạnh, nhìn con trai với vẻ nghiêm khắc. “Con tuyệt đối không được tham chiến và phải biết tự bảo vệ bản thân.”

Ông gõ gõ vào trước trán.

Với những kiến thức cơ bản về thần bí học mà cha Rawon đã dạy cho nó, nó hiểu ý cha muốn nói là: Con phải có khả năng tự bảo vệ được tâm thức của bản thân, rèn luyện tinh thần, tránh để những ảnh hưởng xấu của Noxra, cũng như lũ quỷ với khả năng tác động mạnh tới tâm trí.

“Dạ.” Rawon gật đầu, ánh mắt quyết tâm. Nó đưa đôi tay ra và cả hai ôm nhau một cái.

“Ngoan lắm.” Cha xoa mái tóc đỏ của nó. “Và nhớ là phải học cho giỏi.”

Ông ngẫm nghĩ gì đó, rồi nói: “Cha vẫn muốn con thi vào Đại Học Ainsworth và có một công việc bình thường hơn là làm những việc nguy hiểm. Hoặc nếu con muốn thì cha và mẹ có thể lo cho con tới Thánh Đô để học tại Học Viện Ánh Sáng. Việc đó trong tầm khả năng của cha, và dư khả năng từ mẹ.” Cha nháy mắt với mẹ, ẩn ý: Dù gì thì Fostoria cũng là một gia tộc Nam Tước, và người đứng đầu, Nam Tước Randall Fostoria cũng rất quý chắt trai của ông ấy. Mẹ mỉm cười. Rồi cha nói tiếp, “Cha nghe phó tế Robinson bảo rằng con học toán rất giỏi, có thể làm công việc tính toán sổ sách hoặc cơ khí đấy.”

“Chúng ta đã nói về chuyện này nhiều lần rồi cha ơi, và con nhắc lại, con không muốn!” Rawon nói bằng giọng kiên quyết. Nó ghét việc cha cứ muốn định hướng nó đi theo con đường khác. Rawon biết công việc của chấp sự Hội Thập Tự rất nguy hiểm, nhưng công việc nào mà chẳng có sự nguy hiểm của chính công việc đó? Dù nó còn nhỏ nhưng nó đã hiểu. Nó từng thấy ông Barta thợ gỗ vô tình đóng búa vào tay thay vì đóng đinh, hay thằng Jimmy Timson người chăn cừu bị cừu đá. Nó hiểu công việc gì cũng có rủi ro cả.

Cha nhún vai, hôn má nó một cái. “Thôi thì, cứ cân nhắc từ giờ cho tới mười lăm tuổi nhé, khi đó con đủ lớn để biết bản thân chọn gì.”

“Không đâu,” Rawon bĩu môi bướng bỉnh. “Con muốn giống cha, làm một thành viên của Huyết Tâm Vệ Binh, những người bảo vệ làng Ciura... không, bảo vệ cả quận Hibben này... à không không, con muốn bảo vệ cả quốc gia này!”

Mẹ bước tới bế Rawon từ tay cha, nói bằng giọng kết thúc vấn đề một lần nữa. “Vậy phải ăn uống đầy đủ để có thể cao lớn mà bảo vệ Elthyria.”

“Dạ!” Rawon cười tít mắt. Nó đưa ngón trỏ và ngón giữa bàn tay phải lên, kéo từ đoạn cổ xuống vùng giữa ngực và bụng. Tại điểm một phần ba từ trên xuống của đường kẻ dọc, Rawon kéo ngang một đường tạo thành hình ảnh thanh kiếm. Rồi đặt cả bốn ngón tay duỗi thẳng lên ngực. Hành động này tượng trưng cho bốn thứ mà các tín đồ nhận được từ Nữ Thần Ánh Sáng Elthyria Valkor: ánh sáng, may mắn, sức khỏe và hòa bình. “Tạ ơn Nữ Thần Ánh Sáng đã đẩy lùi hắc ám, bảo vệ bình yên cho chúng ta!”

Mẹ và cha cũng vẽ thành hình thanh kiếm nơi ngực và đặt bốn ngón tay lên. “Tạ ơn Nữ Thần Ánh Sáng!”

Biểu tượng đó vừa là hình thập tự, vừa là hình thanh kiếm, biểu trưng cho thanh Thánh Kiếm Mallachita.

“Và giờ chúng ta sẽ duy trì di sản đó.” Cha nói, nhận bao kiếm từ Mina vừa mang tới, rồi ông đeo vào lưng.

Bao kiếm của cha làm bằng da nai sừng tấm, giống loài phổ biến ở Thánh Quốc. Khắc trên chắn kiếm là chữ rune Sắc Bén, Phòng Thủ và Thanh Tẩy, đủ sức chém cả những loại quái vật da dày.

Tay cầm của thanh kiếm nhô lên khỏi bao được quấn nịt màu đen. Rawon đặt tên cho nó là Gươm Trừ Quỷ. Dù chỉ là một thanh kiếm bình thường được khắc chữ rune, cha vẫn đồng ý dùng cái tên nó đặt.

Cha bước qua ngưỡng cửa với bao kiếm sau lưng buộc chặt bằng dây da nịt chéo vai. “Tạm biệt hai mẹ con nhé. Với lại có thể tối nay anh sẽ không về đấy, mấy hôm nay bận nhiều việc.” Ông nhắc lại lần nữa. Rawon nhận ra ông đang hơi mệt mỏi.

“Cha đi cẩn thận.”

“Anh đi cẩn thận.”

Cả Rawon và mẹ đều vẫy tay, mỉm cười. Cả Mina cũng vẫy tay với nụ cười tươi. Rawon thấy Mina không được tính là xinh đẹp, nhưng cũng ưa nhìn. Rawon biết từ tụi bạn rằng cô ấy được mấy chàng trai trong làng làm quen nhưng đều chẳng đi được tới đâu. Nó tự hỏi môi của phụ nữ trưởng thành có vị như thế nào. Nó từng nghịch ngợm hôn Mycah, con gái của Tom Bánh Mì, và nụ hôn của Mycah có vị ngọt.

Khi cha rời đi, mẹ đặt nó xuống. “Được rồi, thực ra mẹ muốn con phụ mẹ vài việc, nhưng với cái chân thế này thì...”

“Con sẽ đi đọc sách.” Rawon nhanh nhảu đáp.

“Rồi, rồi, con đi đi.” Mẹ gật đầu, thở dài bất lực nhưng môi vẫn cong thành nụ cười trong lúc thả nó xuống.

Nó đi nhanh và hơi niểng, về phía cầu thang.

0

Hãy là người bình luận đầu tiên nhé!

Bình luận

Chưa có bình luận
Preview Settings

Try It Real Time

Layout Type
    • LTR
    • RTL
    • Box
Sidebar Type
Sidebar Icon
Unlimited Color
Light layout
Dark Layout
Mix Layout