Gia tộc Greenburry từ lâu đã nức tiếng khắp vùng Cumberland. Suốt từ thời kênh Bridgewater được khánh thành, tổ tiên của gia đình Greenburry đã khăn gói dọn về vùng quê hẻo lánh này, xa rời London nhộn nhịp. Chẳng ai rõ vì sao họ lại bỏ lại chốn thị thành phù hoa ấy mà định cư ở chốn núi rừng hẻo lánh này, nhưng thực tình cũng chẳng mấy ai bận tâm, bởi dù họ là những tay quý tộc, song cũng là những tay quý tộc dễ mến. Để thấu hơn tiếng lành của nhà Greenburry, phải trở về thời cụ thân sinh của chủ gia tộc hiện tại còn sống. Ông ấy đã góp một phần công sức còn hơn cả đáng kể trong công cuộc phát triển thị trấn Derns, Cumberland, mở ra một trang sách mới cho thị trấn giữa thời sôi động của Cách mạng Công nghiệp.
Từ dạo ấy đến nay đã gần sáu mươi năm. Di sản của cụ thân sinh vẫn được Nam tước Charles Greenburry, năm nay đã ngoài sáu mươi, tận tâm thừa kế. Nhưng mà khổ thân ông Charles! Vợ mất sớm, để lại mình ông chật vật với ba đứa con đang tuổi trưởng thành. Thật ra, không ít người khuyên ông đi thêm bước nữa để đỡ gánh nhọc nhằn, song ông chỉ cười xởi lởi rồi phất tay cho qua chuyện, lâu dần cũng chẳng còn ai ngỏ lời mai mối cho ông nữa. Năm ấy, Cumberland trải qua một đợt sốt rét kéo dài suốt những tháng mùa xuân, và xui rủi thay, thị trấn Derns lại nằm trong những nơi tâm dịch đi qua. Người bệnh, người chết nhiều như sao trên trời, đến mức nhiều ngày sau khi dịch đã qua, người ta vẫn còn ám ảnh và giữ thói quen như thời chống dịch. Ông Charles Greenburry, tuy sống sót nhưng đau đớn thay, đã chẳng thể mạnh khỏe đi qua tai họa đó. Sức khỏe của ngài Nam tước cứ theo đó yếu dần bất chấp sự chăm sóc của bà quản gia và Lloyd, bác sĩ gia đình, để rồi đến khi thu về, ngài Nam tước đầy tình thương năm nào chỉ còn là thân thể gầy guộc khắc khoải trên giường bệnh.
Vào những ngày cuối cùng của kiếp người, ông Charles Greenburry đã được vây quanh bởi ba đứa con yêu quý.
Rạng sáng ngày 12 tháng 10 năm 1820, ba đứa con nhà Greenburry: con cả Jaime, con thứ Tom và Jane, cô con gái út, đã cùng tề tựu ở trang viên gia đình. Bản thân người dân trong thị trấn cũng không biết quá nhiều về con cháu của ngài Nam tước, bởi lẽ, trừ cô con gái Jane cưới một gia đình chuyên đóng tràng kỷ trong thị trấn, hai đứa con trai lớn đều đã dọn lên thành phố từ lâu. Người dân trong làng túm tụm nhau trong quán bar, xì xầm bàn tán:
- Kể cũng mấy năm rồi tôi mới thấy mặt hai cậu anh nhà Greenburry ấy đấy!
- Gớm khổ! Ngài Nam tước đúng là đoản hậu. Còng lưng nuôi con rồi chúng nó đi biệt tít mãi, con Jane mà không lấy thằng cu nhà Lockwood ấy, dám con bé đó cũng bỏ ông già mà đi luôn rồi.
- Thôi, thôi, tôi lạy mấy người! Quan quác cái mồm nhỡ đâu tên Tommy ấy nghe được thì rước vạ vào thân!
Cuộc bàn tán đang xôm trong quán chợt bị đập tan một cách phũ phàng ngay khi lão Henry chủ quán dứt lời cảnh báo. Than ôi! Khắp cái xứ Derns này còn ai lạ gì cái thói ma cô của cậu quý tử Tommy Greenburry ấy nữa. Chẳng cần nói đâu xa, thời còn ở Derns, nó đã khét tiếng với cái trò trấn lột bạn học rồi đấy thôi! Thằng quỷ nhỏ ấy cũng đâu tha cho người lớn. Nó từng lẻn vào nhà người ta ngắt mấy nụ hồng quý, vật chó mèo đến thoi thóp, thỉnh thoảng lại ném đá vỡ cửa kính nhà hàng xóm rồi giở giọng cười hô hố phàm phu. Thật lòng mà nói, nếu không vì nể mặt Nam tước Greenburry - người không ít lần muối mặt xin lỗi người dân vì mấy trò tai vạ của thằng ôn con, hẳn lắm người đã chung tay ném nó vào trường cải tạo địa phương… chắc từ thời vua George III còn tại thế rồi.
Cơ mà, cũng đâu cần dân đen tọc mạch, ba anh em nhà Greenburry cũng biết thừa xứ Derns này chẳng luyến lưu gì họ cho cam. Jaime Greenburry về đến trang viên Nam tước khi ánh dương vẫn còn mong manh nơi nền trời. Y khoác chiếc áo choàng bằng len dày cộp, đến độ nó khiến y trông vạm vỡ hơn hẳn thường ngày. Jaime vừa đến thì được cô hầu Bessie nghênh đón, cô cẩn thận đỡ vali cho Jaime, khẽ khàng cất tiếng bằng chất giọng địa phương đặc trưng:
- Thưa cậu Jaime, ông chủ vẫn đang ngủ nên phiền cậu nghỉ ngơi ở phòng riêng một lát nhé.
- Cha tôi sao rồi, Bess?
- Thưa, bác Lloyd bảo rằng ông chủ chỉ còn sống được dăm ba hôm nữa là may mắn rồi ạ. - Bessie thều thào nức nở.
- Hai đứa kia thế nào? - Jaime hỏi tiếp, đoạn châm xì gà lên hút. - Đã về chưa?
- Cậu Tom thì tôi không rõ, còn cô Jane thì đã nhắn tôi sẽ về sau bữa sáng của gia đình cậu Lockwood.
Cái tên Lockwood phát ra như một thứ sâu bệnh len vào tai gã. Jaime đảo mắt ngán ngẩm, gã vốn đâu ưa gì cái phường xưởng gỗ ấy! Jane Greenburry - em gái gã - đường đường là đài cát tiểu thư của gia tộc nứt tiếng vùng Cumberland, thế mà giờ lại mang danh “con dâu” mà làm con ở cho gia đình dân đen. Loại ấy chỉ có quân đỉa đói! À không, ắt hẳn phải là quân đỉa đói, chỉ có đỉa đói mới nhắm vào con gái nhà Greenburry để còn ít nhiều hưởng lạc. Jaime cũng chẳng hiểu nổi cô em gái mình. Lạy Chúa! Cớ làm sao mà lại dễ dàng trao trọn cuộc đời cho một tên thợ đẽo chỉ sau hơn một năm hò hẹn chứ? Gã càng nghĩ càng khó chịu, hồ như có một sợi liễu gai chậm rãi trườn bò lên tâm trí gã đến rỉ máu, rồi cuồn cuộn xung quanh không khác chăng một lũ hổ già. Thôi đành, dù gì Chúa đã giao phó nó cho mình dưới danh nghĩa em gái, coi nó là người nhà âu cũng là cách để bày tỏ lòng tôn kính với Ngài. Jaime nghĩ thế rồi lại thở dài, khẽ dập tẩu thuốc đang hút dở trên tay, rồi lững thững theo gót Bessie hướng về nhà chính của trang viên Greenburry.
Nhà Greenburry bấy nhiêu năm vẫn vậy. Phòng khách được trang hoàng lộng lẫy với bộ bàn ghế bằng chất gỗ đào tâm xuân bóng loáng, với ghế ngồi được lót đệm hồng nhung êm ái. Bessie vội cởi áo khoác giúp gã, rồi tức tốc thu dọn hành lý về phóng cho Jaime, để gã lại một mình giữa bốn bề tĩnh lặng. Jaime ngồi sập xuống ghế, y phóng tầm mắt ra khung cảnh vẫn chưa khỏi mờ sương bên kia cửa sổ. Jaime đoạn lôi từ trong tủ hộc bàn ra một chiếc gạt tàn bằng ngà, món quà mà gã đã tặng cha nhưng ông chưa một lần động đến, rồi châm thuốc nhâm nhi, song lại chẳng còn tâm sức để ý đầu lưỡi mình đang tiếp xúc với hương vị gì. Số là cách đây vài năm, Jaime đã gom được chút vốn đáng kể rồi về London lập nghiệp xưởng may, lấy tên Jaime Tailor - một cách để gã độc lập phần nào khỏi cái danh của dòng họ Greenburry. Nhưng, ma xui quỷ khiến làm sao! Đám công nhân người Ireland dám bán đứng gã, cả gan đem nguyên liệu và sổ sách của xưởng Jaime Tailor bán cho đối thủ. Nhờ ơn đám người phản bội đó mà giờ Jaime phải mang một món nợ gấp mấy lần số tiền gã thu được trong một năm. Sao lại khổ cái thân gã đến thế?
Jaime ngồi đó một lúc thì tiếng cửa chính lần nữa bật mở khiến gã phân tâm, mặc cho tàn thuốc đã khẽ rơi xuống ngón tay gã, đến khi gã nhận ra thì chỉ kịp tru lên một tiếng thảng thốt. Hình ảnh đó khiến người mới về tròn xoe mắt cười khúc khích bên bệ cửa. Jaime cáu gắt ngẩng mặt lên, định bụng sẽ chửi cả mả tổ đứa nào dám cười gã. Ôi chao! Nhục nhã biết nhường nào! Tâm trí Jaime càng thêm điên tiết khi nhận ra người đang cười kia là Jane, cô em gái “rượu” mà gã đã từng lao tâm khổ tứ vì cả gan lấy cái tên ranh con nhà Lockwood. Cô nhỏ hơn gã tận sáu tuổi, song cũng là người đầu tiên trong ba anh em lập gia đình, nhưng cái gia thế nhà trai khiến gã chẳng mấy tự hào.
Jane nhìn anh trai rồi khẽ lắc đầu, cô luồn tay xuống hông, cẩn thận chỉnh trang lại tà váy màu xanh lam, một kiểu váy mà theo con mắt dân may của Jaime, là một thứ thời trang cổ lỗ sĩ. Jane ung dung bước vào phòng, cô giở giọng châm chọc:
- Ô! Ông chủ của hãng Jaime Tailor chịu về rồi à.
Jaime phóng cái nhìn chán ghét về phía em gái mình, thầm hỏi vì sao phụ nữ lại có điểm chung là cứ thích kháy đểu người khác nhỉ? Mụ vợ lăng loàng của gã cũng đã từng lèm bèm mãi về cái tài kinh doanh chỉ hơn mỗi Don Quixote của gã, trước khi ả tằng tịu với tên đối tác đáng tin cậy của gã. Lạy Chúa! Thế gian này muốn Jaime phải sống sao cho vừa lòng đây? Bộ dạng đó của Jaime khiến Jane thích thú, ánh mắt cô chuyển hướng từ tên anh trai xuống bàn tay đang cầm điếu xì gà đang cháy dở, cô thở dài:
- Anh biết cha ghét mùi xì gà mà?
- Khổ quá, tao hút ở đây chứ có hút trước mặt ổng đâu mà mày cứ lè nhè thế? - Jaime gắt giọng, đáp.
Jane nhăn mặt trước câu trả lời ương ngạnh của Jaime, chưa kể mùi thuốc thoang thoảng khiến cô thấy lồng ngực mình muốn nổ tung. Cô quay mặt đi, nói tiếp:
- Nhưng cái mùi đáng ghê tởm đó cũng ám được lên nội thất đấy, hỡi anh trai yêu dấu của tôi ơi! Tưởng tượng mà xem, nội thất của cha là hàng đắt tiền, nhỡ đâu bị cái mùi thuốc đáng kinh tởm của anh vây lấy, thì khác chăng lấy gỗ sồi đóng tách, đóng chén?
Những lời ấy như một nhát dao cứa sâu thêm vào lòng tự trọng đã sứt mẻ của Jaime. Mẹ kiếp! Sao cô ta không hiểu cho anh trai mình một chút chứ? Jaime rên rỉ cáu bẳn, dập vội điếu xì gà lên gạt tàn yên vị trên chiếc bàn con bên cạnh, không quên cằn nhằn:
- Vừa lòng chưa?
- Rồi, thế mới phải chứ.
Bầu không khí giữa hai anh em cứ căng như dây đàn suốt buổi sáng, kể cả khi trong bữa trưa, thời gian hiếm hoi mà ông Charles Greenburry có thể ra khỏi phòng với sự giúp đỡ của cô hầu Bessie. Ngồi cạnh nhau bên chiếc bàn ăn được lót khăn hoa đầy màu sắc, ba cha con nhà Greenburry râm ran cầu nguyện với đôi tay đan chặt.
- Lạy Chúa là Cha yêu thương, con cảm tạ Ngài vì đã ban cho gia đình con thức ăn hôm nay. Xin Ngài ban phước cho đôi tay đã chuẩn bị bữa ăn này, và xin giúp chúng con luôn gắn bó trong tình yêu của Ngài. Con cầu nguyện trong danh Chúa Jesus. Amen.
Lời nguyện cầu vang mãi trong bốn bề phòng ăn ấm cúng, len lỏi vào từng mùi hương tỏa ra từ những chén, đĩa được sắp xếp ngay ngắn trên bàn. Ngồi chính giữa đầu bàn bên kia, ông Charles Greenburry trong vóc dáng tiều tụy do căn bệnh đọa đày, run rẩy dưới tấm áo khoác nhung ôm gọn lấy hình hài. Bác sĩ Lloyd dạo hơn một tuần nay đã không còn kê thêm thuốc đặc trị cho ông nữa, chỉ thỉnh thoảng lại ghé thăm và gửi thuốc cho Bessie. Mà lại chỉ toàn thuốc ngủ, thuốc giảm đau, cùng một số viên giúp giảm cảm giác biếng ăn. Âu cũng xuất phát từ mong muốn ông cụ được ra đi nhẹ nhàng, chưa kể mớ thuốc đặc trị trước đây vừa đắt vừa mang lại tác dụng phụ không mong muốn. Nếu nhìn theo góc độ đó, ông Lloyd quả thực là người y đức.
Ở hai bên bàn ăn, Jaime và Jane lại trầm ngâm chẳng nói một lời nào sau khi cầu nguyện. Jaime lặng lẽ dùng nĩa chọc vào phần thịt gà đang tỏa khói nghi ngút, miệng lưỡi vẫn còn vương mùi xì gà chẳng buồn nếm thử. Còn Jane, đôi mắt bồ câu của cô chỉ âm thầm dõi theo dáng điệu yếu ớt của cha, khi mỗi nĩa thức ăn là một lần tưởng như ông đang lấy hết sức bình sinh. Bessie đứng bên cạnh cũng trao cho ông cái nhìn đầy thương xót. Cô đã tinh ý cắt thịt ra thành từng mẩu nhỏ như vụn bánh mì cho ông dễ ăn, nhưng có vẻ việc nuốt thông thường thôi đã gây đau đớn cho ông biết nhường nào. Bẵng một lúc, Charles Greenburry mới ngước nhìn các con với ánh mắt ấm áp thân thuộc, dẫu cho trong đó đã hằn lên vài ba vết khắc khoải. Ông hỏi:
- Jaime, chuyện kinh doanh của con vẫn ổn chứ?
Câu hỏi của cha khiến Jaime thoáng ngớ người. Y ngập ngừng nhìn ông, tự nhủ rằng ông sẽ đau buồn đến vô hạn nếu biết trưởng nam nhà Greenburry mà ông kỳ vọng đã thất bại ê chề. Jaime gượng cười hì, cố gắng đáp lời theo lối tự nhiên nhất có thể, trong khi hậu vị của xì gà vẫn còn gay gắt:
- Vẫn ổn, thưa cha. Tiệm con sắp tới sẽ giao thương với cánh lái buôn từ Đan Mạch, có khi sẽ có vốn mở Jaime Tailor thứ hai không chừng.
Nghe những lời của Jaime, đôi mắt mệt nhoài của ông sáng lên tia hãnh diện. Charles mỉm cười, gật đầu hài lòng về đứa con trai. Suốt từ khi đổ bệnh, ấy cũng là lần đầu tiên Bessie được thấy ông mỉm cười. Nhưng, than ôi, cô biết thừa những lời Jaime nói đều là những chuyện bịa đặt. Mới hơn hai tháng trước thôi, Bessie và chị hầu Cassie đi chợ mua hoa để làm lễ giỗ cho bà Greenburry, để ông chủ ở nhà dưới sự chăm sóc của bà quản gia Bethany, một người phụ nữ phúc hậu có chất giọng vùng Essex.
Khi đi qua một hàng thịt, đôi tai sắc bén của Bessie đã lập tức phản ứng khi một thông tin nóng hổi được đưa đến cô. Cách chỗ họ đứng không quá hai bước chân, Bessie thoáng nghe được tiếng một lão già khục khặc nói:
- Ôi, quả là đời lắm thứ bất ngờ! Trên London vừa mới có vụ đình công đấy! Nghe bảo do tên đốc công dẫn đầu luôn cơ.
- Trên đấy một ngày khối chuyện phù phiếm diễn ra. Có chi đâu mà ông thảng thốt thế? - Bằng hữu của lão phì cười, đáp.
- Ấy ấy, phải thế tôi mới kể chứ, bạn già của tôi ơi! - Lão nhanh nhảu tiếp lời, - Thằng cháu ruột của tôi làm nhà báo ở đó kể tôi nghe kia mà! Cái xưởng diễn ra vụ đình công ấy là của cậu Jaime nhà Greenburry kia chứ ai đâu xa lạ.
Cái tên của cậu cả nhà Greenburry khiến cả Bessie và Cassie lặng người. Họ nhìn nhau ngơ ngác như đám trẻ lần đầu thấy đại dương, vừa tò mò chuyện gì đã xảy ra ở London, vừa thấp thỏm nghĩ về nỗi đau mà ông chủ Greenburry sẽ mang. Cảm giác ấy càng thêm rõ nét khi Bessie thấy nụ cười trên gương mặt đã kéo căng vì mệt mỏi của ông, nên đã đành để mọi chuyện êm đềm như chưa từng có gì xảy ra. Chợt, ông Greenburry nhấp một ngụm sữa tươi, rồi hắng giọng nói:
- Sẵn có hai con ở đây, cha sẽ nói chuyện này, rồi sẽ nói lại với Thomas sau. Cha định bụng sau khi cha mất, một phần gia sản sẽ chia cho ba con, còn bao nhiêu sẽ quyên vào công quỹ của thị trấn.
Tin tức này khiến Jaime trợn trừng mắt, gã buông thìa, gắt gỏng đáp:
- Lạy Chúa trên cao! Sao cha có thể làm thế? Đám dân đen ở Derns có là gì với cha đâu, sao cha phải bận tâm?
- Đúng là họ đều là người dưng. - Ông Greenburry đáp. - Nhưng, nếu không có họ, làm sao nhà Greenburry ta có được cơ ngơi như ngày hôm nay? Thêm nữa, con nói ai dân đen, trong khi gia đình chồng em gái con cũng xuất thân từ lớp bình dân đấy?
- Thằng con hoang nhà Lockwood ấy chưa bao giờ là em rể của tôi!
Jaime điên tiết gầm lên rồi vùng vằng bỏ ra ngoài, mặc cho ông Charles Greenburry và Jane đang thẫn thờ dõi theo bóng lưng gã khuất dạng bên kia khung cửa gỗ. Ông Greenburry thở dài ngán ngẩm, khẽ ra hiệu cho Bessie dọn phần ăn của ông và Jaime vào trong, rồi quay sang Jane vẫn đang lặng lẽ trên ghế ngồi, dịu giọng nói:
- Cha xin lỗi vì thái độ của Jaime nhé, cha không nghĩ nó sẽ phản ứng đến mức đấy.
- Không sao ạ, - Jane đáp, - Con cũng không lạ gì ác cảm của anh ta với chồng con. Nhưng mà, con nghĩ cha nên suy nghĩ lại. Con gái chúng con bây giờ còn nhỏ, nhưng sau này chắc chắn số tiền cần đến sẽ không ít. Thưa cha, xin cha chớ nghĩ rằng chúng con ỷ lại vào gia sản của cha, chỉ là nếu như có nhiều hơn một ít, chúng con sẽ có thể ít nhọc nhằn hơn. Nhất là khi, chúng con định đưa con gái chúng con về London sinh sống.
- Sao lại thế? - Ông Greenburry tò mò hỏi.
- Con muốn con bé có cuộc sống đầy đủ hơn, và con cũng muốn trở về quê hương của gia đình ta, một thành phố mà chính con còn chưa một lần đặt chân đến.
Ông Greenburry gật gù thấu hiểu. Ông nhấp một ngụm trà ấm giọng, rồi yếu ớt nói tiếp:
- Cha hiểu, nhưng các con cũng chớ lo. Cha vẫn sẽ đảm bảo số tiền để lại đủ để các con trang trải, chỉ là cha muốn để lại cái gì đó cho thị trấn đã nuôi dưỡng cả nhà ta.
- Nếu thật vậy, thật lòng con cũng chẳng mong gì hơn. Con xin phép.
Jane dứt lời bằng một cái cúi đầu đầy tôn kính, rồi lẳng lặng quay gót rời đi. Cứ thế, bữa trưa nhà Greenburry kết thúc trong tiếng thở dài của ông Charles.
Đến đầu giờ chiều, Tom Greenburry trở về. Như bao người vẫn từ lâu quen mặt, thằng Thomas ấy dáng vẻ vẫn lấc cấc như thời đôi mươi, nhưng sâu thẳm trong đôi mắt nó, còn là một màu tro khó ai hiểu được. Nó về trên chiếc xe ngựa đánh thuê từ Lancaster, được cầm cương bởi một gã phu xe có chất giọng đặc trưng của vùng này. Thomas tiến vào trang viên với dáng điệu chợ búa, mặt hầm hầm như vừa bị ai chơi xỏ. Nó vừa đi vừa cằn nhằn gì đó, cho đến khi thấy anh cả đang ngồi bên góc sân hút thuốc. Sẵn đà, Tom cất giọng trêu:
- Lạy Chúa, anh ruột của tôi này! Sao rồi James, tưởng anh ở London làm Werther rồi chứ!
- Anh đang không có tâm trạng nhiều lời với chú! - Jaime gắt gỏng đáp, - Ông già đang làm anh điên đầu đây!
Nghe nhắc đến “ông già”, đôi mắt xám ngắt của Tom hắt lên tia hiếu kỳ. Vốn dĩ, từ khi còn ở nhà, Tom chưa một lần nghi ngờ tấm lòng mà Jaime dành cho cha, đến mức muốn khởi nghiệp để làm ông tự hào. Ít nhất là Jaime ba hoa với nó như thế. Tom cười nhếch mép, ngồi sập xuống bên cạnh Jaime. Đoạn, y lôi từ trong túi ra bao thuốc lá rẻ tiền châm lên hút, nửa đùa nửa thật hỏi, giả đò như thể mình quan tâm:
- Thế anh với cha lại xung đột gì chăng?
- Ông ta định để lại cho ba chúng ta một ít gia sản, số còn lại sẽ sung vào công quỹ của cái chốn rách nát này.
- Lạy Chúa! - Tom tròn mắt tru lên, bất giác đứng phắt dậy ném điếu thuốc xuống nền, - Chính chúng ta đây mới là người được hưởng phần nhiều hơn mới phải! Chúng ta là con ruột ông ta kia mà!
- Tao cũng chẳng hiểu. - Jaime điềm nhiên trả lời, đoạn, trao cho Tom một cái nhìn chẳng lấy gì là coi trọng. - Nhưng mà, tao có kế hoạch này.
- Kế hoạch gì? - Tom nghe thế vội quỳ xuống bên anh hai như một đứa trẻ, trưng ra bộ mặt phấn khích không giấu giếm.
Bữa tối hôm đó vui vẻ hơn bữa trưa. Jane cùng hai cô hầu Bess và Cass lo chuyện bếp núc, trong khi ba cha con quây quần bên nhau trên phòng khách bàn chuyện xưa. Cả Bess và Cass nào dám cả gan để cô chủ vào bếp nội trợ, nhưng Jane cứ quả quyết phải nấu một món thật ra trò cho cha, nên cả hai cũng đành lòng lén ông chủ cho cô vào bếp. Trong ký ức của hai cô hầu, Jane là một cô bé nhanh nhảu, nói nhiều và mang máu hiếu kỳ như thể là bản năng. Giờ đây, chứng kiến cô chủ năm nào thạo việc bếp còn hơn chính mình, cả hai chỉ đành bật cười khúc khích. Người ta vẫn có câu con gái lấy chồng là thay tính đổi nết, hóa ra lại có thật! Mà chẳng ở đâu xa, ngay cô chủ nhà ta đấy thôi! Bessie đến bên Jane, lặng lẽ dõi theo cách cô tỉ mỉ làm cá, với đôi tay mềm mại tựa lụa đào lướt qua lớp thịt tươi mọng.
Trên phòng khách, ông Charles Greenburry ốm yếu ngồi tựa trên ghế bành, với Jaime và Tom ngồi bên cạnh kể những chuyện ngày xưa. Lắm chuyện trong số đó ông Charles chẳng còn nhớ rõ, chỉ đành gật gù đáp lại giọng nói, cử chỉ của hai con. Bữa tối trôi qua êm đềm như mọi cuộc tranh cãi chưa từng xảy ra; ông Charles nức nở khen cơm ngon, và càng nức nở hơn khi biết Jane là người nấu; Jaime lại tiếp tục ba hoa về doanh nghiệp Jaime Tailor của gã đang làm ăn phát đạt ra sao; còn Tom kể cho ông nghe về chuyến hải trình tưởng tượng của gã đến bờ Tây nước Pháp. Những chuyện ấy cả Jane và đám người hầu đều rõ là bịp bợm, nhưng khi nhìn thấy nụ cười trên môi ông Greenburry, chẳng ai nỡ lòng vạch trần những lời xảo trá ấy.
Khuya hôm đó, ông Charles Greenburry qua đời sau một hồi phát bệnh bất chợt. Ông mất khi cả trang viên đã ngủ say, chỉ có Jane nắm tay ông ngủ gật trên chiếc ghế con bên cạnh.
Tang lễ của Nam tước Charles Greenburry được tổ chức trọng thể ngay sáng hôm sau. Người viếng nhiều vô kể, ai nấy cũng trao cho ông một niềm tiếc thương vô hạn, không quên dành lời chia buồn hình thức cho hai đứa con trai. Gia đình Lockwood cũng đến, Gregory lặng lẽ dìu vợ qua đám đông, giúp cô ngồi xuống chiếc ghế bành trước sân, trước khi trở vào nhà giúp nhóm phu đòn khuân linh cữu ông Greenburry lên xe. Đám tang cứ thế trôi qua trong một ngày ủ dột của Derns, u buồn và nặng nề đến mức trời cũng không cầm lòng được mà đổ mưa. Vị linh mục già chủ trì tang lễ hôm ấy dù đã kìm nén, nhưng theo những người đưa tang, giọng ông như đang nghẹn lại, tựa một phiến lá mong manh đang giữ mình trước cơn gió nghiệt ngã. Đến chiều thì tang sự cũng xong, ai về nhà nấy. Ba đứa con nhà Greenburry lặng lẽ cúi đầu tiễn những người đưa tang, mãi đến khi người sau cùng khuất dạng mới vào nhà. Bấy giờ, Jaime mới nói:
- Tao đã kịp mua chuộc thằng luật sư của cha, bây giờ đống gia sản này của chúng ta!
Tuyên bố đó khiến Jaime và Tom reo lên như mở hội. Khung cảnh ấy sao trông thật quá bẽ bàng, đám người hầu cảm thán khi thấy nụ cười tựa quỷ Satan trên gương mặt hai tên con trai, song cũng thương xót nhìn cô Jane đang chết trân bên cạnh. Ánh hồng trong đôi mắt cô đêm qua đã đi đâu mất, chỉ còn lại một khoảng không mờ mịt trong đôi mắt đã cạn khô. Cô vẫn mặc y chiếc váy đen từ sáng, với mái tóc búi cao lỉa chỉa, nhìn từ xa nom như một con hình nhân bằng sứ. Cổ họng cô khô ran, chỉ còn phát ra vài tiếng nức nở chữ được chữ chăng. Phải một lúc sau, khi hai người anh đã yên vị trên ghế hút thuốc với bộ mặt đắc thắng, Jane mới thở dài mệt mỏi, buông một câu hỏi khẽ khàng:
- Thế bây giờ chúng ta chia thế nào?
Hãy là người bình luận đầu tiên nhé!



Bình luận
Chưa có bình luận