Hạ tuần tháng Giêng, Đan trở mình thức dậy mà nghĩ đang ở đâu đó trong tháng Mười - tê tái lạnh và màu xám ngập ngụa muôn nơi.

Dẫu hồng thuỷ đã bào mòn mọi loại khí hậu thành gió mưa từ hơn ba mươi năm trước, Đan vẫn đinh ninh rằng bầu trời tháng Giêng có nắng mỏng rọi xuống giếng trời, để thấy rõ đường viền của những viên gạch lát và những mảng tường. Nhưng Đan chỉ nghe từ cơn mưa dai dẳng đêm qua, nước vẫn còn nhỏ tí tách xuống các máng xối dọc theo bờ tường xư xá.

…Đan khoác thêm chiếc cardigan màu ô liu, bỏ chiếc ô xám vào túi trước khi đóng cửa nhà. Từ cư xá đến sở làm mất hơn một tiếng đồng hồ. Cô rời khỏi đó vào thánh Mười năm kia, lý do không đủ sức khoẻ để tiếp tục. Cô quay lại vào hạ tuần tháng Giêng năm nay, lý do tiền tiết kiệm đã cạn. Mà Đan lại muốn nuôi thứ gì đó hữu cơ. Một chậu tùng hương, một con se sẻ. Cô cần tiền.

-

Đan bước xuống ga tàu điện rồi đi bộ, nép mình dưới chiếc ô, len lỏi qua những cửa hàng thắp sáng bằng những ngọn đèn đèn leo lét, cố níu chân khách qua lại bằng những tiêu bản hoa cỏ chim muông đã cũ và những tấm bưu thiếp in hình sông núi thuở đất trời còn nhiều màu sắc. 

Những ki-ốt bán cà phê sáng với mùi thơm nhân tạo thơm nồng đến ngạt thở. Nhưng Đan không còn thói quen tự bao dung cho mình một cốc cà phê mỗi tuần, dù vẫn hy vọng về nó khi cô có tiền trở lại, đủ để nuôi một chậu tùng hương, hay một con sẻ sẻ, rồi cà phê.

Đan không biết làm gì khác ngoài nghề viết. Cô cảm thấy mình nhỏ nhoi và vô dụng, bởi không thể soay sở được sinh kế khác. Cô đi mà không biết dưới chân mình là một con đường hay một dòng nước không dò được nông sâu.

Nơi Đan từng làm, và đang bước vào trở lại, giúp khách hàng viết nên mọi thứ họ muốn. Thư từ, công văn, báo cáo, đơn xin ly hôn, khế ước… bất cứ gì cần đến văn phạm trang trọng gần như tuyệt chủng. Công ty có một giám đốc tuổi chưa đến ba mươi và một nhóm làm việc nhỏ như một nguyên tử, được bao lại bởi những bức tường của một tòa nhà sáu mươi tầng. Giờ đây, sáu mươi tầng cũng không cao lắm. Có những toà nhà xuyên qua mây, mà ở trên đó có thể là một thành phố hoàn toàn khác so với mặt đất và những tầng hầm bên dưới. Cô vào thang máy lên tầng hai chín.

Từ tháng Tám năm trước, cô đã viết cho Doãn một lá thư mà cô cho rằng rất đỗi chỉn chu, rằng cô mong muốn anh xem xét cơ hội để cô làm việc lại. Đã không có một tín hiệu nào trong gần bốn tháng, như hòn cuội ném vào bùn.

Cho đến ba hôm trước đây, Doãn gửi lại.

Lá thư nhỏ để ở hòm thư của cư xá, đề ngắn gọn ngày giờ hẹn, và Doãn, bằng nét chữ tròn trịa, viết thêm bên dưới “Vừa có công việc cho cậu.”

Đan đứng trước chiếc bàn đặt gần kín hồ sơ, nhìn người thanh niên trước mặt. Anh dong dỏng cao, mái tóc rẽ ngôi gọn gàng và trông lúc nào cũng lịch sự và bình tĩnh. Nhìn là thấy được anh đã lớn lên trong sung túc và đã trở nên rất ưu tú.

Doãn rõ ràng nhận ra sự hiện diện của cô, nhưng vẫn lặng im. Phía sau cặp kính, đôi mắt anh còn chuyên chú nhìn xuống tập hồ sơ. Đan nhắm mắt, nghĩ về bốn tháng bặt tăm tin tức.

“Bây giờ ư?”

Lúc ấy Doãn mới ngước mắt lên nhìn cô. “Phải, bây giờ.”

“Có phải lá thư mình gửi cậu hồi tháng Tám tệ đến mức cậu nghĩ mình không còn đủ năng lực cho việc này phải không?”

Doãn mỉm cười, “Lúc ấy mình đã có đủ người. Sau khi cậu đi, mình thuê được một thợ viết rất khá và một thực tập sinh, bằng đúng chi phí của cậu”

“Phải rồi.”

“Nhưng bây giờ thì mình có một việc cho cậu.”

Lời anh nói làm Đan chợt nhớ, vào một ngày tháng Tư vài năm trước, Doãn đã đứng đợi cô ở cư xá từ lúc trời còn trưa đến khi vào đêm. Đan rời khỏi công việc bán thời gian về đến nơi đã thấy Doãn ở đấy. Khi ấy, Doãn còn trẻ đến mức cô đã nghĩ lời anh nói thật ngây ngô. 

“Mình mở công ty, có việc cho cậu.”

Doãn giờ đây nói mạch lạc hơn xưa. Anh cũng không còn ngây ngô. Anh là chủ một doanh nghiệp nhỏ với nguồn lực hạn chế, đang đánh giá một ứng viên không thực sự nổi trội, đã bỏ đi, rồi lại nài nỉ xin về.

“Việc này từ cá nhân mình. Tất nhiên mình không thể cử nhân viên đi được. Mình không thể đánh đổi một cách đầy rủi ro như thế.”

“Mình luôn biết rằng mình không giỏi.”

“Cậu chưa bao giờ nhanh. Rất nhiều đơn hàng, các thợ khác làm xong trong một giờ, còn cậu lấy mất của công ty một ngày.”

“Công việc cậu muốn mình làm là gì?” Đan nghe giọng mình run lên.

Doãn tháo kính, xoa hai bàn tay lên hốc mắt như để kéo dãn các luồng suy nghĩ.

“Mình cần một người mà dù có qua bao lâu đi chăng nữa, dù kết quả trả về không hề nổi trội nhất, nhưng luôn là chân thành nhất.”

Có lẽ Đan thoáng thấy Doãn nhẹ cười.

“Mà chẳng phải đó chính là cậu đấy sao?”

Đan - giờ đây lại trở thành một thợ viết - trở về với tập hồ sơ dày trong túi. Doãn gửi cho cô bản sao đã mất rất nhiều trang của quyển Gương mặt chúng ta, trái tim tôi, ngắn gọn như ảnh chụp của John Berger, những ổ dữ liệu lưu một số hình chụp, và vài đoạn phim. Trong suốt một giờ kể các thông tin cần thiết cho Đan, sự bồn chồn Doãn không nằm trên bề mặt mà ẩn đâu đó trong một luồng suy tư từ bên trong, chỉ để lộ ra một ít tín hiệu khi anh hơi cúi mắt nhìn vào tập hồ sơ trước mặt.

Rồi anh nói năm mươi phần trăm thù lao sẽ trả dần mỗi mười ngày một lần, phần còn lại sẽ trả khi bàn giao kết quả. Không nhiều lắm, nhưng Đan nhẩm tính, khi xong việc, cô sẽ có thể chăm sóc cho một con se sẻ ít nhất một năm.

Khuây khoả, với Đan, nhỏ xíu như một con sẻ nhỏ chỉ sống một năm trong êm ấm.

-

Sáng hôm sau, Đan mang bút và sổ giấy trong túi, đi hết ba tuyến tàu điện và thêm một lần tàu lửa loại chở hàng hoá nhiều hơn người. Cô xuống ga và đi bộ theo toạ độ được cho. Hôm nay, Đan phải đến gặp Quái Thú kẻ bị giam giữ trong một hầm ngục khoan xuống lòng đất sâu, ở cách xa mọi nơi có dấu tích con người.

Đan biết mình đã đến nơi khi một cánh cửa xuất hiện giữa bãi đất trống.

Đan hít sâu, bấm mã số được cho, bước vào bên trong và xuống những bậc thang nửa chìm vào bóng tối, qua một hành lang ngầm dẫn đến một căn phòng kiên cố như thể dù trời đất có vỡ vụn, nơi này vẫn còn đó, lầm lũi tách rời khỏi mọi thứ khác trên đời.

Ở giữa phòng là một miệng giếng, với cửa là những lớp lưới thép tích điện. Đan ngồi một bên, cẩn thận không chạm vào lưới, cố gắng tìm tòi bên dưới hình thù của Quái Thú.

Ở thăm thẳm dưới đáy màn đêm, Quái Thú nghe thấy có tiếng chân người, bèn trồi lên từ giấc ngủ mê man.

Gã phơi mình ra trong bóng tối, hấp háy mắt rồi cố cử động những đầu ngón tay. Gã sờ cổ tay mình, mặt mình, cả thân thể, những gì xúc giác tiếp nhận được là sự trơ gầy tuyệt đối. Gã rướn người ngồi dậy, thấy da thịt mình đau đến gần như rữa nát. Quái Thú nhìn luồng sáng xanh lơ soi từ từ miệng giếng xuống, soi rọi một khoảng sàn đá. Giữa gã và miệng giếng xa đến nao núng cõi lòng.

“Tiếp tế à?” Gã thều thào hỏi vọng lên miệng giếng, giọng như có lớp mạng nhện phủ dày.

Đan ngập ngừng nói vọng xuống, lắng nghe âm vang của giọng mình xếp chồng lên nhau, cuốn xuống sâu hun hút, “… Không. Cháu là thợ viết.”

Quái Thú cười khùng khục, “Hết bác sĩ tâm thần, lũ thầy bùa giả danh rồi đến bây giờ là thợ viết à?”

“Cháu được trả công để viết lại lời ông kể.”

“Ta không có gì để cho cô viết. Ta đã ở quá lâu trong bóng tối, trí nhớ và tư duy đã hao mòn đến dị dạng rồi.”

“Cháu đã thất nghiệp quá lâu, sợ đói, nên phải cố làm thôi.” Đan mỉm cười.

“Ta không dư thức ăn. Tất cả những gì chúng vứt xuống nơi này đều bủn xỉn. Chúng không để ta chết, nhưng để sống thì lại càng không. Ở bên dưới này cằn cỗi như một sa mạc vĩnh cửu. Làm sao ta có thể cho cô thứ gì đó, một công việc hay một bữa ăn?”

Đan cảm thấy thái dương bắt đầu đau nhức. Cô đã nghĩ đến mọi khả năng mà Quái Thú gào thét, khóc rống hay gầm gừ điên loạn. Cô chỉ không sẵn sàng với việc Quái Thú từ chối cô bằng giọng nói dù thều thào nhưng vẫn nhã nhặn.

“Ông ở đây bao lâu rồi?” Công việc vẫn là công việc, Đan ngồi xuống bên miệng giếng và mở sổ ra định ghi chép.

Nhưng Quái Thú không đáp lại nữa. Có vẽ như gã đã cuộn mình vào bóng tối và ngủ vùi.

Đan ôm gối ngồi bên miệng giếng, mãi đến khi thấy bản thân trơ trọi. Cô gượng dậy, cất sổ vào túi, dụi dụi mắt, rồi đi.

-

“Cậu cần phải tìm thấy An Dao, ít nhất là bất cứ gì còn sót lại của An Dao trên mặt đất này.”

“Chỉ có Quái Thú còn cất giữ An Dao trong ký ức. Thứ ký ức gã chưa bao giờ chịu kể với một ai, mà đã sắp khô cạn rồi.”

-

Trong suốt ba tuần sau đó, cứ mỗi ngày lẻ trong tuần, Đan cố nuốt thất vọng vào lòng, lại ba chuyến tàu điện và một chặng tàu hoả dài, đến bên miệng bong-ke lầm lũi, đi qua hành lang và đến bên miệng giếng.

Cứ mỗi lần cô hỏi đến câu thứ hai, Quái Thú không nói nữa. Rồi vọng từ đáy giếng có tiếng sột soạn trở mình, rồi im. Đan hiểu Quái Thú đã ngủ. Thật lạ lùng, thứ ngủ mà cô đang chứng kiến. Không một chút thao thức, cứ nhắm mắt lại rồi để giấc ngủ bủa vây, mài mòn mọi giác quan, xoá nhoà mọi biên giới. Đan đã ngồi bên miệng giếng đủ lâu để biết rõ rằng Quái Thú ngủ như sống một phần đời riêng biệt, có nhịp sinh học bất biến. Gã chìm tận dưới sâu hun hút tối tăm, có khi bản thể của gã cũng tan vào giấc ngủ ấy.

Đan tuyệt vọng nghĩ, có lẽ nào những giấc ngủ dài làm rữa nát hết hồi ức cuối cùng về An Dao? 

An Dao đã từng sống, thở và bước đi trên mặt đất. Khi ấy, hồng thuỷ vẫn còn là một khái niệm xa xôi. Hình hài của cô lẽ ra vẫn còn được ghi nhớ một cách sống động, trong một phòng học đầy ánh sáng và in bóng những vòm lá rộng, trong một phòng nhạc nơi cô mở loa nghe những bản sonata khi đang đọc John Berger viết “nhà là nơi khởi đầu và kết thúc của mọi hành trình trên mặt đất này”, hay ở đoạn đường lên núi có thông tán xanh ngăn ngắt mà cô đi bộ trong những ngày ấm áp. Tất cả những gì Đan có về An Dao thật nhỏ bé, mà từng chút một đều lấp lánh rạng ngời.

Rồi An Dao biến mất. 

Khi những vật liệu di truyền bị lỗi nghiêm trọng, được cấy vào cô từ lúc phôi thai, chỉ còn một năm trước lúc vỡ nát.

Cùng tan biến với mọi dữ liệu của cô là người diều dưỡng chăm sóc An Dao và những đứa trẻ nuôi cấy. Không ai biết gã đưa An Dao đi đâu, mà không ai còn tâm trí nữa. Hồng thuỷ tưởng như xa xôi mà thực ra đã kéo đến rất gần. Đã có những tín hiệu u ám của bầu trời thường xuyên nổi bão giông và sông ngòi dần nhận chìm các bờ bãi.

Sau một năm kể từ khi họ dường như hoàn toàn biến mất khỏi mặt đất, người ta chỉ nhận về một lọ đựng vài sợi tóc của cô cùng một tập hồ sơ chi chít những giả thuyết điên rồ, như một lời van xin hãy làm gì đó để cứu An Dao khỏi đớn đau và tan vỡ, nhưng đã quá muộn rồi.

Đan lẽ ra phải mở được cánh cửa hồi ức của người bị giam cầm dưới lòng đất lạnh để tìm kiếm nơi An Dao nằm lại, hoặc nơi cuối cùng còn lưu lại bóng hình cô trên mặt đất này.

Để cô có thể nuôi một chậu tùng hương, một con se sẻ.

Để Doãn biết anh đến từ đâu trong đất trời hoang lạnh.

-

Trung tuần tháng Ba, mưa nặng hạt dần. Những cơn bão lớn bắt đầu gầm thét trên đỉnh những toà nhà sừng sững. Có lẽ xuyên qua mây mù là trời trong đổ nắng, có lẽ chỉ có Đan và những người mắc kẹt vào đất mới phải chịu đựng cái lạnh buốt giá này.

Quái Thú vẫn không hề hé răng. Hy vọng của Đan mỗi lúc một teo tóp. Cô nghĩ mình sắp bỏ cuộc đến nơi, bất lực như An Dao không thể làm gì khác để bản thân lành lặn.

Cô nghĩ đến Doãn. Lẽ nào anh cũng biết cô thất bại từ lúc còn chưa bắt đầu. Rõ ràng bao năm qua, không ai có thể bắt Quái Thú nói được một lời. Làm sao thợ viết tầm thường như cô có thể viết lại câu chuyện cất giữ dưới đáy của những tầng nước của cơn đại hồng thuỷ và màn đêm thẳm sâu?

…Đan đến toà nhà công ty, nép mình dưới tán ô xám, đợi Doãn từ trưa đến khi đêm buông xuống và những ánh đèn trải thành mê cung trên phố. Khi trông thấy bóng dáng anh với chiếc áo khoác màu nâu đỏ, cô đến trước anh, không dám nhìn thẳng vào anh, cố nặn ra một nụ cười:

“Mình bỏ cuộc.”

Doãn nhìn cô bạn đứng trước mặt anh. Trông cô giờ đây giống hệt buổi đêm mà anh đứng đợi dưới cư xá, với những bước chân trĩu nặng, với bóng dáng vùi chôn vào màn đêm. Đôi mắt cô, dù chưa bao giờ khóc, nhưng đã cạn khô từ thuở nào. Môi cô mỏng và nhợt nhạt, hơi mím lại để ngăn cơn lẩy bẩy từ tận sâu bên trong. Bất cứ lúc nào Doãn gặp Đan, cô đều cố gắng đứng vững đến mức cô gần như sụp đổ lúc nào không hay biết.

“Cậu ăn gì chưa đấy?” Doãn hỏi, bước gần đến Đan thêm một chút và cảm nhận thứ xót xa khôn kể toả ra từ trên vai cô. “Trên văn phòng có thức ăn nóng. Bao lâu cậu không ăn đồ nóng rồi?”

Doãn nắm lấy tay Đan và đưa cô ngược trở lên tầng hai chín. Văn phòng đã vắng người từ lâu và Doãn chỉ mở đèn trong phòng làm việc. Từ tủ giữ nhiệt ở góc phòng, anh lấy ra hai khay đồ ăn nóng. Doãn nói đúng, đã mấy tháng liền Đan không thể phung phí những đồng tiết kiệm cuối cùng của mình vào một suất ăn ấm bụng.

Cô cũng không ngần ngại nữa, mở nắp và ăn đến no lòng. Dẫu sao có lẽ hôm nay sẽ là ngày cuối cô còn gặp Doãn. Cô đã làm anh thất vọng quá nhiều lần rồi.

“Mình xin lỗi”, Đan nói, “Mình không giỏi như mình đã mong. Mình đã không thể mở cửa được hồi ức của ông ấy. Giấc ngủ và bóng tối dưới giếng sâu đã niêm phong tất cả mọi thứ. An Dao mãi mãi đã chìm vào màn đêm. Doãn ơi, mình xin lỗi. Mình đã không tìm thấy hình hài cô ấy trong sự hư vô đến tuyệt vọng ấy.”

Doãn ăn hết phần mình, bê khay của cả hai đi dọn dẹp và đứng bên cửa sổ nhìn xuống thành phố xù xì chênh chao một lúc lâu. Anh ngăn một giọt nước rơi ra từ mí mắt và, trong phong thái lịch thiệp thường ngày, anh quay lại, cười nhẹ.

“…Có lẽ thế cũng tốt.”

Anh ngồi xuống trước Đan, một lần nữa cầm lấy tay cô và áp vào bên má. Nỗi buồn của anh, dù đã kềm chế đến cùng tận, vẫn lan ra và suýt làm Đan nấc lên.

“…Thật kỳ quặc, mình đôi khi nghĩ giữa mình và An Dao tồn tại một chiếc khoá. Nếu mở chiếc khoá ấy ra, bao nhiêu tổn thương cô ấy đã chịu đựng sẽ tràn hết vào trong mình như lũ. Không biết có cái hay của không biết. Ít nhất mình không đau đớn và sống bình an hết phần đời hiện tại mà An Dao đã để lại cho mình.”

Cả hai im lặng ngồi bên cạnh nhau, không nói thêm lời nào nữa, mà ngỡ như ngàn vạn từ ngữ đều đã được cất lên, bí mật ngân nga và bí mật xót thương.

-

…Đan không quay lại giếng, cho đến mãi tháng Năm. Doãn nói, cô đợi anh thêm ít lâu, anh đang tìm cho cô một con sẻ đỏ. Tùng hương thì nguồn gien cấy chưa ổn định, trồng được vài ngày rồi chết, chắc phải ba-bốn năm sau.

Đan gặp anh dưới nhà thêm lần nữa, nhìn anh thốt ra những lời hứa hẹn tỉ mỉ mà thấy vì sao mình lại có thể gặp phải một người ngây ngô như Doãn trong cuộc đời này.

Khi anh đi rồi, cô thầm nghĩ, có lẽ trong ngàn vạn những điều chưa thể nói, đâu đó đã có những tín hiệu về thứ ngôn ngữ mà Quái Thú đã muốn thốt lên.

…Hôm sau, Đan lại đến bên miệng giếng.

Cô gõ ba lần “boong, boong, boong” lên thành giếng chỗ sát rìa những tấm lưới thép tích điện.

Quái Thú chỉ hừ nhẹ, không có vẻ gì chịu tỉnh.

“Cháu đến đọc thơ.”

Rồi không đợi Quái Thú nói thêm, cô mở đến trang thơ còn sót lại của John Berger.

Là quyển sách mà người điều dưỡng tặng An Dao năm nào, để cô nguôi ngoai cơn đau ngấm vào trong xương tuỷ.

“Tim tôi chào đời trần trụi

Được quấn tã trong lời hát ru

Về sau chỉ riêng tim ấy

Mặc áo bằng thơ

Như tấm áo tơ

Tôi mang trên lưng

Vần thơ đã đọc

Nên hết nửa thế kỷ mòn mỏi tôi sống

Đến khi ta gặp nhau không nói nên lời

Từ chiếc áo vương trên ghế

Tôi học được, đêm nay

Rằng biết mấy năm dài

Thuộc làu trong tâm khảm

Chuyện đã đợi chờ em”

“A….”

Đan nghe tiếng nấc vọng lên từ đáy giếng. Người cô run run.

“Cháu thích bài này. An Dao cũng thích, cô ấy đọc đi lọc lại, cất lên thành lời khi ngồi trên chiếc ghế mây trong phòng nghe nhạc. Hết nửa thế kỷ dài ta sống chỉ để gặp được nhau mà không thốt được nên lời. Khi ấy là không thể nói được thành lời, hay mọi tiếng lòng đều được cất lên? Mọi thứ đều đứng im, hay mọi thứ đều đang tiếp diễn? Ông bảo không còn nhớ hồi ức nào, hay tất cả ký ức của ông đều đã ở đây rồi?”

Đan nhớ đến bao nhiêu là ngày đáng đi về giữa hầm ngục và cư xá với hai bàn tay trắng mà tủi thân khôn cùng. Đời cô chưa có bao giờ tủi thân đến quặn lòng như thế.

“Ông biết không, cháu chẳng muốn nhiều. Hồi ức của ông có thể giúp cháu nuôi một con se sẻ.”

“Còn Doãn, cậu bạn ngây ngô khờ khạo đến mức chịu tin cháu tìm được An Dao, sẽ biết được rốt cuộc cậu ấy đã bắt đầu từ đâu.”

“Ông tin không nhỉ? Tất cả những gì còn lại của An Dao mà ông gửi lại, giờ đây chính là Doãn.”

“Người ta có thể sửa hết mọi khuyết tật di truyền của An Dao. Họ có thể tạo ra cậu ấy khoẻ mạnh và cậu sẽ sống thật lâu. Chỉ nhìn bên ngoài trông cậu thật hoàn hảo, với dáng hình dong dỏng cao, mái tóc rẽ ngôi gọn gàng và vầng trán êm dịu, với ánh mắt sáng bừng và mỗi lần cậu nói, cậu thường chỉ nói những lời thật ưu tú. Nhưng làm sao họ có thể sửa được sự khờ khạo, tính tình nhẹ dạ cả tin, cả sự bồn chồn và xót xa của cậu, hở ông?”

Nói đến đây, Đan rống, lên khóc lớn.

Cứ như hồng thuỷ một lần nữa tuôn chảy và nhận chìm mọi thứ, trong cô.

-

Quái Thú tỉnh dậy dưới đáy giếng, ngoài người ra khỏi một bãi bờ im vắng mà giấc ngủ đã che chắn suốt nhiều năm.

Chỉ trong lặng thinh tuyệt đối, hồi ức mới còn vẹn nguyên.

Khi mặt cỏ còn xanh

đồng còn dế hát

rừng còn rụng lá

én nhạn còn tổ

biển chưa nổi sóng.

An Dao. Một ngày kia em rời bỏ.

Từ đó đến nay, vật đổi sao dời.

Chỉ còn dấu vết của em, vùi trong đất lạnh, thành một hạt mầm kiên cường nảy chồi vươn lá dưới đất trời vần vũ đổi thay.

-

Đan lờ mờ thấy mình được ai đó ôm lấy, đưa ra khỏi căn hầm. Tiếng động cơ còn rì rầm hoà vào tiếng mưa gió. Dường như cô đang ở trong một chiếc ô tô.

Đan mệt quá, cô không thể nào nghĩ gì thêm được nữa. Cố gắng truy hồi ký ức về nỗi đau của một người rút cạn sức lực của Đan mất rồi.

Doãn đến nhà mà không thấy, biết cô đã đến đây. Anh đưa Đan ra ngoài lúc nào không hay biết. Anh lấy áo khoác của mình che cho cô đỡ gió mưa rồi đưa cô vào trong xe. Anh mở máy sưởi cho tay chân cô ấm lại. Anh cầm lấy tay cô thật lâu, lặng lẽ nhìn cô ngủ say.


Bình luận

  • avatar
    Ong vận chuyển comment
    Bình luận của bạn yue ( 06/09/2022): Trong truyện có nhắc đến một cuốn sách, đó là And our faces, my heart, brief as photos. Bài thơ trong truyện cũng được trích từ cuốn sách này. “My heart born naked was swaddled in lullabies. Later alone it wore poems for clothes. Like a shirt I carried on my back the poetry I had read. So I lived for half a century until wordlessly we met. From my shirt on the back of the chair I learn tonight how many years of learning by heart I waited for you.” ― John Berger Mình cứ nghĩ Doãn và Đan phải thêm một vài năm nữa mới được viết ra, bởi lẽ ý tưởng dành cho hai nhân vật này khá phức tạp và khó khi triển khai, và bề dày phù hợp hơn cho tiểu thuyết. Tên thì đã đặt xong, “Thuyết Khuây Khoả.” Khuyây khoả với Đan nhỏ như một con chim sẻ sống một năm trong êm ấm, với Doãn là biết anh đã bắt đầu từ đâu. Với Quái Thú là giấc ngủ dài như tách rời ra khỏi thế giới này để tạo thành một bến bờ khác, nơi hồi ức về những ngày đất trời còn bình yên và An Dao còn hiện diện trên đời. Truyện này lấy một đoạn bắt đầu của Thuyết Khuây Khoả thu gọn lại và khai thác thêm một đoạn ngắn đã được viết từ rất lâu mang tên Như Quái Thú Mùa Đông. Bối cảnh là ở thành phố nào đó sau hồng thuỷ, được đặt rất xa ở tương lai, khi người không chỉ được sinh ra, mà còn có thể nuôi cấy và sửa chữa từ chất liệu di truyền. Mình nghĩ truyện ngắn này là một khởi đầu tốt để Thuyết Khuây Khoả sau này có thể triển khai thuận lợi hơn. Vẫn còn rất nhiều câu hỏi bỏ ngỏ về Nguyễn Doãn – Hà Thanh Đan, về An Dao và Quái Thú mà trong khuôn khổ truyện ngắn, dù đã có một chút dấu vết nhưng vẫn chưa kể được hết.
  • avatar
    Ong vận chuyển comment
    Bình luận của bạn N2 (07/09/2022): Đúng như tác giả diễn giải, đây giống như là mở đầu cho một tác phẩm khác, không làm thỏa mãn sự tò mò và hiếu kỳ mà tác giả triển khai từ đầu tới cuối bài. Lúc đầu mình cứ ngỡ tác giả định dùng sự mơ hồ để lôi kéo người đọc đến tận cuối cùng, cho đến khi đọc xong thì lại càng cảm thấy mơ hồ hơn. Khi đọc lời bình luận tác giả để lại mình mới hiểu ngụ ý của tác giả. Thôi thì chúc tác giả sớm hoàn thành được tiểu thuyết đang tiến hành này ạ!
Preview Settings

Try It Real Time

Layout Type
    • LTR
    • RTL
    • Box
Sidebar Type
Sidebar Icon
Unlimited Color
Light layout
Dark Layout
Mix Layout
}