Đêm hôm đó, con trăng vàng đã mọc giữa không trung.


Con trăng mới dậy treo trước mặt con mèo vằn, vầng trăng thật to và đầy đặn. Con mèo vằn nhìn trăng, hai mắt sáng loà uất hận, cái lưỡi nhỏ thè ra hớp khí.


Nó không hiểu: vì sao nó phải gánh trên đôi vai tí hon cái thứ “nghĩa phận” này? Gánh lấy cả cái “nghiệp quả” không biết do ai đổ lên đầu nó? Nó nghĩ: hà cớ mà trăng lại có thể vui vẻ khoe mảnh thân nhan đẫy đà trong khi nó bao lâu nay phải chịu lầm than khổ sở?


Nó sinh ra vốn số làm mèo, không nuôi nấng thương chuộng thì thôi, mắc mớ gì mà phải đẩy chừng này đày đoạ cho nó?


Cánh rừng bạt ngàn thổi vô vàn những cơn gió độc. Con mèo vằn vừa nấc, vừa run lạnh căm căm. E rằng, nếu nó cứ ở ngoài rừng chịu lạnh, thì đêm nay sớm muộn gì nó cũng thành ma. Cái bụng đói meo gừ thay cho nó, nhưng nó đã chạy mệt rã người rồi, toàn thân nhức mỏi vô cùng.


Cổ họng khát khô, nó muốn gào lên một tiếng. Nhưng nhìn xung quanh, khu rừng rậm rạp này không biết sẽ cho nó gặp cái giống gì nếu nó đánh dạn kêu to. Những con chim, chuột, côn trùng sẽ chạy đi mất, nhưng những “ông kễnh”, “ông tê” nó từng nghe kể chắc chắn sẽ tìm tới nó mà làm thịt. Nó không thiết gì suy nghĩ nữa, chốn xa xôi lạ lẫm này chắc sẽ trở thành mồ chôn của nó. Để rồi khi nó thác đi, nó sẽ biến thành một con ma rừng, một con ma đói (!), hằng đêm lại cất tiếng quấy rầy những phu tràm cả gan ngủ bờ ngủ bụi…


Nó ước gì, ngay lúc này, Mẹ nó sẽ hiện ra, bế nó vào lòng, rồi vuốt ve, rồi nũng nịu, rồi cầu mong nó tha thứ, khi từ đó đến nay, biết bao nhiêu công sức, bao nhiêu thứ nó làm vì mọi người ở cái nơi hẻo lánh ấy lại chỉ nhận về sự hồi đáp bạc bẽo như vầy. Nhớ lại trước đây, khi nó còn ở ngôi chùa cũ, chẳng phải mọi người đều trân quý, nuông chiều nó bậc nhất hay sao? Cũng chẳng phải nó đã dành hết tình yêu của mình cho mọi người ở đó hay sao? Vậy mà sao bây giờ… chẳng ma nào nhảy ra mà ôm nó về yêu thương nữa…?


Để vì yêu mà phải chịu thay người đời một món nợ, thực lòng chẳng phải ông Trời quá hẹp hòi với nó?


Con mèo rầu rĩ bước đi, vừa đi vừa cúi đầu trong tủi hận, nhưng ánh trăng trên kia vẫn không thôi nhìn nó. Nó biết điều đó là vì dưới chân, phản chiếu trên những lá cỏ ướt sương đêm là ngọn sáng long lanh của ngọn trăng trên đầu. Cảm thấy bị xúc phạm, nó ngước mắt trông lên định chửi trăng một trận ra trò! Thế nhưng, tức thì, đập vào mắt nó là con trăng kia nhìn nó dịu hiền…



À…


Trăng đêm nay chắc cũng không khác gì nó. Cũng lửng lơ, cũng cô độc một góc trời. Nhìn trăng, nó nhớ tới hình dung của Mẹ, ấm áp rạng ngời như đang mở rộng vòng tay sẵn sàng ôm lấy nó, sẵn sàng nghe nó kể lể về mọi điều bất công, mọi thứ diễn ra trên đời. Vầng trăng bát ngát, bao la, chắc chắn sẽ chỉ cho nó tới nơi nào mà nó không đơn độc. Ở đó, người ta sẽ cho nó ăn, cho nó uống, cho nó gối chăn và đưa nó về lại ngôi chùa cũ, và họ sẽ thương nó như cách những người xung quanh đã từng yêu quý nó.


Đêm nay, lạc giữa cõi trần, có lẽ nó sẽ đi theo hướng của con trăng. Trăng sẽ thay Mẹ nghe nó mở lòng tâm sự về những ngày qua, về cuộc đời vỏn vẹn mấy năm mèo ta từng trải. Nó vật vờ, chậm rãi bước theo trăng…



***



Nó nhớ lại, những ngày đầu mới về ngôi chùa cũ.


Nó sinh ra là một con mèo hoang, một con mèo nhỏ chỉ gần bằng một trái sấu rừng, nằm dưới chân một lùm nứa dại. Hai mắt nhắm nghiền, ký ức đầu tiên cùa nó là được nghe tiếng lá bên trên xào xạc, tiếng gió thổi liu hiu. Nhưng chỉ một lát sau, nó lại cảm nhận được một sức nóng – cái nóng mặt trời rang bỏng lớp da non – chớp thoáng phừng lên rồi lại biến mất: bụi nứa đã cố hết sức mình để nghiêng che cho con mèo nhỏ.


Cảm nhận tiếp theo, là sự mềm mại, thân thương của… một thứ gì. Nó nhớ là… vật đó mềm lắm! Mềm như cái áo chần bông mà sau này người ta hay lót cho nó nằm mùa lạnh. Mềm tới nỗi nó đã với chân ôm thứ đó hàng giờ, từ lúc còn hơi âm ấm, cho đến lúc vật đó nguội như băng. Trong lúc ngẩn ngơ mà vớ được cho mình một thứ đem lại sự bình yên ngớt trời, không phải là quá may sao? Nó chỉ thấy ấm dần trở lại khi tàn lá trên đầu không còn đủ sức rộng để che, làm lộ ra bộ dạng nhỏ nhoi dưới nắng. Con mèo tơ đã đỏ, nay phơi nắng lại càng đỏ hơn. Chỉ khi nó chịu không nổi nữa, nó mới bắt đầu khóc tiếng khóc đầu tiên trong đời…


  • — Này, mày có nghe tiếng chi chăng?

  • — Có phải tiếng con mèo nào?

  • — Đó! Tiếng mèo gọi vọng ra bởi trong kia!

Và rồi, nó nghe thấy tiếng bước chân, tiếng ai đó lại gần. Tận ba con người xúm xít lại quanh cái ổ trong lùm! Lúc này nó còn tưởng là nó sắp chết, sắp bị ăn thịt chăng? Mặc dù lúc đó nó chưa chắc đã ý thức được việc bị ăn thịt là gì, nó chỉ biết rằng bản thân đang sợ, âu cũng là bản năng tồn tại của nó.


  • — Cả một bầy mèo! Có đủ con lẫn nạ (1), nhưng mà…


  • — Mà sao?

  • —Bui (2) một con còn sống thôi…


Họ nói với nhau xong, nó liền cảm nhận được một thứ gì vừa mềm cũng vừa cứng ráp quấn lại quanh thân nó, liền sau là một cảm giác lâng lâng là lạ trong người. À, người ta mới nhấc nó lên, nhưng mà nó không biết điều đó. Cảm thấy khó chịu, nó lại khóc to hơn.


  • — Ui… còn chưa mở mắt.

  • — Thực tội nghiệp…

  • — Thôi thôi… mày nín đi mèo… choa (3) thương…

Dĩ nhiên, nó có hiểu gì đâu mà nín, càng nói, cái cảm giác kỳ lạ càng khiến nó kêu lớn hơn. Vậy mà cái người kia vẫn cố chấp cầm nó trên tay, vuốt ve hết lưng rồi tới bụng. Vậy mà sau một lát, nó lại cảm thấy dễ chịu thay! Từ từ, tiếng kêu của nó nhỏ dần, đến khi nó lại chìm vào giấc ngủ.


  • — Hay bọn mình đưa nó về cho thầy?

  • — Còn phải hỏi? Chớ còn cách nào nữa ru?


  • — Vậy còn nạ với anh em nó phải làm sao?

  • — Tuồng như phải táng chúng chưng đây rồi.

  • — Nào, đệ lại giúp huynh ấy đi…



***



Ánh trăng kéo nó đến một chỗ nào xa xôi lắm, vẫn chưa thấy cửa nhà đâu, chỉ toàn cây với cối. Khi ý thức con mèo trở về thực tại, bao nhiêu sức sống và hy vọng con trăng vừa gửi tới cho nó chốc chốc lại bay đi, tràn vào tâm trí nó bây giờ là một niềm thất vọng.


Chợt, nó vảnh một bên tai lên mà nghe. Róc rách… triền miên mà róc rách… Vẳng từ xa đâu có tiếng con suối nào đang chảy!


Mắt nó sáng rực lên giữa màn đêm tăm tối. Bốn chân nó như được tiếp thêm năng lượng lao vù vù giữa đám cỏ đìu hiu, len lỏi trên đất đá của thềm rừng ẩm ướt. Những giọt sương đêm chưa kịp thành hình bị lay động nhỏ lên thân của nó, làm ướt những kẽ lông vấy bụi. Nhưng nó không màng. Mong ước duy nhất của nó bây giờ là được uống nước từ con suối đó, được sống sót, được tồn tại. Những suy tư khác hãy xếp lại để sau, "thân thương" nỗi gì khi sinh mạng bây giờ treo sợi tóc! Mặc trời đất, mặc thứ gì ngăn cản, nó chạy đi vì sự sống của chính mình. Tiếng nước chảy càng nghe càng rõ, to dần lên, bao lấy khoảng không gian hai bên bờ suối, rồi lại vang vọng đó đây như vây lấy cả khu rừng, như đến từ mọi phía.


Chạy khỏi hàng cây cuối cùng, trước mặt con mèo lộ rõ ra một dòng suối. Bề rộng con suối này to hơn nó nghĩ, to đến độ có thể nhìn ngang qua mà thấy được cả bóng trăng lấp ló, lung linh uốn lượn trên từng gợn sóng. Con mèo vằn nhìn quanh, chỉ thấy cỏ cây đất đá, chỉ có bầu trời không sao và con suối vô định hình.


Con suối chỉ có một mục đích duy nhất, đó là chảy đến khi nào đổ vào sông, ra được biển cả. Con mèo cũng ước gì nó được như con suối, cả đời chỉ nhận lấy nước mưa, nước ngầm, đất cát, khoáng thạch bồi tụ, rồi thoải mái lan ra tứ phía, đến cuối đời chỉ việc nhắm mắt đưa chân hòa vào biển cả, chẳng cần để tâm đến việc chi trên đời.


Từ từ, nó tiến lại bên bờ suối, cúi đầu gần sát mặt nước. Nó đưa lưỡi ra, vội vã hớp từng ngụm nước mát lạnh. Ôi, đến bây giờ nó mới biết là nó đã khát tới nhường nào, từng ngụm nước đưa vào cổ họng mới sảng khoái, phấn chấn cỡ nào! Nó uống lấy uống để, gấp gáp như đã khát khô từ tám hoánh. À mà cũng đúng, đúng là mấy năm nay, từ lúc đám “giặc” – cái bọn mà nửa ngày trước nó còn chưa biết mặt – tràn vào, đem theo dịch bệnh và thuế má, thì nước giếng nước mưa các làng đều phải đem đi tưới ruộng, có những giếng do nhiễm bệnh mà bị lấp. Cái giếng sau chùa ngày ngày gánh nước cứu dân, đến nỗi bao nhiêu công đức tích tụ đáy giếng không bao lâu cũng dần cạn kiệt. Thành ra đã lâu lắm nó chưa được uống bữa nước nào no nê như vậy.


Ngẩng đầu lên nhìn dòng suối tắm trăng, nó cố nghe cho rõ hơn tiếng con suối chảy. Âm thanh này… nghe hệt như tiếng rót trà mỗi chiều của ông thầy nó.



***



Róc rách róc rách.

Cái nắng hiền hoà rọi xuống sân, mái ngói ngôi chùa ửng lên màu vàng cam óng ánh. 


  • — Vậy ra các con đã làm mai táng cho nạ nó rồi?

  • — Thưa thầy, cả anh em nó nữa ạ.

Sư ông ngồi trên sập, nhẹ nhàng rót trà vào hai chén nhỏ. Đặt chén tống xuống, ông lại đưa một chén quân về phía chú tiểu lớn nhất chùa, đang khoanh tay đứng kề bên. Hai tay nhận lấy, chú ta gật đầu, “dạ” một tiếng, rồi đợi sư ông đưa chén lên môi. Sư ông từ tốn uống một ngụm trà, một tay nâng chén, một tay còn lại vuốt lưng con mèo nhỏ xíu đang ngủ trên đùi.



  • — Một con mèo cái… A di đà Phật. Thật tội nghiệp cho nó, mới đẻ ra đã chẳng may…

  • — Mô Phật. Bởi sự vậy nên con mới có định hỏi thầy. Thưa thầy, chẳng hay con với các em có thể nuôi nấng em nó vài năm được không ạ?

Sư ông im lặng, tay vẫn vuốt ve bộ lông tơ. Đôi mắt ông sư già híp lại, những nét chân chim hằn sâu, nhìn con mèo từ bi trìu mến. Thấy sư ông không trả lời, chú tiểu ngần ngại nói thêm:


  • — Thưa thầy, chúng con học với thầy bấy năm, nên chúng con hiểu rõ rằng chúng vật hoang chẳng thể ở với người, rằng chúng sinh phải bay nhảy tự nhiên mới đúng. Nhưng bây giờ, em nó bui mới lọt lòng, lại tứ cố vô thân, e là… em nó ở ngoài kia thì không thể sống. Chi bằng mình giữ nó lại, nuôi cho nó lớn. Chờ khi em nó tự mình kiếm ăn được, ta hãy thả về rừng. Coi như mình làm phúc cho nó ạ.

Chú tiểu cúi đầu, tay vẫn khoanh trước ngực, bụng sốt rang chờ nghe thầy dạy. Sư ông trầm ngâm một lát, ánh mắt như thấy được điều gì chẳng ai hay.


  • — Nếu ta chịu, con định bụng nuôi nó bằng gì? A di đà Phật, đãn hiềm (4) giống mèo ắt phải bú sữa nạ, ăn thịt mồi mới lớn nổi…

  • — Dạ thưa, con nghe nói những nhà có nuôi chó mèo con mà không có sữa thì họ hay cho chúng uống nước cơm. Còn thịt… con thiết nghĩ… là ta hãy cho em nó ăn đậu… À, bằng không thì ta cũng có thể cho ăn các món mặn dân năng dâng lên miếu Bà là được ạ!

Ngắm nghía bộ dạng sần sùi của con mèo, sư ông cười mỉm:


  • — Được, bọn con liệu sao thì liệu.

Chú tiểu cũng cười theo, cảm ơn thầy, rồi vội chạy ra sân dặn dò với đàn em nhỏ…


***


Ngẩn ngơ được một lúc, con trăng đã lên cao quá hàng cây bên bờ kia con suối và nhỏ lại. Con mèo vằn, tuy bụng vẫn đói, đã bớt sợ hãi hơn lúc nãy nhiều phần. Nhìn theo hướng ánh trăng vẫn đang treo, nó quyết định sẽ đi dọc chiều chảy của con suối để tìm cho ra một thứ gì đó cho vào bụng, như… một bụi quả gì gần dưới mặt đất.


Phải là một bụi quả, ngoài ra, chẳng có gì mà con mèo này có thể ăn được. Không phải tại nó kén cá chọn canh hay là vì nó không biết ăn những thứ khác. Mà là vì, thật ra, nó không biết tìm những thứ ăn được ở đâu cả. Từ nhỏ, nó đã được những chú tiểu trong chùa nâng niu, lớn lên lại càng được người dân yêu dấu. Vì vậy nên mọi thứ nó từng cho vào miệng, tất thảy đều do người ta biếu cho chứ chưa ngày nào nó tự chân bắt hay hái cái chi. Một lần nọ, nó từng thử thịt một con thằn lằn. Sau cả canh giờ loay hoay rượt đuổi, cuối cùng nó cũng túm được lấy đuôi con mồi ấy, nhưng xui thay chưa kịp xơi cháo gì thì con thằn lằn đã rứt đuôi bỏ lại rồi chạy mất. Và đó cũng là lần cuối cùng nó đuổi con gì.


Kể cả những hoa trái nó từng ăn cũng chưa bao giờ là do một chân nó hái. Bao giờ những thức lê, cam, mòng, bưởi ngon ngọt nó từng bỏ vào miệng nhai cũng là đồ cúng dường mà dân quanh đấy đem cho chùa. Thành ra kể cả có là mèo đi chăng nữa thì con mèo này cũng chẳng biết trèo cây như mèo người ta hay trèo, hay bắt chuột như mèo người ta hay bắt, bao giờ nó cũng vụng về, lỡ cỡ.


Đi một hồi lâu chẳng thấy gì, nó chợt bắt gặp một cây gì đấy có trái tròn tròn, thoang thoảng một mùi dễ chịu. Chỉ khổ một nỗi, trái của cái cây kia treo tít trên cao, có leo cũng chưa chắc với tới được. Thế nhưng, cái bụng cứ ri rí than, làm cho nó không tài nào chịu được. Thôi, chắc kỳ này thử đánh liều một phen.


Hai cái chân trước của nó loạng quạng bấu lấy thân cây sần sùi, thớ thịt mềm giữa lòng bàn chân hơi đau đôi chút. Mấy cái móng không quen bám vật cứng chịu không vững, khiến cho thân nó run bần bật. Mới định đẩy thân mình lên, tứ chi nó đã đầu hàng mà làm nó ngã lăn ra sau lên trên nền lá khô xào xạc. Không nề hà, cơn đói như tiếp thêm động lực, nó lại cố gắng leo lên nữa. Lần này, nó đã thành công phóng lên một đợt, nhưng chưa kịp phóng đợt thứ hai thì nó lại mất thăng bằng và lại rơi xuống. Lần ba, nó không đợi cho cơ thể bám chặt trên thân cây, mà mỗi khi nó cảm thấy như sắp mất thằng bằng, nó lại dùng hai chân sau ỷ thế đạp thẳng lên trên. Vậy là chỉ với một nước nhảy, nó đã với tới được nhành cây thấp nhất. Nó nhanh chóng bám lấy nhành cây kia bằng hai chân trước, nhưng hai chân sau không tài nào ưỡn lên đủ cao để với được lên cành mà chỉ đung đưa lủng lẳng. Tác động mạnh và cân nặng của nó cũng làm cho cả cái cây đung đưa theo, những chiếc lá khô còn sót lại trên cành vương vãi xuống đất. Tưởng chừng như công sức leo trèo đã đổ sông, may sao, rơi lả tả theo đám lá kia là một chùm những thứ quả tròn trịa, chúng lần lượt lìa cành bất kể già non. Chỉ trong thoáng chốc, mặt đất dưới chân con mèo đã đầy những cái lá, thứ quả thơm còn nguyên vỏ.


Đến lượt con mèo cũng rơi, hai chân nó trụ không nổi nên đành bỏ cuộc. Cái thân gầy gò của nó chạm mặt đất nghe cái “huỵch”! Nó đã cố lật người lại để đáp bằng bốn chân, nhưng nó xoay không đủ nhanh để an toàn tiếp đất. Da lưng nó đập xuống thềm rừng hơi ran rát, may thay mà đống lá dưới thân và đám quả xung quanh đã tạo thành một lớp đủ dày để phủ lấy rễ cây.


Con mèo lồm cồm ngồi dậy, rồi chộp lấy thứ quả kia, dùng móng nhọn phanh ra rồi bỏ vào mồm nhai. Thứ nước chua tứa ra trong khoang miệng con mèo, làm nước dãi nó chảy ra không ngơi. Thịt quả dính chặt lấy răng làm nó phải cử động hàm liên hồi, rồi nó lấy lưỡi lừa ra những phần chát và cả cái hạt bé tí nhưng cứng khừ. Nó le lưỡi rồi đưa chân lên phủi những phần kia ra, rồi lại nuốt những phần ăn được vào. Ăn xong, nó lại bóc thêm một quả khác mà lặp lại y chang quy trình ban nãy. Thứ quả chua thơm ngào ngạt trong miệng nó, có trái thì bùi bùi, có trái lại đăng đắng. Làm nó nhớ lại hồi nó còn được ăn thoả thích những trái ngon người ta hay đem lên cúng, những khi nó còn được chăm lo…



***



Nó nhớ lại, một ngày kia, nó đang nằm trong lòng Mẹ nó. Lớp vải sa người ta kính thờ khoác lên người Mẹ mới mềm mại làm sao! Những hạt chuỗi đan thành cái lưới đeo lên vai Mẹ kêu lách cách trong gió mới thật là thích! Nó có thể nằm đó cả ngày, vô âu những chuyện phàm tục mà nhắm mắt huơ đuôi. Nó thường hay ngủ ở đây, trong lòng Mẹ nó, ngửi mùi khói hương và mùi trái cây người ta dâng lên trước mặt, cảm nhận cơn gió lớt phớt không trung.


Và nhiều khi, trong giấc ngủ, nó sẽ thấy cánh tay hóa đá của mẹ trở nên mềm mại, dịu dàng vuốt ve, vỗ về nó. Nó sẽ nghe tiếng Mẹ hát ru! Tiếng Mẹ dịu êm, có trầm có bổng, không đều đều đơn điệu như tiếng sư ông tụng kinh gõ mõ. Trong giấc mơ, nó sẽ quay đầu lên nhìn Mẹ, và Mẹ sẽ nhìn nó cười duyên. Ôi, mái tóc Mẹ búi lên sao mà đẹp, cả những cây thoa, lược vàng Mẹ đội trên đầu, sao mà óng ánh đẹp như sao băng! Không lạ gì, nó sẽ nằm đó cả ngày…


  • — Mão! Trèo xuống! Mày có thôi leo lên tượng Bà nằm đi không?


  • —Thôi, mày cứ để Mão Cô nằm trên đấy.


  • —Sao lại được? Tượng Đức Bà là do dân tạc để dân thờ Bà! Đâu phải để mấy con mèo hở chút là trèo lên phá?

Tỉnh khỏi giấc mộng chơi đùa với Mẹ, con mèo vằn vẫn cố nằm im vờ ngủ. Nó chẳng quan tâm chú tiểu kia nghĩ gì, nó chỉ biết là nằm ở đây vô cùng êm ái, và Mẹ nó cũng chẳng trách phạt nó tội tình gì. Vậy mà ngày nào nó leo lên đây, chú tiểu kia cũng một mực đuổi nó đi xuống, phải đợi đến khi sư ông hoặc huynh trưởng ra kêu hắn vô thì nó mới nằm yên ngủ tiếp được.


  • — Nó vốn là con mèo hoang mình đem về đùm bọc! Chứ có phải thánh thần phương mô mà ta phải kiêng nể, phải gọi bằng cô?

  • — Hà hà, đệ xem kia, chẳng phải Mão gọi Chu Bà bằng “mẹ” ấy ru? Nếu Mão đã là con Bà thì mình phải kiêng mà gọi bằng “cô” chứ!

Nghe đến đây, con mèo vằn đắc chí cười thầm. Nó từng nghe dân lên chùa kể, chừng trăm năm trước, có một vị công chúa vì chạy giặc mà lên tận xứ Mường này để sinh sống. Ở đây, bà cùng với nhà Lang mới cho dựng chùa, cho dân có chỗ tu tập mà gửi gắm lòng thiềng. Rồi tới khi bà thác, lại tới lượt chúng dân tưởng nhớ bà mà cùng nhau xây một ngôi miếu cạnh bên, tục truyền cúng mặn mỗi lần một tháng để còn chia cho dân nghèo đói. Từ đó, con mèo mới có thịt ngon để ké ăn những ngày rằm.


Nó tự nhủ nó chỉ nhai sơ sơ vài miếng thì chẳng động gì tới phần ăn của những người khác. Nó có tâm chừa phần cho chúng dân là vậy (nếu không chừa thì huynh trưởng sẽ mắng), thế nhưng những lúc ăn chung, người ta vẫn hay sẻ phần mình mà bón thêm cho nó. Đôi khi là một cái cánh gà, nhiều lúc lại dăm cái giò heo. Người ta bảo nhau nó chính là “ông” Miêu Thần thuở trước đã hiện ra giúp dân, đã ngự ở đây tự buổi đầu, bây giờ “ông” hiện về để lĩnh công, nên dân ta phải cho con mèo kia ăn để trừ nợ. Có người còn nói, thánh thần không mấy khi hiện ra, nhưng khi đã hiển thì ắt phải có đại sự cần giải quyết… Thú thật, từ lúc nó về chùa đến giờ, nó chưa thấy con mèo nào khác ngoài nó, nên nhiều khi nó cũng tự huyễn rằng có khi nó chính là thánh thần thật sự. Dù sao thì nó cũng cần phải ăn, mà người ta khi không lại cho nó hưởng, khờ hay sao mà chẳng nhận? Coi bộ làm mèo cũng chẳng kham khổ mấy.


  • — Mẹ-ooo!!!

  • —Kìa, đệ nghe chửa? Mão Cô vừa gọi Bà bằng “mẹ” kìa!

  • — Nó kêu tiếng mèo rành rành! Phải tiếng người mô?


Thế rồi, nó cứ thong thả mà nằm, chẳng màng chú tiểu kia quấy rối. Nó chỉ việc đợi tới chiều, khi nào mâm quả đã cúng xong rồi là nó được ăn.


Chuông chùa ngân vang ba cú đánh, thì ra lại đến giờ tụng kinh của sư ông. Sân chùa thoáng đãng đón lấy tiếng mõ và tiếng niệm rồi lưu lại trong không trung, đều đều, chậm rãi. Ngọn gió núi lành hơi lại đưa con mèo vằn vào một giấc ngủ khác…



***



Ăn xong đống quả ấy, cái dạ của con mèo cũng đã đỡ trống hơn đôi phần. Còn sót lại chỉ là một mớ vỏ và hạt ướt nhem nằm la liệt dưới gốc cây. Nó lại nhìn xung quanh, ra phía bờ suối, về lại trong lùm, nó chẳng biết nơi đâu là đâu. Nhớ lại thuở còn được bồng bế cho ăn, con mèo vằn ngậm ngùi đứng lại khóc. Nhịp thở của nó hổn hển dần, cổ họng nó thắt lại từng cơn, làm vọng lên những tiếng gì như nấc. Nó ngồi lại, lấy chi trước vuốt vuốt mặt như để ngăn thứ gì đó tuôn ra từ khóe mắt. “Mẹ…”


  • — Mẹ! Mẹ!

Bất chợt, tiếng cú lợn từ đâu vẳng tới tai con mèo. Nó trợn mắt nhìn khắp xung quanh với vẻ đề phòng, lo lắng. Lúc còn ở chùa nó đã nhiều lần nghe những âm thanh ghê rợn phát ra từ trong rừng, nào là tiếng cú mèo trong bóng tối, tiếng sói tru từ đằng xa, hay là những tiếng ai đâu trong lùm nói chuyện. Ấy vậy mà, nó chưa từng tận mắt thấy những thứ đó lần nào, chỉ mới nghe thoang thoảng từ trong chính căn miếu ấm cúng nó hay ngồi thôi. Bởi vậy mà nó đã sớm nhận ra, dẫu thứ nó sắp gặp có muốn ăn thịt nó hay không, nó cũng chẳng hề nào có đủ can trường để chọi lại thứ đó hết.


Nó vội vàng chui tọt vào trong một lùm cây, vừa niệm A đi đà, vừa cầu xin cho bất kể thứ đó là chi thì cũng không thể nào tìm thấy nó. Nó đã từng nghe người ta kể tiếng cú kêu là hoạ chết người, vậy phải chăng đêm nay nó gặp tiếng chim kia nghĩa là sắp tận mạng nó? Rằng nếu không phải là vì bầy chó săn đã đuổi theo nó ban nãy, hay vì cơn đói, cơn khát, cơn lả người, thì khuya nay nó sẽ chết dưới tay một loài săn máu? Nó trốn dưới gốc cây. Ngó lên trên, thứ duy nhất thắp sáng buổi đêm là con trăng đang chiếu trên đỉnh đầu. Nhưng chưa kịp nhìn trăng đủ lâu, một bóng con gì đó đã vụt qua ngay trước mắt con mèo, nhanh như chớp che mất vầng trăng kia. Tiếng kêu giây trước mới vừa ở bên đây, giây sau đã vang vọng từ hướng cái bóng kia di chuyển. Vậy là không cần hỏi gì nữa, cái bóng đó đích thị là của con quái kia, con mèo vằn đã tận mắt nhìn thấy con cú xẹt qua ngay trước mặt!


Con mèo sợ kinh hồn, nhưng không rõ là con chim tử thần kia đã thấy nó hay chưa. Nó có phải là con mồi của thứ đó không? Hay nó nên chạy về phương nào? Đột nhiên, nó cảm thấy ở dưới chân mình hình như đã chạm phải vào một thứ gì đó. Nó hoảng hốt nhảy vọt ra sau và thét lên một tiếng, làm đánh động cảm một vùng cây cỏ. Lúc nó quay sang nhìn, nó mới phát hiện rằng thứ nó mới chạm ra chỉ là một con chuột nhắt! Nhưng, quá đỗi sợ hãi, nó đã lỡ làm đứt dây động rừng, chỗ trốn bây giờ của nó chắc ăn đã bị phát giác.


Con chuột nhắt thấy mình đã lỡ động đến loài mèo cũng kinh ngạc không kém mà phát ra những tiếng kêu ầm ĩ. Đúng như con mèo nghi hoặc, chỉ một giây sau khi nó cất tiếng la, con cú lợn đã lần ra được tung tích của cả hai bọn chúng. Con cú từ đâu bay vụt qua. Những cái đập cánh của nó làm xáo động đám cỏ dày, nhưng cũng nhờ thế mà bóng dáng con chuột mới lộ rõ ra dưới con trăng bạc. Con chuột cố rụt cổ toan chạy đi, nhưng chưa kịp cất chân đã bị cặp vuốt sắc nhọn vồ lấy, kẹp sát. Con cú lợn cắp nó đi, giữa không trung nó vẫn gào la hãi hùng, để lại bên trong con mèo một nỗi ám ảnh day dứt.


Còn con mèo, sau khi chứng kiến chú chuột nhỏ bị tha mất đã ba chân bốn cẳng chạy thốc tháo. Không, nó không muốn bản thân trở thành như con chuột lúc nãy! Nó phải tìm chỗ trốn, tìm chỗ sống! Nó đã chạy trốn khỏi đám chó dữ, khỏi cái đói, cái khát, cái mệt từ lúc còn chiều đến giờ, không lẽ nào nó lại đành bỏ mạng ngay sau khi mới thành công giành lại cái mạng nhỏ bé ấy. Từ trong óc nó trào ra đủ dòng suy nghĩ, cái bản năng muốn được sống, cái ước ao mãnh liệt được trở về bên ngôi miếu nhỏ, bên gốc đa già trước sân chùa, bên hàng tre lay lay trước cổng. Cả bên sư ông, bên các huynh đệ trong chùa, bên những người dân ngày ngày cúng vái, và… cả bên Mẹ của nó! Nó đòi Mẹ, nó muốn Mẹ. Nhưng Mẹ nó biết đâu mà tìm?



***



Nó trở về bên sư ông sau cuộc đi săn đầu tiên của cuộc đời. Bước qua cổng chùa, trong miệng nó ngậm cái đuôi của một con thằn lằn mới tẩu thoát. Nó lần theo lối cũ thường hay đi, bây giờ đã phủ kín lá đa già không ai dọn. Nó cố gắng đi sao cho từng bước chân không giẫm lên lớp lá, nhưng đi giữa chừng, gió núi trơ lại thổi vù qua cổng làm bay loạn xạ đống lá khô, cuốn bụi hồng bay cao ngất ngưởng không trung. Trời hôm nay mây mù giăng kín mít, tối um như sửa soạn bão bùng…


Những tưởng vùng núi cao sẽ ngăn được giặc lộng hành, ai dè đâu dân lang dân mường cũng phải chịu thuế má như ai.


Thuở trước, lúc còn có vua tôi triều đình cũ động binh cai quản vùng đất này, con dân còn lo được cái ăn cái mặc đầy đủ. Dân chúng xung quanh chùa mỗi ngày lại đều đặn thay nhau dâng hương cúng trái, gửi gắm niềm tin, khẩn cầu cho nước nhà bình yên trở lại. Vậy mà tới nay quân thần đã tan tác được hơn ba năm, trùng với khoảng thời gian dân cư bắt đầu thưa thớt. Dân đói ăn ai nấy cũng bồng nhau đi trốn, nhưng trốn cũng chẳng biết trốn về đâu. Dân núi rừng không thể về Đông ra biển hay đánh liều mà lên chót vót non Tây. Ra mạn Bắc lại càng gần hơn với lũ cướp, họ chỉ còn nước chạy vô Nam nơi đất khách quê người. Mà lẩn ở miệt đó cũng chẳng có ăn thua. Chỉ có dân ở trong đấy mới biết được mấy năm qua ở xa lũ giặc thì thổ hào càng lạm quyền lấn lướt. Quan giặc ép thuế cao gấp ba triều đình cũ, và nếu không trả hết thì cũng sẽ đến lượt những ông thổ hào bị đem ra xử tội. Nói cho công minh thì chính họ cũng bị đòn roi ép phải uống máu dân, nhưng giờ có luận kỹ đến đâu cũng không trả lại được mạng của biết bao con người.


Những người ở lại vẫn phải lo cày cấy, lo kiếm ăn đến kiệt quệ thể chất lẫn tinh thần. Kết quả là, ngôi chùa linh thiêng bậc nhất xứ Mường này sau mấy năm chiến trận đã ám đặc mùi nhang khói. Nếu ngày trước không khí quanh đây chỉ có lấy mùi thơm của nhang đèn, thì giờ đây đã có lẫn thêm trên mái chùa mùi tiền giấy, áo giấy, kiệu giấy và ngựa giấy cháy xém. Vài lần một tháng, trên bãi cỏ phía sau gian phụ lại phảng phất mùi thịt xông khét lẹt – những nắm xương đã từng có chủ – được người thân của họ gửi lên chùa.


Buổi trước, lẫn với mùi nhang còn có mùi hoa, mùi quả, mùi của bộ kỷ gỗ được chà rửa cẩn thận, mùi của những đứa bé thơm sữa lên chơi. Nhưng bây giờ, đến quả trái còn mọc lên không đủ để dân ăn với đóng thuế, thì nói gì đến những mâm oản tròn, những bình hoa ngào ngạt bắt mắt. Dân lo cái bụng mình chưa xong thì sao lo được bụng của thánh thần. Căn chùa lâu ngày không ai lau dọn cũng bắt đầu ẩm mốc, đóng bụi ở mọi nơi ông sư già không hay qua. Các chú tiểu đều đã khăn gói đi xa lánh nạn, trong bụng chỉ có mấy câu kệ thuộc lòng, lời dặn “Phật ở trong tâm” của sư ông lúc đưa tiễn, cùng lời hứa sẽ quay về khi nào thế thời cho phép. Vậy là trong chùa chỉ còn mỗi ông sư ngày ngày niệm kinh cầu an cho đám trẻ, niệm sám hối nếu dân Nam đã có lỡ đắc tội gì với bề trên, và cầu cho dân Nam được trở về sống như trước đây, thuở nước nhà muôn dặm thái bình.


Con mèo vừa bước đến bậc tam cấp, sư ông cũng vừa niệm xong lần thứ năm trong ngày. Hôm nay ông nhàn rỗi, không phải tụng kinh siêu độ cho nhà ai cả. Tụng xong, ông đứng dậy, chắp tay cúi đầu đứng trước bức tượng Phật một hồi thật lâu rồi mới xá mà dẹp kinh mõ. Ông bước khệnh khạng vào gian trong, con mèo vằn thấy vậy cũng nhanh nhảu chạy đường vòng quanh chùa ra tới sau buồng ông ngủ.


Thấy sư ông ngồi lên cái chõng cũ, nó cũng nhảy lên theo. Cạnh ông là một cái khay đựng bộ kiểng trà ưa thích đã đóng bụi từ lâu. Cầm ấm trà lên, ông nhẹ nhàng lau đi, rồi từ tốn rót nước trong bình vào hai cái chén nhỏ, một chén cho mèo, một chén cho ông. Con mèo nhìn vào chén nước của mình mà thấy nước trong veo, ra là ông uống nước lã, chắc ông mới múc từ giếng lên.


  • —Sao? Min (5) từ rày không uống chè nữa, mà để tro củi đó đốt cho dân, mày thấy sao?

Con mèo nghe thấy rồi im lặng, không kêu một tiếng cũng không có cử chỉ gì phản hồi, nó nhìn ông lom lom. Đã từ lâu ông không còn thói quen dùng trà buổi chiều nữa. Chỉ đôi khi, vài tháng một lần khi ông không có việc gì bận mà ông sực nhớ ra mình có thói quen thưởng trà thì ông mới lôi bộ đồ nghề ra mà pha chế. Nhưng cũng từ lâu ông dường như đã quên mất vị của trà, nên thành ra việc ông đổi sang rót nước giếng cũng không mấy khác.


Ông nhìn con mèo một hồi, như là đợi nó uống nước với ông. Chợt, nó nhả từ trong miệng ra cái đuôi nó ngậm nãy giờ lên chõng, làm ướt một vũng lên tấm tre. Miếng thịt nhỏ xíu khô queo sẫm lại, chỗ đứt ra hình như đã mất màu đỏ hồng của thịt tươi. Thế rồi, con mèo dùng một chân dằn một đầu miếng thịt xuống, chân kia thì đệm để giở đầu còn lại lên. Lúc này, con mèo mới cúi xuống nhe răng ra và cạp lấy đầu đang giơ lên, rụt cổ lại và xé miếng thịt nhỏ ra làm hai. Xong rồi, nó nhai nhồm nhoàm thớ thịt vừa xé, nhai thật kỹ, giả vờ như là đang ăn miếng gà nào lớn lắm, dai lắm mà cần phải nhai lâu mới nuốt được.


Sư ông nhìn con mèo lặp lại hành động đó với phần còn lại của cái đuôi, ánh mắt ông lắng đọng nỗi hiềm sầu. Đáng lẽ ra, ông tự nhủ, một vị trụ trì đến tuổi này như ông không nên cảm thấy buồn rầu đến vậy. Nhìn con mèo ung dung thuở trước nay lại gầy trơ xương chật vật săn tìm một món mồi nhỏ, ngấu nghiến một thứ không đáng đem vô chùa cũng không đáng ăn, trong thâm tâm ông nổi lên một cảm giác tội lỗi, với chúng dân, với con mèo ngay trước mặt.


  • —Xem ra bão táp đã quấn bụi hồng vào sân chùa …


Đợi con mèo ăn xong, ông lập tức ẵm nó lên gian chính của chùa tụng kinh sám hối. Sám hối cho cả nó vì tội đem vật ô uế vào chùa, và… sám hối cho cả ông. Những ngày sau, ngày nào ông cũng lấy bớt từ phần mình ra vài ba miếng rau, một hai miếng đậu mà chừa cho nó. Ngày nào ông cũng bắt nó lên gian chính ngồi nghe sám hối…



***



Chạy mãi, chạy mãi, cuối cùng nó cũng đến một nơi thâm sâu, một chốn tịnh yên trong khu rừng rậm. Chạy khỏi những vòm cây phủ kín đầu, trước mặt nó bây giờ có vẻ như là một cái hốc lớn trồi ra khỏi mặt đất – một cái hang!


Chung quanh đây không có lấy một tiếng kêu gì quái dị. Nghe gần chỉ có tiếng dế nhạc đêm, nghe xa cũng chỉ thấy được con cóc, nhái. Đặc biệt rằng, gần đây cũng chẳng có một mùi hương nào khó chịu cả, chỉ một mùi đất ẩm, mùi sương phơi trên cỏ cây, và mùi rêu giăng lên thành miệng hốc.


Trăng đã bắt đầu đi xuống từ đời nào, chẳng mấy chốc nữa ánh vàng kia sẽ nhòa đi, nhường chỗ cho ánh bình minh chiếu rọi. Nhưng con mèo không đợi được tới lúc đó, vì tới khi mặt trời mọc, khu rừng sẽ bắt đầu sống dậy. Chim chóc sẽ líu lo, thú rừng sẽ đi lại nhiều không kể xiết. Điều con mèo vằn cần là một chốn nghỉ ngơi cho riêng mình mà không bị điều chi quấy rối. Vậy nên nó đánh liều một phen mà bước vào hang thẳm…


Nơi đây cũng không quá sâu, nhưng đủ tối để ngủ. Gọi là cái hang, nhưng bên trong cũng chỉ vừa đủ rộng để con mèo có thể nằm yên, duỗi thẳng mà không vướng víu gì. Nền hang là đá, trần hang cũng là đá, một chỗ ngủ như vầy chắc là sẽ không lo sợ bị con gì đấy đào đất chui lên đâu nhỉ? Trong này cũng đủ mát do có đám rêu hút nhiệt, nhưng cũng đủ ấm để cho con mèo không lo rét lạnh buổi đêm xuống hay thu sang. Một chỗ ở không thể chê vào đâu, trước mắt là như vậy…


Con mèo bước vào hang với điệu bộ rã rời, xoay người lại hướng mặt ra cửa, nó thở phào khi cuối cùng cũng tìm được một chốn an thân. Cả đêm hôm nay của nó toàn là chạy với leo trèo, sợ hãi cũng đã đủ, làm cho nó chẳng thèm sụt sùi nữa. Nằm trong cái hốc êm êm, cọ thân vào tường đá mát lạnh, nó suy nghĩ về cuộc đời nó từ nay về sau sẽ ra sao, sống như thế nào. Có lẽ từ nay, mỗi sáng nó sẽ đi bới sâu, tìm bọ, trưa nó sẽ hái lá, ăn quả, chiều về tập bắt cá bên bờ suối gần đây, tối tối nó sẽ lại vào rừng tìm chuột mà ăn. Phải tìm, phải bắt, nếu không là sẽ đói mất thôi. Rồi ngoài ra, những lúc nào rảnh rỗi, nó sẽ lại về đây ngủ, nó sẽ chỉ ở yên một chỗ và đợi các chú tiểu trở về.


Họ sẽ đi tìm nó, chắc chắn là như vậy! Rồi họ sẽ đưa nó về chùa, cuộc sống nó sẽ lại như trước đây, có Mẹ, có sư ông, có các chú tiểu đùa chơi, có người dân lên chùa viếng nó. Người dân, họ sẽ mặc những bộ áo đẹp nhất, mỗi tháng đôi lần lên chùa khoe áo, họ sẽ có đủ ăn, đủ nhiều cá thịt để dành cho nó. Ngôi chùa sẽ trở nên khang trang trở lại, sân chùa sẽ có người quét thường xuyên, những dĩa bánh, trái, xôi, thịt sẽ lại đầy những thức thơm tho ngon miệng, không khí sẽ trở lại mùi hương quen thuộc ngày nào. Sư ông sẽ lại uống trà, Mẹ nó sẽ lại hát ầu ơ, nó sẽ lại ngủ dài dài mà không cần lo đến những câu niệm kinh chú… Như câu sám hối sư ông niệm nó nghe hằng ngày, những câu ông niệm đã nhiều lần.


Nó cũng buồn ngủ, nó nghĩ rằng nếu nó lặp lại lời ông, có lẽ nó sẽ ngủ dễ hơn. Và nó cố gắng nhớ lại từng chữ từng câu, niệm niệm trong lòng, cho tới khi nó lại chìm vào giấc mộng say nồng…



***



Sám hối… Sám hối là ăn năn nhận lỗi, sửa lỗi, cho mình và cho kẻ khác…


Nó nhớ lại, một lần trong mơ, Mẹ nó đã kể cho nó nghe một chuyện gì đó.


Đã có lần, Mẹ chạy trốn khỏi giặc, Mẹ suýt nữa đã bị một “con mèo” phát giác.


Cả đoàn thuyền gồm những vị thân vương, hoàng tộc, những công chúa, vương tử, quân chúa, cung nhân,… Chỉ duy những tướng lĩnh, những vị có khả năng cầm quân đánh giặc mới bỏ đi xa.


Con thuyền xuôi về Nam, đêm ngày xuôi chảy trên những đoạn sông quanh co, khúc khuỷu nơi sông Đáy. Con thuyền đi ra cửa biển, rồi lại ngược vào dòng sông Mã, cốt mong hoàng tộc được cập bến đến chỗ trú thân an toàn…


Nhưng, trong số những người hầu kẻ hạ chẳng may số kiếp bị tóm lại tại Thăng Long, có một tên sợ chết đã khai ra tuyến sông nơi thuyền chuẩn bị dong tới.


Tên đó chẳng qua là một người đã theo hầu Mẹ nhiều năm…


Chớp lấy được thông tin, đám giặc cho tàu phục kích bến sông kia, truyền lệnh bắn hạ buồm thuyền, đốt chèo, bắt bớ hoàng tộc nhằm giữ con tin, ép các tướng phải quy phục. Kế hoạch giấu người của triều đình suýt nữa đã đổ sông đổ biển, hàng loạt mạng người trong và ngoài tộc suýt nữa đã buông xuôi.


Quân lính trên thuyền chỉ phát hiện ra âm mưu của giặc khi chỉ còn cách điểm hẹn của ta chưa đầy một dặm.


Hoàng thân, người phải lên thuyền nhỏ bỏ trốn, người phải đóng giả thường dân, trong đó có ta là phải chạy lên tận cao sơn lẩn tránh. Cả một toán binh vì bảo vệ chúng ta mà ngả rạ, những mạng người lẽ ra đã không chết. Chỉ vì một kẻ ngẩn ngơ…


Nhưng con, con ngoan như một đứa trẻ bụ bẫm đòi Mẹ. Con khác hẳn với thân phận con từng là. Con ngủ mà chẳng khi nào quấy khóc, con ăn uống dễ tính không đòi hỏi một chi.


Mẹ ước gì có thể để con lại đây cho Mẹ ẵm bồng. Nhưng con ơi, kẻ kia đã trót gây tội phản trắc giữa lúc binh đao, nên giờ đây khi nước nhà nổi phong ba lần nữa, tới lượt con lại phải chịu đoạ đày.


Nghe lời ta, kiếp này còn phải đền công chuộc tội. Con yêu của ta không chỉ nợ trời Nam một toán lính, hay vài người trong đế tộc. Kiếp trước, con nợ người đời niềm tin, tấm lòng trung hậu, kiếp này con lại nợ người ta ân tình, nghĩa cử. Con nợ chúng sinh một ngôi nhà, một gia đình; nợ gia đình tình yêu thương sưởi ấm; nợ núi non suối bể từng bữa ăn; nợ nơi cửa từ sự cưu mang, đùm bọc. Người ta từng đòi bắt con phải trả nghiệp quả này bằng máu, bằng hàng triệu năm trời khổ sai, cực hình nơi u ám. Nhưng Mẹ vì không chịu nổi cảnh tượng đứa con mình yêu mến một phút khờ dại mà phải chịu biết mấy đau thương, dù sao Mẹ và người trong họ cũng đã sống, nên Mẹ đã xin cho con được lấy công chuộc tội.


Sắp tới đây, có một nghĩa quân sẽ nổi binh ngay tại vùng núi này, thủ lĩnh của họ sẽ nhờ ơn con mà tránh được đại nạn, dựng nên một thời đại mới mà dân ta được trăm họ thái bình. Đấy là “nghĩa phận” của cuộc đời con, là thứ “nghiệp quả” mà con phải gồng gánh. Nghe lời ta, hãy hằng ngày khấn nguyện cho bách thế bình an, cho những ai đã từng yêu thương con được sống lại ngày nước nhà chưa mất, cho những ai con đã gây thù buông bỏ được oán hận còn vương. Còn con, đau đớn thay con sẽ sống một cuộc đời lang bạt, gió sông thổi mạn phù trầm. Nhưng ta sẽ luôn bên cạnh dõi theo con, những mong con ngộ ra được một đôi điều mà cải phận, ta hằng đợi ngày con trở về…



Vừa nói, Bà vừa vuốt ve con mèo nhỏ, đó cũng là lần cuối trong mơ nó gặp Bà…


Không lâu sau, cả một vùng núi Mường rộ lên tin có kẻ phất cờ đòi đánh giặc. Thông tin chưa được nửa tháng đã lan tới kinh đô, ai ai trong toàn cõi nước Nam cũng đều hay biết. Chủ tướng giặc hay tin đã sai một toán binh dẫn theo chó săn lùng sục khắp cả núi rừng. Chúng ráo riết truy tìm ngày đêm, kiếm cho ra nơi quân ta tập kết. Quả nhiên, một đội quân mới lập sao mà chọi lại được với những tên lính tinh nhuệ. Ngay trận đầu tiên mà quân khởi nghĩa đã phát rút binh, rời bỏ căn cứ rồi tìm nơi ở mới.


Trong một lần truy lùng, chủ tướng bên ta đã bị phát hiện, bèn phải lên ngựa mà sống chết trốn đi. Biết rằng không thể cưỡi ngựa đi xa, ông đành phải đánh đường lên một ngọn núi nhỏ, trên núi có một ngôi chùa, nghe bảo rất linh thiêng, để cầu cho quân ta thành công đánh giặc.


Leo lên đến cổng chùa, ông xuống ngựa, dẫn ngựa vào sân trong giấu kỹ. Chẳng thấy ai, ông nhanh như cắt chạy vào chánh điện mà thắp một nén hương khẩn cầu. Vái lạy xong, ông lại chạy sang miếu, lần này là cầu cho bản thân ông được toàn mạng trở về với nghĩa binh. Sư ông trụ trì chùa bước ra, hai bên chẳng nói một lời. Chỉ nhìn ánh mắt sắc nhọn mà thảm thiết của tướng ông, thì sư ông đã gọi ông vào buồng trong để trốn. Con mèo vằn ngơ ngác nhìn lại.


Chỉ một lát sau, đội kỵ binh cùng đám chó săn đã đuổi đến tận sân chùa, con nào con nấy cũng ngoe nguẩy cái đầu. Mùi lam chướng ở nơi đây thực nặng nề, lẫn với cả ám khí dây dưa, làm loạn hết cả khứu năng của chúng. Dấu vết của chủ tướng nghĩa binh xem như đã đứt, nhưng đám lính kia coi chừng cũng chẳng chịu về. Những tên lớn họng nhất hô to lên tìm người đang truy nã, sư ông không còn cách nào ngoài việc bước ra và đối chất với chúng. 


Trong buồng, con mèo vằn ngồi co ro sợ hãi, nó chẳng thể hiểu được chuyện gì đang diễn ra ở trong sân nhà nó. Cả một đám người ba trợn cùng một bầy thú dữ, chỉ cần nghe tiếng gầm gừ của chúng là nó không còn dám kêu mẹ. Nó ngồi dưới gầm giường, nhìn cái ông đang ngồi với nó, hai cặp mắt sắc dường như đang cùng biểu lộ sự hồi hộp, dẫu lưng rưng nuôi cái hy vọng nhỏ bé. Ông tướng nín hơi cho bầy chó săn không nghe thấy, nhưng con mèo vằn sợ hãi lại bắt đầu thở dốc, nhịp thở nhanh lên. Trong một đời lên voi xuống chó, dù là mèo nhưng nó cũng đã mất đi không biết bao nhiêu là thứ quan trọng. Cái ăn, cái ở, cái sân nắng ấm ngày quang, những bữa ăn no nê thơm ngát, những người nó yêu dấu nhường nào. Đến Mẹ nó đã lâu cũng chẳng màng vỗ về nó nữa. Giờ đây, nó nghĩ mình chắc sắp mất đi cả sư ông, nếu như lũ chó săn kia nổi tợn, chắc nó cũng sắp mất luôn cả ngôi chùa – cái chốn duy nhất cưu mang nó từ đó đến giờ. Nó nhìn tướng ông, đáy mắt đỏ lên như muốn tâm sự ngàn lời, muốn tuôn ra ngàn câu tỏ tường những phức cảm nơi đáy lòng. Nhịp thở nó nhanh dần, nếu không cẩn thận đội chó săn có thể nghe thấy bất cứ lúc nào.


Thấy vậy, ông tướng kia lập tức bế nó lên ôm trọn vào lòng. Những cái vảy trên tấm giáp của ông tựa vào thật lạnh lẽo, nhưng hai cánh tay ông lại ấm áp biết bao! Bàn tay ông lại gãi đầu, vuốt lưng, vuốt chân, rồi gãi ức, lâu lâu lại lắc nó một cái nhẹ. Nhịp vuốt ban đầu nhanh, vụng về, nhưng rồi cũng dần chậm lại, nhẹ nhàng từ tốn. Hơi thở của con mèo cũng chậm dần theo. Gác đầu trên khuỷu tay của ông tướng, đôi mắt nó cũng bớt trợn đi mà lim dim… nó cảm thấy như Mẹ vừa vuốt nó lần nữa.


Bỗng nhiên, bên ngoài có tiếng người la toáng!


  • — Bầy chó nó dẫn cho choa vào đây! Ấy khỏi hồ nghi gì nữa! Hắn hẳn ở trong này! Quý thầy dẫu không cho thì mặc thầy, choa những đi tìm hắn mặc choa!

Kế đó là tiếng van nài của sư ông, cùng với tiếng vó ngựa, tiếng sủa, và tiếng giáp sắt lỉnh kỉnh xông vào. Ông tướng ngồi yên không động đậy, ôm chặt lấy con mèo. Hai bàn tay ông cứng đơ ra như hóa đá, nó ngước lên nhìn ông, ai mắt ông trừng trừng nhìn ra vô định.


  • — Bẩm báo, đã thấy ngựa hắn trốn sau căn miếu!


Nó nghe được từ xa tiếng ngựa hí vang trời, cùng tiếng chó sủa kinh hồn. Ông tướng hít vào một hơi mạnh, mồ hôi đổ ra nườm nượp, con mèo cũng sụt sùi theo.


Chợt, nó vẳng một bên tai lên nghe, hình như có ai đang gọi nó.


  • — Mão!

Cặp mắt nó láo liên, như đang tìm nguồn cơn của giọng nói, giọng một người đàn bà.


  • — Mão! Chạy đi con, chạy ra khỏi cửa! Chạy thật xa khỏi đây!

Người nó ngay ra khi nghe một giọng nói đã lâu nó chưa nghe lại. Đúng! Đúng là giọng của Mẹ! Đã quá lâu kể từ lần cuối nó mơ thấy Mẹ nó, tới nỗi nó phải dừng lại vài giây để định hình xem phải thực là như thế không. Đó giờ nó chỉ mới nghe Mẹ gọi trong mơ, mà bây giờ đang tỉnh mà vẫn nghe Mẹ nói. Nó vui sướng cực. Nhưng, Mẹ vừa bảo nó làm gì? Chạy? Chạy đi đâu? Làm gì? Nó không biết.


Chợt, nó đứng dậy ngoái đầu nhìn quanh. Giấc mơ lần cuối gặp Mẹ? Có phải không? Nó sẽ phải… “gồng gánh nghĩa phận”, “cầu khấn nghiệp quả”,… gì gì đó? “Có một ông thủ lĩnh sẽ ghé qua”… Tiếng vó câu tiến lại càng gần. Ông tướng kia đương dòng suy nghĩ, chợt thấy nó đứng dựng lên cũng giật mình nhìn nó. Điệu bộ nó hoảng hốt, quay qua quay lại như đang lượng tính điều gì, làm cho ông không khỏi thấy lạ lùng.


Đột nhiên, tiếng một con chó vang lên sát vách, kinh động cả người lẫn vật trong buồng. Tức thì, con mèo quay ngoắt lại nhìn ông với một vẻ điềm nhiên như thể nó không còn là nó, rồi nó phóng một mạch thẳng ra cửa buồng, chạy như chẳng có gì có thể tóm được.


Ngồi trong lòng ông tướng một hồi lâu, được bàn tay nhễ nhại mồ hôi của ông vuốt ve khắp người, toàn thân nó bây giờ thấm đẫm mùi hương ông, cả mùi của bộ giáp sắt. Bầy chó nghe tiếng động, ngửi thấy mùi mà không thấy ảnh liền tất tưởi chạy theo, cả toán lính ồ ạt đuổi theo dấu kẻ chúng nghĩ là tên chủ tướng. Nó cứ chạy, chạy nhanh hết sức bình sinh, nó cứ chạy mặc đám chó săn kia có bắt được nó hay không, chạy mãi đến cuối khung trời chuẩn bị dông bão. Còn người chủ tướng thật ngồi lại trong buồng, trơ ra một lúc, ngẫm nghĩ lại chuyện vừa xảy ra…



***



Buổi sáng tới, mặt trời sớm rọi lên tán những cây cao và trên thảm cỏ. Con mèo vằn nằm yên, chẳng buồn thức dậy, cho tới khi giọt sương đầu tiên trong ngày lăn xuống từ trên lớp rêu, nhỏ giọt xuống ngay trên mi mắt nó. Nó ưỡn người rồi lại nằm đó, mở mắt nhìn ra phía ngoài. Ngoài cửa hang, cây cỏ xanh tươi tốt, sương còn đọng trên đám cỏ thổi vào hang một luồng hơi mát rượi.


Nó lách người chui ra khỏi miệng hang.


Nhìn xung quanh, những cảnh vật đáng sợ đêm qua, sáng nay coi mà cũng đẹp đẽ lạ thường. Bầy chim trên cao chuyền cành, hót líu lo những câu quấn quýt. Nắng nhẹ dịu óng ánh trên lớp cỏ cây ướt rũ sương đêm. Bầy bươm bướm chập chờn sắc ánh. Khóm hoa mới nở chen lẫn mùi hương, rực rỡ đỏ, tím, vàng.


Chắc rằng từ nay nó sẽ sống như tối qua nó định bụng. Từng ngày một uống suối, ăn hoa, niệm câu duy nhất nó biết. Nhưng nó sẽ nguyện khắc ghi trong lòng mình một nhiệm vụ… đi tìm lại nơi nó thuộc về, dù ngôi chùa đó nó chẳng thuộc tên. Đi tìm nhà, tìm các sư, các tiểu, tìm lại những dân làng yêu thương nó, tìm lại Mẹ.


Vì nó phải sống, sống không phải vì sự tồn tại, mà nó phải sống để trả lại ân tình cho đất trời, cho những người nó hằng yêu mến.



Nhiều năm sau, khi khởi nghĩa đã thành công, nước nhà đã lập ra triều đại mới, người ta lại hay thấy một con mèo vằn, thân to hơn giống mèo bình thường đi qua lại vùng rừng núi giáp ranh Nghệ An – Thanh Hóa. Họ kể rằng nó hay ra suối sông uống nước, rồi lại trở về rừng bới đất, ăn trái hái cây. Người ta nói nó chẳng hề sợ người, mà ngược lại, hễ gặp ai tới gần thì nó cũng coi như không mà tiếp tục những việc nó đang làm dở. Những ai từng tới đủ gần cũng bảo họ không bao giờ nghe nó kêu hay gầm rú như mèo nhà người ta, mà lại nghe ra âm trầm bổng như hát ru, có người còn nghe ra cả tiếng tụng kinh, tiếng cầu khấn. Dạo gần đây số lượt người vào rừng bắt gặp nó đã ít đi nhiều. Những người ác miệng nói rằng cái giống yêu tinh chắc sắp bị trời tru đất diệt. Nhưng cũng có người thiện lành hơn bảo rằng chắc là nó sắp về với Trời thần, cũng như người ta khi trả hết nợ trần thì về với tổ tông…


——————————


(1) Nạ: mẹ.

(2) Bui: chỉ có, duy.

(3) Choa: tao, bọn tao, chúng tao.

(4) Đãn hiềm: chỉ sợ, chỉ e rằng

(5) Min: tao



Bình luận

  • avatar
    Trương Thanh Vân

    Truyện hay lắm bạn, mong bạn tiếp tục cố gắng nhé. Mình rất thích ý nghĩa câu chuyện của bạn. Chúc bạn một ngày tốt lành.

Preview Settings

Try It Real Time

Layout Type
    • LTR
    • RTL
    • Box
Sidebar Type
Sidebar Icon
Unlimited Color
Light layout
Dark Layout
Mix Layout
}