Phương Diên ngồi trên giường, để mở toang cửa sổ, nhìn ra cây liễu. Cửa phòng đối diện vẫn đóng kín, Tạ An chưa về. Hắn nhìn vào đó một thoáng rồi với tay đóng cửa sổ lại, xuống giường, cầm lấy chiếc đèn dầu lạc, bước ra ngoài hành lang.
Thằng Dương đã ngủ. Càng về mùa lạnh, nó càng đi ngủ sớm, thường là vậy. Phương Diên đi vòng theo hành lang, đoạn dừng lại trước cửa phòng Tạ An. Hắn nhìn cánh cửa một lúc, tựa như suy nghĩ điều gì. Hắn chần chừ, nửa muốn bước vào, nửa muốn bỏ mặc, xoay người rời đi. Giả như hắn bước vào đây, có lẽ từ rày về sau sẽ chẳng còn đường lui nữa.
Nhưng hắn đẩy cửa.
Mùi loài người tràn ngập trong phòng. Phương Diên hít một hơi, vẫn là thứ hương liệu cũ kỹ ấy. Độ năm năm trở về đây, đã rất ít kẻ còn sử dụng phương thức che giấu này.
Hắn đi quanh phòng, lướt qua quyển “Hàng yêu lục” nằm im trên bàn, đặt chiếc đèn xuống cạnh đấy. Đoạn, hắn dừng trước giường Tạ An, chống một tay xuống chiếu, cúi mình xuống tấm chăn được gấp gọn nơi đầu giường. Chóp mũi cao thẳng áp vào thớ vải mềm mại, hít thật sâu.
Mùi của Tạ An vẫn còn lưu lại, thấm trong từng sợi tơ mảnh. Thứ hương thơm mà hắn từng quen thuộc nhất, mùi hương của loài chim săn mồi về đêm.
—
Trăm năm trước, tiền triều đi vào hồi kết khiến người người rơi vào cảnh lầm than. Cơn loạn lạc tạo dịp muôn loài yêu ma ác quỷ hoành hành khắp chốn. Dạo ấy, đói kém đến độ mọi kỹ nghệ tinh hoa, thú chơi tao nhã đều suy tàn cả. Chỉ có thuật bắt yêu trừ quái là có vẻ khởi sắc thêm. Nực cười đến nỗi có một vị sĩ phu từng phải thốt lên rằng: “Ngoại trừ yêu quái, rốt cuộc Kẻ Hội này còn có thứ gì khác đáng kể nữa hay không?”
Duyên nợ chăng? Thế gian vốn nhỏ bé, Kẻ Hội so với thế gian thì lại càng bé nhỏ. Âu cũng vì lẽ ấy mà duyên nợ giữa đấy và đây giăng mắc như mạng nhện. Vậy nên ta đâu thể tránh liên can đến nhau mãi được. Tạ An nghĩ vậy, bèn tặc lưỡi cho qua rồi thuận nước đẩy thuyền.
Từ sau bệ thờ, y cất giọng vang vang, nói với Hà Nhật Liễu: “Những kẻ đuổi theo ngươi hiện chỉ tạm thời bất tỉnh. Ngươi nên sớm rời đi.”
Nói đoạn, y rút trong tay áo một tờ giấy đã nhàu, thổi phép đưa xuống tận tay tên thanh niên trước bệ thờ.
Hà Nhật Liễu nhìn bức lược đồ trên tờ giấy bên trên ném xuống, lòng có đôi chút phân vân. Đêm đã khuya, kẻ đã hẹn lại chẳng thấy tăm hơi tung tích, nếu bỏ lỡ sự giúp đỡ này thì e rằng chẳng thể thoát thân. Vả lại nơi này dường như ở ngoại thành, giữa giờ giới nghiêm, nào có thể chạy nổi qua chừng ấy ngõ phường, luồn lách qua được cửa ô để đến quán trọ nọ hay chăng.
Chẳng ngờ “thần linh” lại như thấu được cõi lòng chàng, từ bên trên ném xuống một cái bị lớn làm bằng gấm dệt màu sặc sỡ, rồi lên tiếng:
“Đã giúp thì giúp cho trót. Chui vào đây, ta sẽ đích thân đưa ngươi đến tận quán trọ ấy. Giờ thân ngày mai, nhà ngươi hãy ra đầu phường Vọng Trúc, đi qua cây đa đến đứng đợi ở bờ ngòi. Lúc bấy ngươi sẽ gặp được một kẻ họ Tạ, ngươi hãy tin cậy người này.”
Hà Nhật Liễu vội vàng vái lạy, cảm tạ “thần linh” chỉ bảo. Chàng tặc lưỡi, tự nhủ rằng ta hôm nay đã trót trèo lên lưng hổ, chi bằng cứ liều nốt cho đủ một lần. Về sau cũng chẳng còn có cơ hội được như vậy nữa. Nghĩ đoạn, chàng cầm bọc hành lý chui vào cái túi, xong xuôi liền cảm thấy hẫng một cái. Dường như cả cái túi đã được tẩm pháp thuật, trong thoáng chốc, chàng đã cảm thấy bản thân được nhấc bổng lên không trung.
Về phần vị “thần linh” giả mạo kia, đợi cho Hà Nhật Liễu chui gọn vào túi, y mới hóa phép thu nhỏ cái túi ấy lại. Y nhẩm tính thời gian, hóa hình rồi cắp Hà Nhật Liễu bay đi. Vừa bay y vừa giả giọng ồm ồm: “Nhà ngươi chớ nên mở mắt trước khi ta ra hiệu.”
Hà Nhật Liễu nào dám trái lời. Chàng trộm nghĩ tới kết cục của những kẻ trong tích xưa chẳng chịu nghe lời quỷ thần, rồi quyết định tốt hơn hết là cứ nhắm chặt mắt lại.
Đợi đến khi nghe tiếng “thần linh” văng vẳng truyền tới bảo mở mắt ra, chàng đã ở trước cổng một căn nhà, tường kín bao quanh. Ngó qua khe cổng, thấy bên trong còn vọng ra ánh đèn leo lét.
Chẳng đợi Hà Nhật Liễu gọi đến câu thứ hai, cái cổng đã hé mở. Thấy một bà lão móm mém, tóc trắng như cước, lách nửa người ra, vừa ngó trước ngó sau vừa hỏi: “Nhà anh cần gì?”
Hà Nhật Liễu nhanh tay đưa tờ giấy cho bà già, hỏi: “Chẳng hay bà có còn một phòng trống không ạ?”
Bà già nhìn thoáng qua tờ giấy bèn nhanh tay mở rộng cửa cho tên thanh niên trước mặt, nói:
“Mời anh vào nhà nhanh chân. Giờ này tinh những phường trộm cướp. May cho nhà anh đây. Nhà anh đến muộn một tí thì già tắt đèn đi ngủ mất.”
Bà lão cho Hà Nhất Liễu vào trong bèn đóng cổng cài then, mỉm cười:
“Nhà già còn đúng một buồng trống, không cần chung đụng với ai đâu.”
Bà dẫn Hà Nhật Liễu vào gian nhà bên trái. Lúc xếp sắp xong xuôi cũng canh bốn. Bà lão bước ra ngoài sân, ngửa cái cổ già nua lên nhìn trời đêm mờ mịt. Có lẽ bà lão sẽ không nói với kẻ vừa mới thuê trọ rằng phía trên kia có đậu một con chim lợn, mặt trắng như ma.
—
Sau khi Tạ An cắp Hà Nhật Liễu bay đi, cái miếu hoang lại trở lại im lìm, tối đen như mực. Phép che mắt, bịt tai phủ bên ngoài miếu cũng tan đi. Mấy kẻ bám đuôi bị đánh văng ra bên ngoài miếu ngất hết cả. Dưới đêm đen, chúng nằm lăn lóc. Nếu Tạ An có mặt ở đây, ắt sẽ tả chúng “nom ngoan như đàn lợn con say sữa”.
Kẻ ngồi trên cây án binh bất động, gã hơi chờn khi nhìn thấy cảnh tượng kinh hồn kia. Gặp phải quỷ thần như vậy, thử hỏi kẻ nào có thể bình tâm nổi? Giờ xuống hay không xuống thì khả năng cũng đều chịu quở phạt cả. Lỡ như gã thò chân xuống rồi lại thành ra như mấy kẻ nằm kia. Gã miên man suy nghĩ, vừa sợ quỷ thần, vừa nhớ đến gương mặt cau có đỏ như gà chọi của tay chỉ huy. Dẫu sao đây cũng là nhiệm vụ đuổi bắt đầu tiên gã được giao phó. Nhưng dù sao đi chăng nữa, gã vẫn cần đem những kẻ phía dưới kia về và có lời bẩm báo lại hợp lẽ, nếu không hậu quả sẽ chẳng dừng lại ở riêng gã.
Gã móc ra hai ngòi pháo sáng. Đây chính là loại pháo sáng không tiếng nổ, ban đầu được mấy tay đạo sĩ phương Bắc chế ra, sau được chủ nhân nhập lậu về rồi học làm theo để báo hiệu mật. Gã lấy làm lạ bởi cho rằng có lẽ việc bắn pháo nào lên cũng chẳng “mật” gì cho cam. Chỉ cần kẻ có tâm ngước lên trời, ắt sẽ thấy rõ rành rành là ai đó đã bắn pháo sáng. Nhưng tất nhiên để thể theo lệnh bề trên, đám bọn gã nào dám trái lời. Chắc hẳn chủ nhân đã cân nhắc trăm bề, đâu đến lượt kẻ tiểu tốt như gã ta lo hộ. Giờ đây gã chỉ lo cho số kiếp thân mình.
Theo quy ước, chiếc pháo màu vàng báo hiệu cần chi viện, chiếc pháo màu đỏ báo hiệu nhiệm vụ thất bại. Nhiệm vụ này đã được coi là thất bại chưa nhỉ? Gã cũng chưa dám xuống xem đám đồng đội đã chết hẳn hay chưa. Cân nhắc một hồi, gã quyết định cất cái pháo màu đỏ đi, để lại cái màu vàng. Chỉ cần châm cái ngòi pháo vàng này thì sẽ có thêm người sang xem xét.
Ai dè, lúc định hạ quyết tâm bắn ngòi màu vàng báo tin đòi chi viện, bỗng từ bên gốc cây kia, một tiếng soạt vang lên.
Dưới bóng trăng lờ mờ đang dần ló ra từ đám mây dày, gã tiểu tốt loáng thoáng nhìn được một đám người xuống vây quanh bọn đồng đội của gã. Trống ngực gã đập thình thịch, đồ rằng đám người kia không phải người cùng phe với mình.
Nói chung là để phòng thân, tốt nhất gã cứ nấp trên này, cố sao cho không phát ra tiếng động là được. Chắc chủ nhân cũng chẳng thèm xử lý gia quyến của một tiểu tốt như gã. Nếu không thì hẳn phải xử lý nốt gia quyến của cả chín tên nằm dưới kia. Gã toát mồ hôi, nhớ đến vợ và đứa con trai năm tuổi ngốc nghếch ở nhà. Ta phải nghĩ cách tâu với bề trên sao cho thật hợp tình hợp lý thôi. Gã vừa nghĩ thế, vừa cố thở thật khẽ cho đến khi nhìn đám đồng đội bị khuân đi sạch.
—
Sau khi đã tận mắt nhìn Hà Nhật Liễu đi vào nhà trọ, Tạ An bèn vội cất cánh bay đi ngay. Chủ quán trọ kia chẳng ai khác ngoài bà già bán nước dưới gốc đa, cũng chính là người đã chỉ điểm cho y về chuyện ở phường Vọng Trúc. Nếu y không nhầm, Hà Nhật Liễu sẽ được yên lành ở đây trong khoảng mười ngày tới. Chừng đó là đủ, y nghĩ vậy rồi yên chí bay thẳng một đường trở lại cái miếu hoang.
Cả đi cả về chỉ mất có một khắc thời gian. Theo như y tính lúc ra chiêu đánh ngất đám người áo đen đuổi bắt Hà Nhật Liễu, tác dụng của bùa phép lúc này sẽ hết, đám người ấy sẽ vừa hay thức dậy. Tạ An ân nhắc trăm bề, nhưng mọi chuyện nào có suôn sẻ như y đã tính.
Đám người kia đã hoàn toàn biến mất. Không, đúng ra là bị dọn đi sạch sẽ trước khi y trở về.
Trăng hôm nay chưa tròn, trên mặt đất chỉ còn vương lại chút màu sắc vụn vỡ. Tạ An thấy có đuổi theo cũng không làm được gì nhiều, bởi vệt màu ấy rồi cũng nhanh chóng mờ dần và tan biến. Nhưng nhìn theo hướng di chuyển ấy, ắt hẳn là đám người kia được đưa trở về phủ Trưởng Công chúa. Đoạn Tạ An lại xoay đầu tìm kiếm xung quanh, chợt thấy trong bóng cây có một bóng đen hãy còn run lẩy bẩy.
Gã tiểu tốt tụt xuống khỏi cây, hướng về phía cái miếu vái mấy vái, miệng vẫn còn lẩm bẩm mấy câu “cầu xin thần linh tha tội”. Bất chợt thấy một luồng sáng xanh lại bay về phía đây, gã tiểu tốt sợ hãi ôm đầu, bò rạp xuống mặt đất. Nhưng cũng chẳng hề có đau đớn như trong tưởng tượng, mà bên tai chỉ văng vẳng giọng nói ồm ồm:
“Nhà ngươi là ai, mau khai danh báo họ! Tại sao dẫn người đến phá hoại miếu ta?”
Tên tiểu tốt xem chừng sợ hãi, cũng chẳng kịp suy nghĩ thấu đáo cứ thế tuôn một hơi:
“Dạ bẩm thần con là Nguyễn Văn Ất. Con chỉ nhận lệnh chủ nhân đuổi bắt người thôi ạ. Không ngờ hắn ta chạy vào đây… Chứ con thề, con nào dám mạo phạm ngài. Xin thần minh xét cho con với!”
Gã vừa nói vừa ngẫm đến cái số kiếp của bản thân. Từ nhỏ đã bị bán làm nô bộc cho người ta, vợ con cũng chung kiếp ở đợ suốt đời. Nay làm nhiệm vụ thì bất thành, mà lại vướng phải chuyện mạo phạm quỷ thần, đúng là không còn đường sống. Nghĩ đoạn, gã bèn òa khóc: “Con còn vợ dại con thơ. Lần này nhiệm vụ không thành mà con lại chết đi thì vợ con con chắc chẳng còn đường sống!”
Nhìn kẻ trước mặt khóc lóc quằn quại, Tạ An cũng có chiều chẳng nỡ. Dẫu sao tiện tay giúp người cũng là giúp chính ta vậy. Nghĩ đoạn, vị “thần linh” lại cất giọng, lần này thoáng chút hiền từ:
“Nhà ngươi đừng khóc. Bình tâm kể ta nghe, ta sẽ giúp cho. Chủ nhân nhà ngươi là ai? Nhà ngươi đang đuổi theo ai?”
—
Tạ An bay trở lại hiệu thuốc sau khi giải quyết êm thấm vết tích nơi miếu hoang. Y để tên tiểu tốt bắn pháo sáng cầu chi viện rồi làm phép cho gã lăn ra ngất, hiện trường cũng bị đảo lộn như vừa xảy ra đại chiến. Như vậy cũng coi như một lời giải thích hợp lẽ tới vị “chủ nhân” kia.
Vị “chủ nhân” kia… Nay lại thêm vị “chủ nhân” kia…
Tạ An thầm điểm lại những manh mối vừa nhặt nhạnh được mấy hôm nay. Trưởng Công chúa mong muốn có thai, những vụ sảy thai quanh Phủ của bà ta, kẻ đào tẩu, những tranh đấu triều đình, hết Trưởng Công chúa giờ lại đến vị “chủ nhân” của tên Ất. Nhưng càng liệt kê lại càng thấy rối. Liệu trong mớ tơ vò ấy thứ gì thật sự liên quan đến điều y đang tìm kiếm? Bất giác, dòng chữ “Phụ nhân mắc chứng vô sinh, bắt lấy trứng loài yêu quái này nấu ăn, tức thì có thai” trong cuốn sách nọ lại hiện lên rõ mồn một trước mắt, như cứa vào lòng y một nhát. Tạ An vội lắc đầu, y cần bình tâm lại. Lắng lo nhiều cũng chẳng giải quyết được điều gì. Y buộc mình thôi cả nghĩ, dồn mọi quan tâm trở về thực tại.
Tạ An khẽ khàng đậu xuống cây liễu, ngước lên mảnh trời sau ô giếng, trăng cong như lưỡi liềm đã khuất sau mái ngói. Nếu thằng Dương thức dậy vào giờ này, hẳn là sẽ sợ hãi lắm. Tạ An tưởng tượng ra gương mặt trắng bệch, không còn giọt máu của thằng bé, chợt thấy buồn cười. Một kẻ như vậy lại sống ở đây.
Y nhìn về phía cửa phòng Phương Diên, bên trong đã tắt đèn, từ đây nghe thấy tiếng thở đều đều, chắc hẳn kẻ bên trong đã say giấc nồng. Tạ An bay xuống trước cửa phòng mình, vừa vẩn vơ suy nghĩ vừa vô thức thi triển phép thuật. Y lơ đễnh vươn vai thu cánh, đầu óc như treo trên mây, nhưng động tác thuần thục, chẳng mấy chốc đã biến lại hình người. Tới lúc hóa hình xong xuôi, thì y mới giật mình tỉnh hẳn, nhận ra mình vừa lỡ làm gì.
Y biết thuật biến hình này của y có một khuyết điểm, ấy là phát ra ánh sáng. Tuy rằng không quá sáng, những vốn dĩ y phải cần thận chui vào chỗ kín. Cơ mà hôm nay… Y nhăn mày, tặc lưỡi, dù sao cũng đã trót, nào có thể thay đổi.
“Mà mấy tên trong nhà hẳn là đã ngủ say cả.” Y tự an ủi mình như thế, rồi chắc mẩm. “Chắc chẳng đứa nào thấy ta đâu. Vả chăng đêm nay đã xảy ra nhiều chuyện nhường ấy, chắc ta không đen đến mức bị tên nào tỉnh dậy giữa nửa đêm bắt gặp đâu nhỉ?”
Nhưng sự thật đã chứng minh “họa vô đơn chí” nào chỉ là một câu nói đùa.
“Đẹp tuyệt đấy Cống sĩ ạ.” Một giọng nói thình lình vang lên phía sau Tạ An.
Hắn giật mình, quay ngoắt lại. Trước mặt hắn, Phương Diên đã đứng đó tự lúc nào, khóe môi cong lên, dường như chẳng hề hãi sợ.



Bình luận
Đại Bông
Dừng ở đoạn này để người ta giục chương cũng hợp lý đấy tác giả ạ. Thế chương sau đâu?