Con chim lợn với bộ lông trắng xám khẽ đậu xuống đỉnh ngọn Từ Thiên bảo tháp. Ngọn tháp cao mười hai tầng sừng sững, đứng lặng yên bên dòng Lưu Tích, chứng kiến ba trăm năm suy thịnh của chốn kinh kỳ. Long Đô này đã trải qua biết bao nhiêu cuộc bể dâu, chịu nào lửa cháy, nào giặc giã. Mỗi lần triều đại đổi thay, lớp dân cũ tản đi, lớp người mới lại tụ về. Dần dà, chẳng còn lại gì của Long Đô hơn ba trăm năm trước, kể cả tòa tháp này cũng thay hình đổi dạng, so với hồi mới được dựng thì quả thật khác xa.
“Liệu Long Đô này có đúng là Long Đô ta từng biết hay chăng?” Con chim tự hỏi mình một câu thật khó trả lời. Đoạn, nó xoay đầu, gạt bỏ ý nghĩ vô bổ ấy sang một bên, tránh cho bản thân chìm đắm sâu hơn mà nản lòng thoái chí.
Đôi mắt đen tuyền nhìn xuyên qua bóng đêm, bao quát toàn bộ khung cảnh nơi Kẻ Hội. Kinh thành đang chìm trong bóng tối, giờ giới nghiêm đã bắt đầu từ lâu. Giờ cả tòa thành chỉ lác đác vài điểm sáng. Điểm thứ nhất là từ phía hoàng cung, thứ hai là từ phía phủ Bảo Quốc Trưởng Công chúa.
Con chim cất cánh rất êm, hầu như chẳng hề phát ra lấy một tiếng động mà hướng về phía điểm sáng thứ hai.
Nó bay vòng phía bên trên tòa dinh thự này, bắt đầu quan sát kỹ. Bao bên ngoài tường là một hào nước sâu. Phía nam là cổng chính sâm nghiêm đóng im lìm, phía ngoài và trong có hai tay lính gác. Ngoài ra còn có 4 cửa phụ, mặt tả và hữu mỗi bên một cửa ngách, mặt sau trổ thêm hai cửa hậu, tất cả đều được canh giữ cẩn mật. Nhưng nếu chỉ có vậy thì con chim đã lập tức hạ cánh xuống chính đường trong tòa dinh thự này.
Điều quan trọng nhất là phía bên trên phủ Bảo Quốc Trưởng Công chúa có một lớp kết giới vô cùng phức tạp. Đừng nói là mấy con yêu ma quỷ quái còn non, ngay cả những đứa tu luyện vài trăm năm cũng đừng hòng bén mảng. Trừ khi được chính vị Điện hạ trong kia mở cửa cho vời, còn không thì đây đúng là một tòa phủ đệ nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Quanh tường có một mép đất hơi lồi ra ngoài hào nước, phía trên đủ cho một bụi cỏ dại mọc hoang. Con chim nhìn quanh một hồi, dù hơi nghi hoặc cũng thử sà xuống bụi cỏ ấy. Dẫu sao đã đến tận đây thì cũng phải kiểm chứng thử một phen. Những bụi sáng màu xanh lục bay ra, bao lấy con chim. Hai cánh được thu lại, thân mình ấy nở to, biến đổi thành dáng hình của con người.
Kẻ vừa hóa hình người đương nhiên chẳng phải ai khác ngoài Tạ Cống sĩ của chúng ta. Mà thật ra y cũng chẳng nói láo, y đúng là Cống sĩ thành Hoài Giang năm nay đấy. Chẳng qua, đó lại là một câu chuyện dài, có lẽ để hồi sau kể thì hơn.
Tạ An đã dụng thuật ẩn thân. Ẩn thân gồm hai phần: che mắt và bịt tai. Bịt tai là sở trường của y, còn che mắt thì không phải, chính vì vậy cũng phải tốn kha khá pháp lực. Nhưng cẩn tắc vô áy náy, để đề phòng thì dẫu có tốn sức vẫn nên làm.
Ban ngày, việc tiếp cận phủ Trưởng Công chúa gần như thế này quá đỗi nguy hiểm, có giời mới biết vị Điện hạ kia sai phái bao nhiêu người theo dõi nhất cử nhất động quanh đây. Thuật che mắt của y vào ban đêm đã tốn nhiều pháp lực, ban ngày thì đúng kiểu như bỏ muối vào hồ nước, vô cùng tốn sức. Đương nhiên y cũng chẳng thể làm như người đi đường mà đứng quá xa, bởi việc kiểm chứng vốn phải làm càng gần càng tốt.
Tạ An ổn định xong xuôi bèn móc con rùa gỗ ra khỏi tay áo, hồi hộp mở nắp. Hi vọng là cái kim sẽ ổn định lại và chỉ vào bên trong.
Nhưng rõ là trời chẳng chiều lòng yêu quái.
Cái kim vẫn quay. Thậm chí còn quay tít thò lò.
Lần đầu tiên trong suốt bốn trăm năm trở lại đây, Tạ An có mong muốn ném vỡ một thứ gì đó tới vậy. Y nén cái cảm giác muốn đập nát cái la bàn, ép mình suy nghĩ cẩn thận hơn. Chợt, y ngước lên nhìn cái vòm kết giới đang tỏa ra ánh vàng rất nhạt. Có lẽ cũng không hẳn là phí công vô ích, ít nhất y cũng đã xác định được điều gì đã khiến chiếc la bàn của y xoay vòng.
Tạ An định bụng sẽ hóa hình rồi chuồn êm. Ngày mai y lại đến nhà của tay thầy thuốc họ Phạm nghe ngóng một phen.
Bỗng từ bên trong lớp tường dày truyền ra tiếng động rất khẽ. Tạ An lắng tai nghe, đây là tiếng bước chân, mà lại rón ra rón rén, không phải của đám lính đi tuần. Y nghi hoặc nghĩ, giữa đêm hôm khuya khoắt chẳng lẽ lại có kẻ lọt được vào phủ Trưởng Công chúa?
Thấy bất ổn, y bèn lập tức cất cái la bàn vào tay áo. Đoạn rút người nhỏ lại, biến thành hình chim, toan bay đi. Ai dè chưa kịp cất cánh thì “phịch” một cái, y đã bị một cái gì đấy từ trên trời thả xuống đập trúng người.
Tạ An vừa cáu tiết, vừa bất lực, đành nằm bẹp dí giữa cái vật thể ấy và mặt đất. Thầm nhủ, cũng may là ta tu luyện mấy trăm năm, cỡ này còn chịu được, chứ nếu là mấy con tiểu yêu, chắc là bị đè cho be bét rồi. Nhưng nhờ thế, Tạ An mới kiểm chứng thêm được một sự lấn cấn trong lòng: cái mỏm đất này đúng như y đoán, chỉ tổ cho lũ trộm cắp hành nghề chứ còn gì nữa.
Y vừa nghĩ, vừa tòi được một cánh và một chân ra khỏi cái bị phía bên trên. Ai dè, lúc sắp ngoi ra, thì lại “phịch” thêm phát nữa. Kẻ đào tẩu giờ mới từ bờ tường cao đu dây nhảy xuống, đè lên cả cái bị lẫn Tạ An.
Tạ An chửi thầm trong bụng. Suốt mấy trăm năm kể từ ngày hóa hình người, đã rất lâu rồi y mới lâm vào tình cảnh khốn nạn như thế này. Cũng may kịp hóa hình chim, không thì quả là rắc rối to rồi đấy.
Kẻ đào tẩu loay hoay đứng dậy, nhấc cái bị lên. Đúng lúc ấy, ánh trăng bị một quầng mây lớn bay qua che kín. Trong bóng đêm, kẻ ấy dường như cũng chẳng thèm để tâm đến con chim nằm bẹp. Tạ An được giải thoát bèn đứng dậy xoay cổ một vòng cho giãn gân cốt, đồng thời ngoái nhìn xem tên kia định đào thoát thế nào.
Kẻ đào tẩu chẳng ngờ là một thanh niên chớm hai mươi, gương mặt cũng gọi là tuấn tú, nhưng hãy còn vương nét trẻ con. Dường như đã có chuẩn bị trước, kẻ ấy để cái bị lên cái nón mục đồng rồi ròng dây rả xuống mặt nước, đoạn bèn nhẹ nhàng thả mình xuống cái hào nước sâu.
Nếu Tạ An trong hình dạng con người lúc này, chắc hẳn y sẽ nhướng mày, đảo mắt mà tán thưởng: “Nhà ngươi thật là dũng cảm.” Tạ An nhìn sâu xuống đáy hào, thấy lúc nhúc những thủy quái kỳ dị, đồ rằng toàn được nhập về từ ngoại quốc. Chỉ có điều giờ y hãy còn trong lốt chim, không đảo mắt được dù một chút.
Cứ thế, hắt dán đôi mắt đen tuyền về phía tên kia, hồi hộp như theo dõi một vở diễn mới. Y chờ đợi một tiếng quẫy nước, một tiếng thét và một màn cắn xé.
Nhưng chẳng có vụ tấn công nào xảy ra với kẻ đào tẩu, cũng chẳng có dấu hiệu cho thấy y bị trúng độc. Kẻ ấy nhẹ nhàng đẩy nón, bơi qua bờ hào bên kia.
Tạ An nhìn sâu xuống lòng sông, rồi lại nhìn cái bóng vừa chạy biến đi. Đoạn bay vút, đuổi theo kẻ đào tẩu.
—
Kẻ đào tẩu thoát khỏi phủ Trưởng Công chúa, vội chạy lẩn vào một cái miếu bỏ hoang. Chàng ta biết, tầm này giờ giới nghiêm, nếu để bị bắt được thì lại lôi thôi.
Ngôi miếu hoang này nằm không xa phủ Trưởng Công chúa. Thời nay Đạo giáo ở vào thế lụi tàn, nhưng thời tiền triều lại rất thịnh. Đạo quán lớn nhỏ, đủ các loại miếu mọc lên khắp chốn. Chiếc miếu hoang này âu cũng là tàn tích từ thuở tiền triều, bản triều chưa kịp thu hồi xử lý. Đương nhiên, việc chậm trễ này ắt còn có nhiều lý do lắt léo ngấm ngầm. Nhưng đó lại chẳng còn là điều mà Hà Nhật Liễu quan tâm vào lúc này.
Hà Nhật Liễu, phải, đó là cái tên kẻ đào tẩu vừa mới tự đặt cho mình. Một cái tên để tiện hành tẩu giang hồ sao cho vừa mơ hồ, vừa nổi bật. Hà Nhật Liễu, ngày nào kết thúc? Ngẫm ra quả là tuyệt cú.
Chàng lần mò trong bóng tối, mở bọc hành lý ra, choàng một tấm áo khô lên lớp quần áo ướt.
Tạ An lúc bấy đang đậu trên ngọn tre ngoài miếu. Xuyên qua bức vách đổ nát thấy bóng dáng tên đào tẩu kia đang định làm gì.
Chẳng hiểu sao trong đầu y lúc này bất chợt lại vang lên mấy dòng “phi lễ vật thị, phi lễ vật thính”[1]. Y thở dài, có lẽ do ta đã lỡ nhập vai Cống sĩ quá sâu chăng? Y vừa cảm thán, vừa xoay ngược đầu ra phía sau. Đương nhiên, y cũng không có hứng thú nhìn thằng trong kia thay quần áo.
Chỉ có điều, rốt cuộc kẻ này làm thế nào mà toàn thây ra khỏi hào sâu toàn cá ăn thịt nhà Bà Chúa nhỉ?
Đang lúc nghĩ ngợi về điều ấy, Tạ An lại nghe thấy vài tiếng động khả nghi. Y phóng tầm mắt nhìn quanh, phát hiện ngoài mình ra có thêm vài người mới tới góp vui.
Tên thứ nhất ngồi trên cái cây kia. Tên thứ hai nằm trên nóc nhà. Tên thứ ba, tên thứ tư… Tạ An đếm sơ sơ cũng được đến cả chục tên. Ồ, kẻ đào tẩu này rốt cuộc là ai mà được nhiều người quan tâm chăm sóc thế nhỉ?
Kẻ đào tẩu dưới kia thay xong lớp quần áo ướt bên dưới lớp áo khô với tốc độ cực nhanh. Đoạn, chàng ta thản nhiên đánh lửa soi bản đồ, chốc chốc lại ngó ra ngoài cửa, tựa như đang đợi chờ ai đó. Nhưng Tạ An chắc đến tám phần, người mà chàng ta đợi chẳng phải tên nào trong số những tên kia.
Tạ An nghĩ ngợi một chốc, rồi thi triển thuật che mắt rồi bay xuống náu mình trên điện thờ đổ nát.
Vừa hay lúc này, nương theo ánh lửa từ trong miếu, đám người ẩn thân bắt đầu hành động.
Hà Nhật Liễu đang ung dung soi bản đồ, bỗng nghe đâu vẳng lên một tiếng sáo hiệu vô cùng dứt khoát. Gan ruột chàng như hẫng một cái. Chàng trông nhanh ra ngoài, thầm mong đó là kẻ cùng hội cùng thuyền. Nhưng chàng nhanh chóng nhận ra không phải.
Đám người đang ẩn thân nghe theo sáo hiệu, đồng loạt nhảy xuống, hướng về mục tiêu trong cái miếu hoang. Thấy đám người hùng hổ lao về phía mình, Hà Nhật Liễu cũng chẳng định chạy đi đâu, chàng tự trấn an bản thân, thôi thì ta tài hèn lực mỏng, muốn ra sao thì ra. Cùng lắm thì ta lại lên kế hoạch trốn đi lần nữa?
Nhưng khi tên đầu tiên chuẩn bị lao vào miếu, thì một luồng ánh sáng xanh lam bỗng từ phía trên bệ thờ đổ nát lao đến, gạt phăng gã ra. Đoạn, liên tiếp mấy quả cầu ánh sáng bay qua cửa sổ và bờ vách đổ, gạt phăng toàn bộ mấy tên vừa đến.
“Xâm phạm miếu của ta, xứng đáng bị trừng trị.” Một giọng nói âm vang cất lên đằng sau bệ thờ. Cả ngôi miếu đổ nát lúc này đã sáng lên ánh xanh rực rỡ.
Hà Nhật Liễu há hốc mồm, nhìn cái cảnh tượng vừa diễn ra trước mặt, chẳng hề để ý que diêm trong tay rơi xuống tự bao giờ, bắt lửa vào cái bản đồ Kẻ Hội.
“Dập lửa đi, cháy nửa Kẻ Hội rồi.” Giọng nói từ bệ thờ lại vang lên.
Hà Nhật Liễu lúc này mới giật mình nhảy lên dập lửa. Trong bụng hoảng loạn nghĩ, không sao, Kẻ Hội cháy là chuyện thường tình.
Ai dè, giọng nói từ trên bệ thờ lại vang lên, nhuốm màu quở trách:
“Mấy tháng một trận cháy nhỏ, vài năm một trận cháy to chính là vì những kẻ bất cẩn như ngươi!”
Hà Nhật Liễu nghe thấy thế liền hoàn hồn, vội vàng dập xong ngọn lửa rồi quỳ xuống hành lễ. Trong lòng thầm tự trấn an, nghĩ âu cũng là ông trời thương ta. Dù cho là quỷ hay thần đi chăng nữa thì cũng coi như là tìm được sinh cơ. Lòng lại thầm châm chọc, cảm ơn Trưởng Công chúa Điện hạ đã không phá mất cái miếu này.
Lúc bấy, đằng sau cái bệ thờ, Tạ An cảm thấy giả giọng thị uy thế là đủ, bèn lên tiếng hỏi:
“Nhà ngươi mượn miếu của ta, mau khai danh báo họ! Cớ sao lại dẫn một đám đến miếu ta phá hoại?”
Hà Nhật Liễu thấy trên trán mình đã thấm mồ hôi, vội thấm đi, vái một cái rồi cố gắng cất giọng sao cho chân chất mà thưa: “Nam mô A di đà Phật. Con là Hà Nhật Liễu. Những kẻ vừa rồi chính là kẻ đuổi theo để bắt con lại, chứ con xin thề là không hề có ý định dẫn ai đến phá miếu của ngài đâu ạ!”
Tạ An hơi nhíu mày, định nhắc nhở kẻ trước mặt rằng đây là miếu thần, không phải nhà chùa mà mở miệng “nam mô”. Tuy nhiên, y ngẫm lại bản thân trèo vào miếu nhà người ta mà giả thần cũng là láo lếu rồi, tốt nhất là bỏ qua cho lành. Đoạn y nói:
“Ta vốn tự tại, không thích chen vào chuyện người khác. Nhưng thấy linh hồn nhà ngươi coi như trong sạch, có lẽ ta sẽ trợ giúp một phen.” Tạ An vừa nói, vừa nương theo bóng trăng ngoài cửa, nhìn kẻ đang quỳ phía dưới.
Hôm nay trăng mới chỉ lưỡi liềm, nhưng y đã thấy được lờ mờ trong lồng ngực của kẻ ấy một màn sương màu trắng, lại ẩn hiện dải màu lấp lánh kim quang.
———



Bình luận
Đại Bông
Tạ Cống sĩ thì ra là một con chim thật. Dựa vào tên truyện thì anh Diên cũng là chim. Chắc mùi Tạ An ngửi được là pheromone của đồng loại quá =))
Đại Bông
Tại sao lại đem muối bỏ hồ nước mà lại không bỏ biển?
Đại Bông
Chim này khoẻ quá. Bị đè vậy vẫn sống
Đại Bông
Thuỷ quái kì dị nhập từ ngoại quốc là con gì? Cua hoàng đế?